Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Cập nhật từ các Đại hội đồng cổ đông, S&I Ratings cho biết, các ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 13,5% năm 2026, thấp hơn mức 16% của năm trước, trong bối cảnh bất định đến từ môi trường vĩ mô thế giới. Đáng chú ý, mục tiêu tăng trưởng tín dụng gắn chặt hơn với huy động vốn, tốc độ huy động không theo kịp trở thành yếu tố kìm hãm đà tăng.
aa
Tín dụng giảm nhịp, ngân hàng rẽ hướng chiến lược “Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng Hạ lãi suất, ngân hàng “xoay trục” nguồn vốn

Cập nhật từ các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông về kế hoạch kinh doanh năm 2026 của ngành ngân hàng, Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho biết, các ngân hàng thương mại đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 13,5% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 16% của năm 2025; riêng BIDV và VietinBank vẫn đang chờ Ngân hàng Nhà nước phê duyệt kế hoạch.

Theo nhóm phân tích S&I Ratings, nhìn chung, các ngân hàng vẫn thể hiện quan điểm tích cực về triển vọng kinh doanh, song mức độ thận trọng đã gia tăng trước những bất định đến từ môi trường vĩ mô thế giới, đặc biệt là rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng tại eo biển Hormuz.

S&I Ratings – Ngành ngân hàng: Cập nhật kế hoạch kinh doanh 2026.
Nguồn: S&I Ratings.
Kế hoạch tăng trưởng lợi nhuận trước thuế thể hiện sự phân hóa rõ nét: HDBank (41%), OCB (39%), VPBank (35%) dẫn đầu về mục tiêu tăng trưởng cao, trong khi nhóm đặt mục tiêu thận trọng hơn (Sacombank 6%, LPBank 5%, Eximbank 0,2%) định hướng gia tăng trích lập dự phòng và củng cố chất lượng tài sản.

Về chiến lược tăng trưởng tín dụng, theo quan sát của nhóm phân tích S&I Ratings, một số ngân hàng chuyên bán lẻ (như ACB, VIB) tiếp tục mở rộng sang phân khúc khách hàng doanh nghiệp, trong khi Techcombank đẩy mạnh cho vay tín chấp, giảm cho vay bất động sản, VPBank tiếp tục đặt trọng tâm ở phân khúc bán lẻ và doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Điều này phản ánh xu hướng đa dạng hóa danh mục tín dụng trong bối cảnh cầu tiêu dùng cá nhân chưa phục hồi và thanh khoản trên thị trường bất động sản đang sụt giảm.

Kiểm soát tín dụng bất động sản là chủ đề được nhiều ngân hàng bàn luận. Quan điểm chung của ban lãnh đạo các ngân hàng thương mại cổ phần đều nhìn nhận bất động sản vẫn đóng vai trò động lực tăng trưởng trong trung dài hạn. Hầu hết các ngân hàng sẽ điều chỉnh cho vay bất động sản theo hướng chọn lọc hơn, ưu tiên các phân khúc có pháp lý đầy đủ và gắn với nhu cầu ở thực.

Điểm đáng chú ý là mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay gắn chặt hơn với huy động vốn. Theo S&I Ratings, nhiều ngân hàng chủ động đặt kế hoạch tăng trưởng huy động cao hơn tín dụng như VPBank (40% so với 34%), NamABank (33% so với 21%), MSB (24% so với 18%), trong khi đẩy mạnh cải thiện huy động vốn là một trong những trọng tâm chiến lược của các ngân hàng thương mại quốc doanh.

Xu hướng này phản ánh ưu tiên củng cố nguồn vốn trong bối cảnh áp lực nhu cầu vốn toàn ngành vẫn hiện hữu, thể hiện qua tỷ lệ dư nợ trên huy động (LDR) ở mức cao kỷ lục (gần 112% tại cuối quý I/2026).

“Chúng tôi cho rằng tăng trưởng tín dụng năm 2026 sẽ phụ thuộc đáng kể vào năng lực huy động vốn của từng ngân hàng. Đối với các ngân hàng được cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng cao, tốc độ huy động vốn không theo kịp với tăng trưởng tín dụng có thể trở thành yếu tố kìm hãm đà tăng trưởng, qua đó, làm giảm lợi thế hạn mức tăng trưởng tín dụng vượt trội” - S&I Ratings nhấn mạnh.

Về chất lượng tài sản, nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh đưa ra quan điểm thận trọng, chủ yếu trước những biến động vĩ mô hiện nay (giá năng lượng, lãi suất tăng...). Cụ thể, VietinBank đánh giá chất lượng tài sản sẽ có xu hướng suy giảm trong năm 2026. Tương tự, Vietcombank lưu ý những diễn biến phức tạp từ môi trường quốc tế sẽ tác động đến kinh tế vĩ mô trong nước, từ đó, ảnh hưởng đến các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế mà Vietcombank đang cấp tín dụng.

Nhiều ngân hàng dự kiến tăng vốn trên 20% trong năm nay, dẫn đầu là nhóm quốc doanh và các ngân hàng thương mại cổ phần tham gia tái cơ cấu ngân hàng 0 đồng, với kế hoạch tăng vốn điều lệ đáng kể. Nổi bật là BIDV (tăng 36,8%), VPBank (32,2%), HDBank (30%) và MB (27,5%) thông qua chia cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP) và chào bán riêng lẻ.

Nhìn chung, kế hoạch kinh doanh năm 2026 cho thấy ngành ngân hàng bước vào giai đoạn tăng trưởng có chọn lọc hơn khi tín dụng vẫn là động lực chính nhưng gắn chặt với nền tảng vốn, đồng thời thu nhập ngoài lãi trở thành chất xúc tác tăng trưởng mới.

“Theo quan điểm của chúng tôi, sự phân hóa về triển vọng giữa các ngân hàng sẽ tiếp tục gia tăng. Những tổ chức có lợi thế về chi phí vốn, bộ đệm vốn mạnh, quản trị rủi ro tốt và hệ sinh thái toàn diện sẽ có vị thế tốt hơn để tăng trưởng so với các đối thủ khác trong năm 2026” - S&I Ratings nhận định./.

Ngân hàng tìm động lực mới từ Trung tâm tài chính quốc tế, mở rộng hệ sinh thái

Một xu hướng nổi bật khác được nhóm phân tích S&I Ratings nhận thấy là làn sóng tham gia Trung tâm tài chính quốc tế, với 7 ngân hàng (bao gồm Vietcombank, MB, HDBank, SHB, LPBank, TPBank và NamABank) đã đưa kế hoạch thành lập công ty con tại Trung tâm tài chính quốc tế (VIFC) vào nghị quyết Đại hội đồng cổ đông năm nay, trong khi VietinBank đang trong giai đoạn nghiên cứu.

Đồng thời, xu hướng mở rộng hệ sinh thái dịch vụ tài chính tiếp tục được đẩy mạnh với ACB, TPBank đã có kế hoạch thành lập công ty con trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, trong khi MSB định hướng tham gia lĩnh vực quản lý quỹ. Việc mở rộng sang các lĩnh vực kinh doanh mới sẽ giúp gia tăng nguồn thu ngoài lãi về dài hạn,

tăng khả năng bán chéo và tối ưu hóa lợi nhuận cho các ngân hàng. Đây cũng là trọng tâm chiến lược của nhiều ngân hàng hiện nay trong bối cảnh tăng trưởng thu nhập từ mở rộng quy mô bảng cân đối kế toán dần hạn chế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
Kinh doanh gần như "đóng băng", một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Kinh doanh gần như "đóng băng", một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Dù kinh doanh thua lỗ, hoạt động gần như "đóng băng", Công ty cổ phần Đầu tư hội nhập Toàn Cầu vẫn gắn với những khoản huy động hàng trăm tỷ đồng, từ lô trái phiếu 190 tỷ đồng đến các giao dịch bảo đảm có giá trị khoản vay hàng trăm tỷ đồng tại PVComBank Chi nhánh Đống Đa. Phía sau các nghĩa vụ hàng trăm tỷ đồng là tài sản bảo đảm chỉ vài nghìn cổ phần, gắn với mạng lưới doanh nghiệp đan xen.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 14,470
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 14,380
Trang sức 99.99 13,790 14,390
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 14/08/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Cập nhật: 14/08/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80