Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
aa

Một số ngân hàng duy trì xu hướng cải thiện chất lượng tài sản

Theo thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết, trong đó ABBank mới công bố báo cáo riêng lẻ, tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 đến cuối quý I/2026 đạt khoảng 292.159 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cuối năm 2025, tương ứng tăng thêm hơn 28.000 tỷ đồng và cao hơn nhiều so với mức tăng cho vay khách hàng (3,6%).

Đáng chú ý, số ngân hàng ghi nhận nợ xấu gia tăng chiếm áp đảo, với 23/27 ngân hàng. Nhiều nơi ghi nhận nợ xấu tăng hai chữ số, thậm chí có nhà băng tăng trên 60% nợ xấu chỉ sau 1 quý, phản ánh áp lực chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao trong những tháng đầu năm.

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”
Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trong quý I/2026 đạt 233.095,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm 2025. Ảnh: An Thư

Đi ngược xu hướng nợ xấu gia tăng của toàn ngành, có 3 ngân hàng ghi nhận nợ xấu giảm ngay trong quý đầu năm 2026 và 10 nhà băng giảm quy mô nợ xấu so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ABBank giảm mạnh nhất tới 74,2%; tiếp theo là Vietcombank giảm 27,7%; VietinBank giảm 26,4%; NCB giảm 22,7%; ACB giảm 22,5% và NamABank giảm 17,4%...

Đáng chú ý, ABBank, VietinBank và NamABank là những trường hợp hiếm hoi duy trì được xu hướng cải thiện chất lượng tài sản so với cùng kỳ và thu hẹp nợ xấu so với cuối năm 2025. Quy mô nợ xấu của 3 ngân hàng này lần lượt còn 963 tỷ đồng (giảm 14,3%), 20.598 tỷ đồng (giảm 6%) và 3.653 tỷ đồng (giảm 3,5%).

Cùng với xu hướng kéo giảm nợ xấu, 3 ngân hàng trên cũng thu hẹp mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, qua đó, tạo dư địa cải thiện lợi nhuận.

Cụ thể, ABBank ghi nhận chi phí dự phòng rủi ro cho vay khách hàng ở mức 1.180 tỷ đồng, giảm mạnh 31,1% so với quý I/2025. Trong bối cảnh nợ xấu giảm 74,2% so với cùng kỳ, áp lực trích lập dự phòng cũng hạ nhiệt đáng kể.

Tương tự, NamABank giảm chi phí dự phòng xuống còn khoảng 2.062 tỷ đồng, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này đồng pha với xu hướng nợ xấu giảm 17,4%, phản ánh chất lượng tài sản được cải thiện.

Tại VietinBank, chi phí dự phòng rủi ro cho vay khách hàng còn khoảng 34.436 tỷ đồng, giảm 1,1% so với cuối năm 2025 và giảm 10% so với cùng kỳ. Trong khi đó, nợ xấu của ngân hàng này cũng giảm 6% so với cuối năm và giảm 26,4% so với quý I/2025.

Nỗ lực giữ nợ xấu ở nhóm thấp, tăng tốc thu hồi nợ đọng

Tỷ lệ nợ xấu năm 2025 của ABBank đạt 0,5%, kéo giảm mạnh từ mức 2,48% của năm 2024, thấp hơn đáng kể so với mức quy định của Ngân hàng Nhà nước và thuộc nhóm thấp nhất toàn ngành. Mục tiêu năm 2026 của ngân hàng này là tiếp tục kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.

Tại Đại hội đồng cổ đông, Tổng Giám đốc ABBank Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, đây là mục tiêu sống còn của ngân hàng. Về tư duy xử lý nợ xấu, ông Hùng chia sẻ, cổ đông lớn Maybank (Malaysia) từng nhấn mạnh, xử lý nợ xấu phải dựa trên tinh thần đồng hành và đồng cảm với khó khăn của khách hàng. Nếu khách hàng tốt, nhưng gặp khó khăn do yếu tố khách quan, thì ngân hàng cần chia sẻ, trên cơ sở tuân thủ đúng quy định pháp luật. Khi đó, khách hàng tốt lên thì ngân hàng cũng tốt lên.

“Năm 2026, xử lý nợ xấu vẫn là nhiệm vụ trọng tâm và chúng tôi vẫn ưu tiên toàn bộ nguồn lực” - Tổng Giám đốc ABBank khẳng định.

Chất lượng tài sản của ACB cũng thuộc nhóm tốt hàng đầu ngành, với tỷ lệ nợ xấu ở mức 0,97%. Ngân hàng này cũng chủ động tăng cường trích lập dự phòng để nâng khả năng chống chịu rủi ro cho năm 2026.

Ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho biết, thời gian qua, ngân hàng có bước đi mạnh mẽ trong kiểm soát tăng trưởng tín dụng. Đặt mục tiêu phát triển bền vững lên hàng đầu, nên nhiều năm qua, ACB không chạy theo tăng trưởng tín dụng quá cao như một số ngân hàng lớn, song vẫn duy trì tốc độ tăng cao hơn bình quân toàn hệ thống. Ngân hàng cũng giữ tỷ lệ nợ xấu thấp, để đảm bảo an toàn trong trung dài hạn.

Trích lập dự phòng lớn để phòng vệ trước biến động thị trường

“Trước mắt, chúng tôi vẫn sẽ duy trì mức trích lập dự phòng cao, nhằm tuân thủ chiến lược quản trị rủi ro thận trọng và gia tăng nguồn lực đảm bảo an toàn tài chính và giúp ngân hàng chủ động phòng vệ trước những biến động khó kiểm soát của thị trường. Bên cạnh việc tăng cường trích lập dự phòng, ngân hàng cũng sẽ tập trung nâng cao chất lượng tài sản. Khi chất lượng tài sản được cải thiện tốt hơn, chúng ta có thể tự tin giảm dần mức trích lập dự phòng. Khi đó, ngân hàng sẽ lạc quan hơn về khả năng tăng trưởng lợi nhuận”.

Ông Phan Trọng Tuệ - Thành viên Hội đồng Quản trị Sacombank

Tại Sacombank, tỷ lệ nợ xấu nội bảng năm 2024 được kiểm soát tốt ở mức 2,08%. Sau khi tăng lên trên 5% trong năm 2025, ngân hàng đặt mục tiêu kéo tỷ lệ này giảm xuống dưới 4,5% trong năm 2026, nhờ đẩy mạnh xử lý tồn đọng và nâng cao chất lượng tài sản.

Lý giải nguyên nhân nợ xấu tăng mạnh trong năm 2025, ông Phan Trọng Tuệ - Thành viên Hội đồng Quản trị Sacombank cho biết, việc Mỹ công bố các chính sách thuế đối ứng mới với các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trong nước cũng như các doanh nghiệp, trong đó có khách hàng của Sacombank. Đặc biệt, nhóm khách hàng vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn, thách thức, hoạt động sản xuất, kinh doanh có dấu hiệu suy giảm nên phát sinh nợ quá hạn.

“Quá trình xử lý các khoản nợ xấu và nợ quá hạn cũng có những vấn đề khó khăn, vướng mắc liên quan đến pháp lý, nên thời gian xử lý kéo dài. Chúng tôi muốn giảm tỷ lệ nợ xấu xuống nhanh, nhưng nhiều khi cũng không được theo ý muốn. Mặt khác, khối lượng hồ sơ cũng còn rất lớn” - lãnh đạo Sacombank bày tỏ.

Về khả năng thu hồi nợ, đại diện Sacombank cho biết, phần lớn các khoản nợ xấu của ngân hàng đều có tài sản bảo đảm và theo đánh giá, giá trị tài sản đủ để bù đắp nghĩa vụ nợ của khách hàng. Do đó, khả năng thu hồi vốn được đánh giá ở mức cao. Tuy nhiên, tiến độ xử lý còn phụ thuộc vào diễn biến thị trường, bởi phần lớn tài sản bảo đảm hiện nay là bất động sản.

Mạnh tay trích lập dự phòng, nâng sức chống chịu rủi ro

Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trong quý I/2026 đạt 233.095,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm 2025, song vẫn thấp hơn tốc độ tăng của nợ xấu trong cùng kỳ là 10,6%. Đáng chú ý, nhiều ngân hàng đã chủ động gia tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong quý I nhằm củng cố bộ đệm tài chính, nâng cao khả năng chống chịu trước rủi ro nợ xấu gia tăng và cải thiện chất lượng tài sản.

Theo đó, Sacombank là ngân hàng có mức tăng mạnh nhất so với cùng kỳ khi chi phí dự phòng đạt 22.082,1 tỷ đồng, tăng tới 109%. Tiếp theo là OCB với mức dự phòng 4.000,3 tỷ đồng, tăng 66,9%; HDBank đạt 7.817,6 tỷ đồng, tăng 38,7%. Một số nhà băng cũng tăng dự phòng khá cao như: VietABank tăng 33,2% lên 1.072,7 tỷ đồng, MB tăng 33,1% lên 14.710,3 tỷ đồng.

Xét về tỷ lệ bao phủ nợ xấu, chỉ tiêu phản ánh khả năng dùng dự phòng rủi ro để bù đắp và xử lý các khoản nợ xấu, đến cuối quý I/2026 có 5 ngân hàng duy trì tỷ lệ trên 100%. Trong đó, Vietcombank tiếp tục dẫn đầu với tỷ lệ 253,4%, tiếp theo là VietinBank đạt 167,2%. Techcombank, ABBank và ACB cũng nằm trong nhóm có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao, cho thấy sự chủ động củng cố bộ đệm rủi ro tín dụng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

(TBTCO) - Sacombank vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Đáng chú ý, cả hai lãnh đạo này trước đó đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc tại LPBank.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 16,520
Kim TT/AVPL 16,220 16,520
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 16,520
Nguyên Liệu 99.99 15,240 15,440
Nguyên Liệu 99.9 15,190 15,390
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 16,420
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 16,370
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 16,350
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 165,000 ▲2800K 165,200
Hà Nội - PNJ 165,000 ▲2800K 165,200
Đà Nẵng - PNJ 165,000 ▲2800K 165,200
Miền Tây - PNJ 165,000 ▲2800K 165,200
Tây Nguyên - PNJ 165,000 ▲2800K 165,200
Đông Nam Bộ - PNJ 165,000 ▲2800K 165,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,890 ▲180K 16,590 ▲180K
Trang sức 99.99 15,900 ▲180K 16,600 ▲180K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 16,522
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 16,523
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 1,647
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 1,648
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cập nhật: 12/05/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80