Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
aa

Một số ngân hàng duy trì xu hướng cải thiện chất lượng tài sản

Theo thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết, trong đó ABBank mới công bố báo cáo riêng lẻ, tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 đến cuối quý I/2026 đạt khoảng 292.159 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cuối năm 2025, tương ứng tăng thêm hơn 28.000 tỷ đồng và cao hơn nhiều so với mức tăng cho vay khách hàng (3,6%).

Đáng chú ý, số ngân hàng ghi nhận nợ xấu gia tăng chiếm áp đảo, với 23/27 ngân hàng. Nhiều nơi ghi nhận nợ xấu tăng hai chữ số, thậm chí có nhà băng tăng trên 60% nợ xấu chỉ sau 1 quý, phản ánh áp lực chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao trong những tháng đầu năm.

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”
Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trong quý I/2026 đạt 233.095,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm 2025. Ảnh: An Thư

Đi ngược xu hướng nợ xấu gia tăng của toàn ngành, có 3 ngân hàng ghi nhận nợ xấu giảm ngay trong quý đầu năm 2026 và 10 nhà băng giảm quy mô nợ xấu so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ABBank giảm mạnh nhất tới 74,2%; tiếp theo là Vietcombank giảm 27,7%; VietinBank giảm 26,4%; NCB giảm 22,7%; ACB giảm 22,5% và NamABank giảm 17,4%...

Đáng chú ý, ABBank, VietinBank và NamABank là những trường hợp hiếm hoi duy trì được xu hướng cải thiện chất lượng tài sản so với cùng kỳ và thu hẹp nợ xấu so với cuối năm 2025. Quy mô nợ xấu của 3 ngân hàng này lần lượt còn 963 tỷ đồng (giảm 14,3%), 20.598 tỷ đồng (giảm 6%) và 3.653 tỷ đồng (giảm 3,5%).

Cùng với xu hướng kéo giảm nợ xấu, 3 ngân hàng trên cũng thu hẹp mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, qua đó, tạo dư địa cải thiện lợi nhuận.

Cụ thể, ABBank ghi nhận chi phí dự phòng rủi ro cho vay khách hàng ở mức 1.180 tỷ đồng, giảm mạnh 31,1% so với quý I/2025. Trong bối cảnh nợ xấu giảm 74,2% so với cùng kỳ, áp lực trích lập dự phòng cũng hạ nhiệt đáng kể.

Tương tự, NamABank giảm chi phí dự phòng xuống còn khoảng 2.062 tỷ đồng, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này đồng pha với xu hướng nợ xấu giảm 17,4%, phản ánh chất lượng tài sản được cải thiện.

Tại VietinBank, chi phí dự phòng rủi ro cho vay khách hàng còn khoảng 34.436 tỷ đồng, giảm 1,1% so với cuối năm 2025 và giảm 10% so với cùng kỳ. Trong khi đó, nợ xấu của ngân hàng này cũng giảm 6% so với cuối năm và giảm 26,4% so với quý I/2025.

Nỗ lực giữ nợ xấu ở nhóm thấp, tăng tốc thu hồi nợ đọng

Tỷ lệ nợ xấu năm 2025 của ABBank đạt 0,5%, kéo giảm mạnh từ mức 2,48% của năm 2024, thấp hơn đáng kể so với mức quy định của Ngân hàng Nhà nước và thuộc nhóm thấp nhất toàn ngành. Mục tiêu năm 2026 của ngân hàng này là tiếp tục kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.

Tại Đại hội đồng cổ đông, Tổng Giám đốc ABBank Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, đây là mục tiêu sống còn của ngân hàng. Về tư duy xử lý nợ xấu, ông Hùng chia sẻ, cổ đông lớn Maybank (Malaysia) từng nhấn mạnh, xử lý nợ xấu phải dựa trên tinh thần đồng hành và đồng cảm với khó khăn của khách hàng. Nếu khách hàng tốt, nhưng gặp khó khăn do yếu tố khách quan, thì ngân hàng cần chia sẻ, trên cơ sở tuân thủ đúng quy định pháp luật. Khi đó, khách hàng tốt lên thì ngân hàng cũng tốt lên.

“Năm 2026, xử lý nợ xấu vẫn là nhiệm vụ trọng tâm và chúng tôi vẫn ưu tiên toàn bộ nguồn lực” - Tổng Giám đốc ABBank khẳng định.

Chất lượng tài sản của ACB cũng thuộc nhóm tốt hàng đầu ngành, với tỷ lệ nợ xấu ở mức 0,97%. Ngân hàng này cũng chủ động tăng cường trích lập dự phòng để nâng khả năng chống chịu rủi ro cho năm 2026.

Ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho biết, thời gian qua, ngân hàng có bước đi mạnh mẽ trong kiểm soát tăng trưởng tín dụng. Đặt mục tiêu phát triển bền vững lên hàng đầu, nên nhiều năm qua, ACB không chạy theo tăng trưởng tín dụng quá cao như một số ngân hàng lớn, song vẫn duy trì tốc độ tăng cao hơn bình quân toàn hệ thống. Ngân hàng cũng giữ tỷ lệ nợ xấu thấp, để đảm bảo an toàn trong trung dài hạn.

Trích lập dự phòng lớn để phòng vệ trước biến động thị trường

“Trước mắt, chúng tôi vẫn sẽ duy trì mức trích lập dự phòng cao, nhằm tuân thủ chiến lược quản trị rủi ro thận trọng và gia tăng nguồn lực đảm bảo an toàn tài chính và giúp ngân hàng chủ động phòng vệ trước những biến động khó kiểm soát của thị trường. Bên cạnh việc tăng cường trích lập dự phòng, ngân hàng cũng sẽ tập trung nâng cao chất lượng tài sản. Khi chất lượng tài sản được cải thiện tốt hơn, chúng ta có thể tự tin giảm dần mức trích lập dự phòng. Khi đó, ngân hàng sẽ lạc quan hơn về khả năng tăng trưởng lợi nhuận”.

Ông Phan Trọng Tuệ - Thành viên Hội đồng Quản trị Sacombank

Tại Sacombank, tỷ lệ nợ xấu nội bảng năm 2024 được kiểm soát tốt ở mức 2,08%. Sau khi tăng lên trên 5% trong năm 2025, ngân hàng đặt mục tiêu kéo tỷ lệ này giảm xuống dưới 4,5% trong năm 2026, nhờ đẩy mạnh xử lý tồn đọng và nâng cao chất lượng tài sản.

Lý giải nguyên nhân nợ xấu tăng mạnh trong năm 2025, ông Phan Trọng Tuệ - Thành viên Hội đồng Quản trị Sacombank cho biết, việc Mỹ công bố các chính sách thuế đối ứng mới với các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trong nước cũng như các doanh nghiệp, trong đó có khách hàng của Sacombank. Đặc biệt, nhóm khách hàng vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn, thách thức, hoạt động sản xuất, kinh doanh có dấu hiệu suy giảm nên phát sinh nợ quá hạn.

“Quá trình xử lý các khoản nợ xấu và nợ quá hạn cũng có những vấn đề khó khăn, vướng mắc liên quan đến pháp lý, nên thời gian xử lý kéo dài. Chúng tôi muốn giảm tỷ lệ nợ xấu xuống nhanh, nhưng nhiều khi cũng không được theo ý muốn. Mặt khác, khối lượng hồ sơ cũng còn rất lớn” - lãnh đạo Sacombank bày tỏ.

Về khả năng thu hồi nợ, đại diện Sacombank cho biết, phần lớn các khoản nợ xấu của ngân hàng đều có tài sản bảo đảm và theo đánh giá, giá trị tài sản đủ để bù đắp nghĩa vụ nợ của khách hàng. Do đó, khả năng thu hồi vốn được đánh giá ở mức cao. Tuy nhiên, tiến độ xử lý còn phụ thuộc vào diễn biến thị trường, bởi phần lớn tài sản bảo đảm hiện nay là bất động sản.

Mạnh tay trích lập dự phòng, nâng sức chống chịu rủi ro

Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trong quý I/2026 đạt 233.095,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm 2025, song vẫn thấp hơn tốc độ tăng của nợ xấu trong cùng kỳ là 10,6%. Đáng chú ý, nhiều ngân hàng đã chủ động gia tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong quý I nhằm củng cố bộ đệm tài chính, nâng cao khả năng chống chịu trước rủi ro nợ xấu gia tăng và cải thiện chất lượng tài sản.

Theo đó, Sacombank là ngân hàng có mức tăng mạnh nhất so với cùng kỳ khi chi phí dự phòng đạt 22.082,1 tỷ đồng, tăng tới 109%. Tiếp theo là OCB với mức dự phòng 4.000,3 tỷ đồng, tăng 66,9%; HDBank đạt 7.817,6 tỷ đồng, tăng 38,7%. Một số nhà băng cũng tăng dự phòng khá cao như: VietABank tăng 33,2% lên 1.072,7 tỷ đồng, MB tăng 33,1% lên 14.710,3 tỷ đồng.

Xét về tỷ lệ bao phủ nợ xấu, chỉ tiêu phản ánh khả năng dùng dự phòng rủi ro để bù đắp và xử lý các khoản nợ xấu, đến cuối quý I/2026 có 5 ngân hàng duy trì tỷ lệ trên 100%. Trong đó, Vietcombank tiếp tục dẫn đầu với tỷ lệ 253,4%, tiếp theo là VietinBank đạt 167,2%. Techcombank, ABBank và ACB cũng nằm trong nhóm có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao, cho thấy sự chủ động củng cố bộ đệm rủi ro tín dụng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce sau khi giảm hơn 100 USD/ounce so với phiên trước, kéo chênh lệch với giá vàng trong nước lên 20 triệu đồng/lượng.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,150 ▲50K 13,350 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 13,100 ▲50K 13,300 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 ▼50K 14,150 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 ▼50K 14,100 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 ▼50K 14,080 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Hà Nội - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Đà Nẵng - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Miền Tây - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Tây Nguyên - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲150K 14,700 ▲80K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲150K 14,700 ▲80K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲150K 14,700 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲100K 14,650 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲100K 14,650 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲100K 14,650 ▲100K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 ▲100K 14,540 ▲100K
Trang sức 99.99 13,850 ▲100K 14,550 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1288K 14,702 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1288K 14,703 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 ▲8K 1,469 ▲8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 ▲8K 147 ▼1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▲8K 1,454 ▲8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 ▼122472K 14,396 ▼128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 ▲600K 109,211 ▲600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 ▲544K 99,032 ▲544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 ▲488K 88,853 ▲488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 ▲67931K 84,927 ▲76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 ▲334K 60,788 ▲334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Cập nhật: 26/06/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17887 18461
CAD 18010 18285 18899
CHF 31887 32268 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33959 34348 35282
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14555 15138
SGD 19785 20067 20641
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/06/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80