Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
aa

Một số ngân hàng duy trì xu hướng cải thiện chất lượng tài sản

Theo thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết, trong đó ABBank mới công bố báo cáo riêng lẻ, tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 đến cuối quý I/2026 đạt khoảng 292.159 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cuối năm 2025, tương ứng tăng thêm hơn 28.000 tỷ đồng và cao hơn nhiều so với mức tăng cho vay khách hàng (3,6%).

Đáng chú ý, số ngân hàng ghi nhận nợ xấu gia tăng chiếm áp đảo, với 23/27 ngân hàng. Nhiều nơi ghi nhận nợ xấu tăng hai chữ số, thậm chí có nhà băng tăng trên 60% nợ xấu chỉ sau 1 quý, phản ánh áp lực chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao trong những tháng đầu năm.

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”
Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trong quý I/2026 đạt 233.095,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm 2025. Ảnh: An Thư

Đi ngược xu hướng nợ xấu gia tăng của toàn ngành, có 3 ngân hàng ghi nhận nợ xấu giảm ngay trong quý đầu năm 2026 và 10 nhà băng giảm quy mô nợ xấu so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ABBank giảm mạnh nhất tới 74,2%; tiếp theo là Vietcombank giảm 27,7%; VietinBank giảm 26,4%; NCB giảm 22,7%; ACB giảm 22,5% và NamABank giảm 17,4%...

Đáng chú ý, ABBank, VietinBank và NamABank là những trường hợp hiếm hoi duy trì được xu hướng cải thiện chất lượng tài sản so với cùng kỳ và thu hẹp nợ xấu so với cuối năm 2025. Quy mô nợ xấu của 3 ngân hàng này lần lượt còn 963 tỷ đồng (giảm 14,3%), 20.598 tỷ đồng (giảm 6%) và 3.653 tỷ đồng (giảm 3,5%).

Cùng với xu hướng kéo giảm nợ xấu, 3 ngân hàng trên cũng thu hẹp mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, qua đó, tạo dư địa cải thiện lợi nhuận.

Cụ thể, ABBank ghi nhận chi phí dự phòng rủi ro cho vay khách hàng ở mức 1.180 tỷ đồng, giảm mạnh 31,1% so với quý I/2025. Trong bối cảnh nợ xấu giảm 74,2% so với cùng kỳ, áp lực trích lập dự phòng cũng hạ nhiệt đáng kể.

Tương tự, NamABank giảm chi phí dự phòng xuống còn khoảng 2.062 tỷ đồng, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này đồng pha với xu hướng nợ xấu giảm 17,4%, phản ánh chất lượng tài sản được cải thiện.

Tại VietinBank, chi phí dự phòng rủi ro cho vay khách hàng còn khoảng 34.436 tỷ đồng, giảm 1,1% so với cuối năm 2025 và giảm 10% so với cùng kỳ. Trong khi đó, nợ xấu của ngân hàng này cũng giảm 6% so với cuối năm và giảm 26,4% so với quý I/2025.

Nỗ lực giữ nợ xấu ở nhóm thấp, tăng tốc thu hồi nợ đọng

Tỷ lệ nợ xấu năm 2025 của ABBank đạt 0,5%, kéo giảm mạnh từ mức 2,48% của năm 2024, thấp hơn đáng kể so với mức quy định của Ngân hàng Nhà nước và thuộc nhóm thấp nhất toàn ngành. Mục tiêu năm 2026 của ngân hàng này là tiếp tục kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5%.

Tại Đại hội đồng cổ đông, Tổng Giám đốc ABBank Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh, đây là mục tiêu sống còn của ngân hàng. Về tư duy xử lý nợ xấu, ông Hùng chia sẻ, cổ đông lớn Maybank (Malaysia) từng nhấn mạnh, xử lý nợ xấu phải dựa trên tinh thần đồng hành và đồng cảm với khó khăn của khách hàng. Nếu khách hàng tốt, nhưng gặp khó khăn do yếu tố khách quan, thì ngân hàng cần chia sẻ, trên cơ sở tuân thủ đúng quy định pháp luật. Khi đó, khách hàng tốt lên thì ngân hàng cũng tốt lên.

“Năm 2026, xử lý nợ xấu vẫn là nhiệm vụ trọng tâm và chúng tôi vẫn ưu tiên toàn bộ nguồn lực” - Tổng Giám đốc ABBank khẳng định.

Chất lượng tài sản của ACB cũng thuộc nhóm tốt hàng đầu ngành, với tỷ lệ nợ xấu ở mức 0,97%. Ngân hàng này cũng chủ động tăng cường trích lập dự phòng để nâng khả năng chống chịu rủi ro cho năm 2026.

Ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho biết, thời gian qua, ngân hàng có bước đi mạnh mẽ trong kiểm soát tăng trưởng tín dụng. Đặt mục tiêu phát triển bền vững lên hàng đầu, nên nhiều năm qua, ACB không chạy theo tăng trưởng tín dụng quá cao như một số ngân hàng lớn, song vẫn duy trì tốc độ tăng cao hơn bình quân toàn hệ thống. Ngân hàng cũng giữ tỷ lệ nợ xấu thấp, để đảm bảo an toàn trong trung dài hạn.

Trích lập dự phòng lớn để phòng vệ trước biến động thị trường

“Trước mắt, chúng tôi vẫn sẽ duy trì mức trích lập dự phòng cao, nhằm tuân thủ chiến lược quản trị rủi ro thận trọng và gia tăng nguồn lực đảm bảo an toàn tài chính và giúp ngân hàng chủ động phòng vệ trước những biến động khó kiểm soát của thị trường. Bên cạnh việc tăng cường trích lập dự phòng, ngân hàng cũng sẽ tập trung nâng cao chất lượng tài sản. Khi chất lượng tài sản được cải thiện tốt hơn, chúng ta có thể tự tin giảm dần mức trích lập dự phòng. Khi đó, ngân hàng sẽ lạc quan hơn về khả năng tăng trưởng lợi nhuận”.

Ông Phan Trọng Tuệ - Thành viên Hội đồng Quản trị Sacombank

Tại Sacombank, tỷ lệ nợ xấu nội bảng năm 2024 được kiểm soát tốt ở mức 2,08%. Sau khi tăng lên trên 5% trong năm 2025, ngân hàng đặt mục tiêu kéo tỷ lệ này giảm xuống dưới 4,5% trong năm 2026, nhờ đẩy mạnh xử lý tồn đọng và nâng cao chất lượng tài sản.

Lý giải nguyên nhân nợ xấu tăng mạnh trong năm 2025, ông Phan Trọng Tuệ - Thành viên Hội đồng Quản trị Sacombank cho biết, việc Mỹ công bố các chính sách thuế đối ứng mới với các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trong nước cũng như các doanh nghiệp, trong đó có khách hàng của Sacombank. Đặc biệt, nhóm khách hàng vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn, thách thức, hoạt động sản xuất, kinh doanh có dấu hiệu suy giảm nên phát sinh nợ quá hạn.

“Quá trình xử lý các khoản nợ xấu và nợ quá hạn cũng có những vấn đề khó khăn, vướng mắc liên quan đến pháp lý, nên thời gian xử lý kéo dài. Chúng tôi muốn giảm tỷ lệ nợ xấu xuống nhanh, nhưng nhiều khi cũng không được theo ý muốn. Mặt khác, khối lượng hồ sơ cũng còn rất lớn” - lãnh đạo Sacombank bày tỏ.

Về khả năng thu hồi nợ, đại diện Sacombank cho biết, phần lớn các khoản nợ xấu của ngân hàng đều có tài sản bảo đảm và theo đánh giá, giá trị tài sản đủ để bù đắp nghĩa vụ nợ của khách hàng. Do đó, khả năng thu hồi vốn được đánh giá ở mức cao. Tuy nhiên, tiến độ xử lý còn phụ thuộc vào diễn biến thị trường, bởi phần lớn tài sản bảo đảm hiện nay là bất động sản.

Mạnh tay trích lập dự phòng, nâng sức chống chịu rủi ro

Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trong quý I/2026 đạt 233.095,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm 2025, song vẫn thấp hơn tốc độ tăng của nợ xấu trong cùng kỳ là 10,6%. Đáng chú ý, nhiều ngân hàng đã chủ động gia tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong quý I nhằm củng cố bộ đệm tài chính, nâng cao khả năng chống chịu trước rủi ro nợ xấu gia tăng và cải thiện chất lượng tài sản.

Theo đó, Sacombank là ngân hàng có mức tăng mạnh nhất so với cùng kỳ khi chi phí dự phòng đạt 22.082,1 tỷ đồng, tăng tới 109%. Tiếp theo là OCB với mức dự phòng 4.000,3 tỷ đồng, tăng 66,9%; HDBank đạt 7.817,6 tỷ đồng, tăng 38,7%. Một số nhà băng cũng tăng dự phòng khá cao như: VietABank tăng 33,2% lên 1.072,7 tỷ đồng, MB tăng 33,1% lên 14.710,3 tỷ đồng.

Xét về tỷ lệ bao phủ nợ xấu, chỉ tiêu phản ánh khả năng dùng dự phòng rủi ro để bù đắp và xử lý các khoản nợ xấu, đến cuối quý I/2026 có 5 ngân hàng duy trì tỷ lệ trên 100%. Trong đó, Vietcombank tiếp tục dẫn đầu với tỷ lệ 253,4%, tiếp theo là VietinBank đạt 167,2%. Techcombank, ABBank và ACB cũng nằm trong nhóm có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao, cho thấy sự chủ động củng cố bộ đệm rủi ro tín dụng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 32 USD/ounce, xuống 4.140,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng bán ra đồng loạt giảm 200.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tăng tại DOJI, Bảo Tín Minh Châu nhưng giảm tại PNJ và SJC.
Tỷ giá USD hôm nay (3/10): USD biến động hẹp, việc làm Mỹ suy yếu khiến Fed khó tăng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (3/10): USD biến động hẹp, việc làm Mỹ suy yếu khiến Fed khó tăng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 3/10, tỷ giá trung tâm tăng 12 đồng lên 25.636 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,91 điểm, tăng 0,93% dù hạ nhiệt phiên cuối tuần. Dữ liệu PCE và việc làm Mỹ suy yếu kéo xác suất Fed tăng lãi suất tháng 10 từ khoảng 70% xuống 21,59%, qua đó giảm áp lực lên USD.
Dồn dập huy động qua trái phiếu, SACOMBANK tính chào bán thêm 15.000 tỷ đồng sau loạt lô lãi suất cao

Dồn dập huy động qua trái phiếu, SACOMBANK tính chào bán thêm 15.000 tỷ đồng sau loạt lô lãi suất cao

(TBTCO) - SACOMBANK dự kiến chào bán ra công chúng tối đa 15.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 7 - 10 năm, với lãi suất thả nổi, biên độ tối đa 4,2%/năm. Kế hoạch diễn ra khi ngân hàng đẩy mạnh huy động qua trái phiếu, số dư kỳ phiếu, trái phiếu cuối tháng 6/2026 lên 18.300 tỷ đồng, cao nhất nhiều năm; một số lô gần đây có lãi suất lên tới 12,5%/năm.
VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái  xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

(TBTCO) - VietinBank chính thức triển khai hợp tác chiến lược 3 bên cùng Công ty Cổ phần Văn hóa Ngôi Nhà Xanh (GreenHouse) - đơn vị vận hành nền tảng và Ingrid International Pte. Ltd (Ingrid International) - đơn vị tư vấn chiến lược, phát triển hệ sinh thái, hướng tới xây dựng hệ sinh thái xanh AI & thông minh, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển bền vững tại Việt Nam.
FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

(TBTCO) - Sau hành trình tích lũy bền bỉ và cú bứt tốc những năm gần đây, MB đã vượt 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ, xác lập dấu mốc mới của ngành ngân hàng. Phía sau cột mốc này là không gian tăng trưởng rộng hơn, khi nguồn lực mới được chuyển hóa trên nền tảng vững chắc, MB sẽ nhảy vọt về vị thế trong giai đoạn phát triển mới.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▼600K 143,500 ▼600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 ▼60K 14,350 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,050 ▼60K 14,350 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,050 ▼60K 14,350 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 ▼60K 14,350 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 ▼60K 14,350 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 ▼60K 14,350 ▼60K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,660 ▼60K 14,260 ▼60K
Trang sức 99.99 13,670 ▼60K 14,270 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▼6K 14,352 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▼6K 14,353 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1266K 143 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1266K 1,431 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 ▼6K 142 ▼1284K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 ▼594K 140,594 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 ▼450K 106,661 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 ▼78636K 9,672 ▼87456K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 ▼366K 86,779 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 ▼350K 82,944 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 ▼25K 5,937 ▼25K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cập nhật: 03/10/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17533 17806 18390
CAD 17699 17973 18596
CHF 30705 31081 31728
CNY 0 3833 3929
EUR 28610 28827 29907
GBP 33604 33992 34929
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14290 14885
SGD 19762 20043 20627
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 03/10/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30