Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt hơn 23 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm
Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 12,16 tỷ USD, tăng 1,5%; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 245 triệu USD, tăng 45,5%; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 3,59 tỷ USD, tăng 11,9%; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 5,82 tỷ USD, tăng 0,8%; giá trị xuất khẩu đầu vào sản xuất đạt 1,22 tỷ USD, tăng 66,2%; giá trị xuất khẩu muối đạt 5,7 triệu USD, tăng 62,4%.
Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng NLTS chính của Việt Nam với thị phần chiếm 44,1%. Hai thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 20,9% và 15,8%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 2,3% và 1,4%.
![]() |
| Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt hơn 23 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm. Ảnh minh họa |
So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS chính của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 sang khu vực châu Á tăng 11,5%; châu Âu tăng 3,7%; châu Đại Dương tăng 19,8%; trong khi châu Mỹ giảm 3,5%; châu Phi giảm 26%.
Xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc với thị phần 21,1%, Hoa Kỳ với thị phần 18,5%, và Nhật Bản với thị phần 7%, là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng NLTS chính lớn nhất của Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Trung Quốc tăng 28,8%, Nhật Bản tăng 1,3%, trong khi Hoa Kỳ giảm 4,8%.
Cùng chiều với kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu NLTS tháng 4 năm 2026 của Việt Nam ước đạt 5,06 tỷ USD, giảm 1,4% so với tháng trước nhưng tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch nhập khẩu NLTS 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 17,65 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, giá trị nhập khẩu các mặt hàng nông sản đạt 11,51 tỷ USD, tăng 16,2%; giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 1,75 tỷ USD, tăng 25,3%; giá trị nhập khẩu thủy sản đạt 1,05 tỷ USD, tăng 2,7%; giá trị nhập khẩu lâm sản đạt 1,15 tỷ USD, tăng 24,1%; giá trị nhập khẩu đầu vào sản xuất đạt 2,17 tỷ USD, giảm 12,9%; giá trị nhập khẩu muối đạt 14 triệu USD, tăng 72,6%.
Xét theo vùng lãnh thổ, Việt Nam nhập khẩu các mặt hàng NLTS chính nhiều nhất từ các thị trường thuộc khu vực châu Á và châu Mỹ với thị phần lần lượt là 29,8% và 23,7%. Thị phần của 3 khu vực châu Đại Dương, châu Âu và châu Phi nhỏ, lần lượt là 4%, 3,6%, và 3,6%. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị nhập khẩu NLTS chính của Việt Nam 4 tháng đầu năm 2026 từ khu vực châu Á tăng khi châu Âu giảm 4,8%.
Xét theo thị trường chi tiết, Hoa Kỳ, Trung Quốc, và Braxin, là 3 thị trường cung cấp các mặt hàng NLTS chính lớn nhất cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 10,4%, 9,3%, và 8,3%. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị nhập khẩu NLTS của Việt Nam 4 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Hoa Kỳ tăng 41,7%, Trung Quốc tăng 18,5%, và Braxin tăng 15,3%./.
Dành cho bạn
Đọc thêm
Ngày 13/5: Giá bạc bật tăng mạnh, lập đỉnh mới
Ngày 13/5: Giá cao su tại Nhật Bản và Trung Quốc đồng loạt giảm
Ngày 13/5: Giá lúa gạo ít biến động, giao dịch mua bán chậm
Nam banker Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh mất ngủ khi nhận tin nhắn trúng độc đắc hơn 23 tỷ đồng lúc nửa đêm
Kích hoạt phòng vệ thương mại, hỗ trợ sản xuất nội địa
Giá đồng lập kỷ lục mới do lo ngại thiếu hụt nguồn cung


