Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
aa

Một số ngân hàng duy trì xu hướng cải thiện chất lượng tài sản

Theo thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết, trong đó ABBank mới công bố báo cáo riêng lẻ, tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 đến cuối quý I/2026 đạt khoảng 292.159 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cuối năm 2025, tương ứng tăng thêm hơn 28.000 tỷ đồng và cao hơn nhiều so với mức tăng cho vay khách hàng (3,6%).

Đáng chú ý, số ngân hàng ghi nhận nợ xấu gia tăng chiếm áp đảo, với 23/27 ngân hàng. Nhiều nơi ghi nhận nợ xấu tăng hai chữ số, thậm chí có nhà băng tăng trên 60% nợ xấu chỉ sau 1 quý, phản ánh áp lực chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao trong những tháng đầu năm.

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”
Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trong quý I/2026 đạt 233.095,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm 2025. Ảnh: An Thư

Đi ngược xu hướng nợ xấu gia tăng của toàn ngành, có 3 ngân hàng ghi nhận nợ xấu giảm ngay trong quý đầu năm 2026 và 10 nhà băng giảm quy mô nợ xấu so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ABBank giảm mạnh nhất tới 74,2%; tiếp theo là Vietcombank giảm 27,7%; VietinBank giảm 26,4%; NCB giảm 22,7%; ACB giảm 22,5% và NamABank giảm 17,4%...

Đáng chú ý, ABBank, VietinBank và NamABank là những trường hợp hiếm hoi duy trì được xu hướng cải thiện chất lượng tài sản so với cùng kỳ và thu hẹp nợ xấu so với cuối năm 2025. Quy mô nợ xấu của 3 ngân hàng này lần lượt còn 963 tỷ đồng (giảm 14,3%), 20.598 tỷ đồng (giảm 6%) và 3.653 tỷ đồng (giảm 3,5%).

Cùng với xu hướng kéo giảm nợ xấu, 3 ngân hàng trên cũng thu hẹp mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, qua đó, tạo dư địa cải thiện lợi nhuận.

Cụ thể, ABBank ghi nhận chi phí dự phòng rủi ro cho vay khách hàng ở mức 1.180 tỷ đồng, giảm mạnh 31,1% so với quý I/2025. Trong bối cảnh nợ xấu giảm 74,2% so với cùng kỳ, áp lực trích lập dự phòng cũng hạ nhiệt đáng kể.

Tương tự, NamABank giảm chi phí dự phòng xuống còn khoảng 2.062 tỷ đồng, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này đồng pha với xu hướng nợ xấu giảm 17,4%, phản ánh chất lượng tài sản được cải thiện.

Tại VietinBank, chi phí dự phòng rủi ro cho vay khách hàng còn khoảng 34.436 tỷ đồng, giảm 1,1% so với cuối năm 2025 và giảm 10% so với cùng kỳ. Trong khi đó, nợ xấu của ngân hàng này cũng giảm 6% so với cuối năm và giảm 26,4% so với quý I/2025.

Nỗ lực giữ nợ xấu ở nhóm thấp, tăng tốc thu hồi nợ đọng

Tỷ lệ nợ xấu năm 2025 của ABBank đạt 0,5%, kéo giảm mạnh từ mức 2,48% của năm 2024, thấp hơn đáng kể so với mức quy định của Ngân hàng Nhà nước và thuộc nhóm thấp nhất toàn ngành. Mục tiêu năm 2026 của ngân hàng này là tiếp tục kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.

Tại Đại hội đồng cổ đông, Tổng Giám đốc ABBank Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, đây là mục tiêu sống còn của ngân hàng. Về tư duy xử lý nợ xấu, ông Hùng chia sẻ, cổ đông lớn Maybank (Malaysia) từng nhấn mạnh, xử lý nợ xấu phải dựa trên tinh thần đồng hành và đồng cảm với khó khăn của khách hàng. Nếu khách hàng tốt, nhưng gặp khó khăn do yếu tố khách quan, thì ngân hàng cần chia sẻ, trên cơ sở tuân thủ đúng quy định pháp luật. Khi đó, khách hàng tốt lên thì ngân hàng cũng tốt lên.

“Năm 2026, xử lý nợ xấu vẫn là nhiệm vụ trọng tâm và chúng tôi vẫn ưu tiên toàn bộ nguồn lực” - Tổng Giám đốc ABBank khẳng định.

Chất lượng tài sản của ACB cũng thuộc nhóm tốt hàng đầu ngành, với tỷ lệ nợ xấu ở mức 0,97%. Ngân hàng này cũng chủ động tăng cường trích lập dự phòng để nâng khả năng chống chịu rủi ro cho năm 2026.

Ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho biết, thời gian qua, ngân hàng có bước đi mạnh mẽ trong kiểm soát tăng trưởng tín dụng. Đặt mục tiêu phát triển bền vững lên hàng đầu, nên nhiều năm qua, ACB không chạy theo tăng trưởng tín dụng quá cao như một số ngân hàng lớn, song vẫn duy trì tốc độ tăng cao hơn bình quân toàn hệ thống. Ngân hàng cũng giữ tỷ lệ nợ xấu thấp, để đảm bảo an toàn trong trung dài hạn.

Trích lập dự phòng lớn để phòng vệ trước biến động thị trường

“Trước mắt, chúng tôi vẫn sẽ duy trì mức trích lập dự phòng cao, nhằm tuân thủ chiến lược quản trị rủi ro thận trọng và gia tăng nguồn lực đảm bảo an toàn tài chính và giúp ngân hàng chủ động phòng vệ trước những biến động khó kiểm soát của thị trường. Bên cạnh việc tăng cường trích lập dự phòng, ngân hàng cũng sẽ tập trung nâng cao chất lượng tài sản. Khi chất lượng tài sản được cải thiện tốt hơn, chúng ta có thể tự tin giảm dần mức trích lập dự phòng. Khi đó, ngân hàng sẽ lạc quan hơn về khả năng tăng trưởng lợi nhuận”.

Ông Phan Trọng Tuệ - Thành viên Hội đồng Quản trị Sacombank

Tại Sacombank, tỷ lệ nợ xấu nội bảng năm 2024 được kiểm soát tốt ở mức 2,08%. Sau khi tăng lên trên 5% trong năm 2025, ngân hàng đặt mục tiêu kéo tỷ lệ này giảm xuống dưới 4,5% trong năm 2026, nhờ đẩy mạnh xử lý tồn đọng và nâng cao chất lượng tài sản.

Lý giải nguyên nhân nợ xấu tăng mạnh trong năm 2025, ông Phan Trọng Tuệ - Thành viên Hội đồng Quản trị Sacombank cho biết, việc Mỹ công bố các chính sách thuế đối ứng mới với các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trong nước cũng như các doanh nghiệp, trong đó có khách hàng của Sacombank. Đặc biệt, nhóm khách hàng vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn, thách thức, hoạt động sản xuất, kinh doanh có dấu hiệu suy giảm nên phát sinh nợ quá hạn.

“Quá trình xử lý các khoản nợ xấu và nợ quá hạn cũng có những vấn đề khó khăn, vướng mắc liên quan đến pháp lý, nên thời gian xử lý kéo dài. Chúng tôi muốn giảm tỷ lệ nợ xấu xuống nhanh, nhưng nhiều khi cũng không được theo ý muốn. Mặt khác, khối lượng hồ sơ cũng còn rất lớn” - lãnh đạo Sacombank bày tỏ.

Về khả năng thu hồi nợ, đại diện Sacombank cho biết, phần lớn các khoản nợ xấu của ngân hàng đều có tài sản bảo đảm và theo đánh giá, giá trị tài sản đủ để bù đắp nghĩa vụ nợ của khách hàng. Do đó, khả năng thu hồi vốn được đánh giá ở mức cao. Tuy nhiên, tiến độ xử lý còn phụ thuộc vào diễn biến thị trường, bởi phần lớn tài sản bảo đảm hiện nay là bất động sản.

Mạnh tay trích lập dự phòng, nâng sức chống chịu rủi ro

Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trong quý I/2026 đạt 233.095,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm 2025, song vẫn thấp hơn tốc độ tăng của nợ xấu trong cùng kỳ là 10,6%. Đáng chú ý, nhiều ngân hàng đã chủ động gia tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong quý I nhằm củng cố bộ đệm tài chính, nâng cao khả năng chống chịu trước rủi ro nợ xấu gia tăng và cải thiện chất lượng tài sản.

Theo đó, Sacombank là ngân hàng có mức tăng mạnh nhất so với cùng kỳ khi chi phí dự phòng đạt 22.082,1 tỷ đồng, tăng tới 109%. Tiếp theo là OCB với mức dự phòng 4.000,3 tỷ đồng, tăng 66,9%; HDBank đạt 7.817,6 tỷ đồng, tăng 38,7%. Một số nhà băng cũng tăng dự phòng khá cao như: VietABank tăng 33,2% lên 1.072,7 tỷ đồng, MB tăng 33,1% lên 14.710,3 tỷ đồng.

Xét về tỷ lệ bao phủ nợ xấu, chỉ tiêu phản ánh khả năng dùng dự phòng rủi ro để bù đắp và xử lý các khoản nợ xấu, đến cuối quý I/2026 có 5 ngân hàng duy trì tỷ lệ trên 100%. Trong đó, Vietcombank tiếp tục dẫn đầu với tỷ lệ 253,4%, tiếp theo là VietinBank đạt 167,2%. Techcombank, ABBank và ACB cũng nằm trong nhóm có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao, cho thấy sự chủ động củng cố bộ đệm rủi ro tín dụng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 ▼30K 14,380 ▼30K
Trang sức 99.99 13,790 ▼30K 14,390 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,863 25,913 26,250
USD20 25,813 25,913 26,794
USD1 25,763 25,913 26,844
AUD 18,051 18,151 19,255
EUR 29,343 29,443 31,101
CAD 18,260 18,360 19,664
SGD 20,032 20,182 20,736
JPY 160.33 161.83 167.38
GBP 34,519 34,669 35,850
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80