Tín dụng giảm nhịp, ngân hàng rẽ hướng chiến lược

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống được định hướng khoảng 15%, phản ánh xu hướng điều hành thận trọng. Theo đó, chiến lược phát triển của các ngân hàng cũng phân hóa rõ nét. Một số nhà băng tăng tốc mạnh nhờ dư địa nhận chuyển giao ngân hàng yếu kém hoặc đang tái cơ cấu, trong khi đó, không ít nhà băng chọn hướng đi "chậm mà chắc".
aa

“Hãm phanh” tín dụng, loạt ngân hàng vẫn tăng vượt trội

Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2026 khoảng 15%, thấp hơn đáng kể so với mức 19% năm 2025, cho thấy xu hướng điều hành thận trọng hơn nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định vĩ mô. Trong bối cảnh đó, nhiều ngân hàng lên kế hoạch tăng trưởng thấp hơn so với năm trước, song cũng có nhiều nhà băng đặt mục tiêu vượt xa mặt bằng chung.

Nhóm ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao gồm: HDBank (37%), NCB (35%), VPBank (34%) và MB (30%). Đáng chú ý, HDBank, VPBank và MB có lợi thế mở rộng tín dụng nhờ dư địa sau khi nhận chuyển giao các tổ chức tín dụng yếu kém.

Với NCB, chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông mới đây, ông Tạ Kiều Hưng - Tổng Giám đốc NCB nhấn mạnh, việc ngân hàng đặt mục tiêu và sẵn sàng cho tốc độ tăng trưởng tín dụng cao không chỉ trong năm 2026, mà là cả một quá trình đã được lựa chọn ngay từ khi khởi động lộ trình tái cơ cấu. Năm ngoái, chỉ tiêu này được hoàn thành trong 9 tháng và năm nay sẽ tiếp tục bám sát kế hoạch, đặt mục tiêu hoàn thành sớm hơn.

Tín dụng giảm nhịp, ngân hàng rẽ hướng chiến lược
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Theo ông Hưng, trong bối cảnh thị trường biến động mạnh, với một ngân hàng còn nhiều thách thức nội tại, việc dàn trải hoặc theo đuổi quá nhiều mục tiêu sẽ tiềm ẩn rủi ro và kém hiệu quả. "Chúng tôi đặt mục tiêu tăng trưởng rất tập trung. Tập trung để quản trị rủi ro tốt, chứ không phải tập trung để làm tăng rủi ro" - lãnh đạo NCB nêu rõ.

Bởi vậy, NCB sẽ tập trung vào hệ sinh thái các đối tác lớn, là những doanh nghiệp, tập đoàn hàng đầu tại Việt Nam, đã khẳng định vị thế, chiến lược bài bản và chất lượng sản phẩm, dịch vụ trong nhiều năm. "Chúng tôi đi sát, lựa chọn những mảng khách hàng, những dự án tốt để có thể cấp tín dụng, qua đó, sẽ khai thác thêm các sản phẩm phi tín dụng từ đối tác" - Tổng Giám đốc NCB chia sẻ.

Bên cạnh nhóm ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng nhảy vọt, hầu hết các nhà băng lên kế hoạch tăng tín dụng dao động quanh 15 - 18% như: MSB (18%), Eximbank (17,8%), SeABank (17%), ACB (16%); VIB, TPBank và OCB (cùng 15%)... Trong khi đó, một số ngân hàng đặt mục tiêu thận trọng hơn như: VietABank (14,5%), Techcombank và Sacombank (12%), ABBank (9%)... Diễn biến này cho thấy sự phân hóa rõ nét trong chiến lược tăng trưởng của từng nhà băng.

Ngân hàng nhận chuyển giao “tăng ga” tín dụng

Năm 2025 được xem là bước ngoặt khi MB bước vào “đường băng” tăng trưởng mới sau khi nhận chuyển giao bắt buộc OceanBank (nay là MBV). Đà tăng tốc của ngân hàng trở nên rõ nét hơn bao giờ hết, với quy mô tăng trưởng bứt phá, ghi nhận mức cao nhất trong 5 năm gần đây. Tận dụng “dư địa vàng” từ thương vụ nhận tái cơ cấu ngân hàng yếu kém, MB đang mở rộng biên độ phát triển, tạo nền tảng cho những bước tăng trưởng mạnh mẽ hơn trong các năm tới.

Chia sẻ tại hội nghị nhà đầu tư vừa qua, ông Đàm Nhân Đức - Kinh tế trưởng MB cho rằng, nếu duy trì được tốc độ tăng trưởng tín dụng như hiện nay trong khoảng 3 năm, quy mô dư nợ cho vay của MB hoàn toàn có thể tăng gấp đôi so với hiện tại.

Kiểm soát tín dụng chặt giúp giảm rủi ro

Ông Vũ Minh Trường cho rằng, việc Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15%, kiểm soát room theo quý và hạn chế tín dụng bất động sản là tín hiệu tương đối tích cực. "Cách tiếp cận này nhằm giảm thiểu rủi ro ở một số phân khúc nhạy cảm, đồng thời cũng góp phần ổn định nhu cầu vốn của nền kinh tế và giúp giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ hơn cho tăng trưởng kinh tế" - đại diện VPBank nhìn nhận.

Theo tính toán, sau hơn 32 năm phát triển, MB mới đạt mốc trên 1 triệu tỷ đồng; tuy nhiên, nếu tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 35%/năm trong 3 năm tới, theo công thức tăng trưởng kép, dư nợ có thể đạt khoảng 2,4 triệu tỷ đồng, qua đó giúp MB củng cố vững chắc vị thế trong top 5 ngân hàng đứng đầu hệ thống.

Về chiến lược, ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng Quản trị MB cho biết, ngân hàng dự kiến tăng tỷ trọng cho vay bán lẻ thêm khoảng 1,5 - 3%, đây là định hướng dài hạn mà ngân hàng đang theo đuổi. MB cũng đa dạng hóa danh mục cho vay, mở rộng sang các phân khúc doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp lớn, lựa chọn các ngành có thế mạnh và hiểu biết sâu. Đồng thời, từng bước đẩy mạnh cho vay trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như một trụ cột tăng trưởng dài hạn.

Với VPBank, theo ông Vũ Minh Trường - Giám đốc Khối Nguồn vốn và Thị trường tài chính của VPBank, là một trong những ngân hàng được cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng cao, đây được xem là cơ hội kinh doanh tốt.

Theo đó, VPBank có thể chủ động kiểm soát danh mục, giảm tỷ trọng cho vay bất động sản, chẳng hạn năm 2025 giảm xuống còn 23,6%. Bên cạnh đó, đẩy mạnh các chiến lược kinh doanh đa dạng, tập trung vào các lĩnh vực có hiệu quả cao hơn như bán lẻ và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Qua đó, VPBank có điều kiện tái cơ cấu danh mục và mở rộng thị phần trên nhiều phân khúc khách hàng.

Nhiều nhà băng chọn “đi chậm mà chắc”, ưu tiên chất lượng

Bên cạnh nhóm ngân hàng “tăng tốc” trong cuộc đua tín dụng năm nay, không ít nhà băng lựa chọn hướng đi thận trọng hơn.

Thông tin từ Đại hội đồng cổ đông mới tổ chức, năm 2026, VIB dự kiến đưa dư nợ tín dụng lên 439.273 tỷ đồng, tăng khoảng 15%. Chủ tịch Hội đồng Quản trị VIB Đặng Khắc Vỹ nhấn mạnh, VIB không chạy theo tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá hay cạnh tranh lãi suất cho vay. Thay vào đó, ngân hàng tập trung vào tổng thu nhập từ khách hàng, bao gồm cả tín dụng và dịch vụ.

ACB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% trong năm 2026. Riêng quý I, dư nợ đã tăng hơn 3,2%, mức tích cực so với mặt bằng chung. Ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho biết, thời gian qua, ACB hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên phục vụ sản xuất.

"Chúng tôi đặt vấn đề về phát triển bền vững lên hàng đầu. Do đó, nhiều năm vừa qua, ACB không phải một trong những ngân hàng có mức tăng trưởng tín dụng cao khi so với những ngân hàng hàng đầu, nhưng chúng tôi vẫn duy trì mức độ tăng trưởng tín dụng cao hơn bình quân của hệ thống" - ông Phát nêu rõ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

(TBTCO) - Sau hành trình tích lũy bền bỉ và cú bứt tốc những năm gần đây, MB đã vượt 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ, xác lập dấu mốc mới của ngành ngân hàng. Phía sau cột mốc này là không gian tăng trưởng rộng hơn, khi nguồn lực mới được chuyển hóa trên nền tảng vững chắc, MB sẽ nhảy vọt về vị thế trong giai đoạn phát triển mới.
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư về bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

(TBTCO) - Tiên phong hiện thực hoá chiến lược AI-first thông qua ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới LPBank Plus, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) tiếp tục triển khai chương trình khuyến mại “Chạm LPBank Plus – Chạm quà chất” nhằm thúc đẩy thói quen giao dịch số thông minh. Không chỉ mang AI vào những nhu cầu tài chính quen thuộc, chương trình còn khuyến khích khách hàng trải nghiệm các tiện ích số, từng bước hình thành thói quen giao dịch thuận tiện, chủ động và an toàn hơn.
Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

(TBTCO) - Ngày 30/9/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là phòng chờ thương hiệu riêng thứ tư của ngân hàng, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái đặc quyền và nâng cao trải nghiệm dành cho khách hàng ưu tiên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 144,100
Hà Nội - PNJ 141,100 144,100
Đà Nẵng - PNJ 141,100 144,100
Miền Tây - PNJ 141,100 144,100
Tây Nguyên - PNJ 141,100 144,100
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 144,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 14,410
Miếng SJC Nghệ An 14,110 14,410
Miếng SJC Thái Bình 14,110 14,410
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 14,410
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 14,410
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 14,410
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,720 14,320
Trang sức 99.99 13,730 14,330
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 14,412
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 14,413
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 1,437
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 1,426
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 141,188
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 107,111
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 97,128
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 87,145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 83,294
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 5,962
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Cập nhật: 03/10/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17484 17756 18340
CAD 17714 17988 18608
CHF 30717 31093 31735
CNY 0 3833 3929
EUR 28560 28778 29861
GBP 33510 33898 34838
HKD 0 3180 3383
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14256 14846
SGD 19760 20042 20612
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 03/10/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30