Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
aa
Thị trường vào nhịp tăng mới, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ kỳ vọng trở lại mốc 150 nghìn tỷ đồng “Tân binh” tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh Phía sau 92.000 tỷ đồng chi trả là niềm tin và “điểm tựa” của bảo hiểm

Nhiều doanh nghiệp chưa trở lại quỹ đạo tăng trưởng

Sau giai đoạn tái cấu trúc, thị trường bảo hiểm nhân thọ đã ghi nhận những tín hiệu phục hồi tích cực. Theo số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tổng doanh thu phí bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ năm 2025 ước đạt 148.786 tỷ đồng, chính thức quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng dương.

Kết quả này phản ánh nỗ lực tái cấu trúc sản phẩm, nâng cao chất lượng tư vấn và củng cố niềm tin thị trường của các doanh nghiệp, cùng việc hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường giám sát và cải thiện môi trường kinh doanh bảo hiểm từ cơ quan quản lý.

Dù thị trường đã phục hồi tăng trưởng, song bức tranh toàn ngành vẫn phân hóa mạnh. Theo khảo sát của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đến cuối tháng 5/2026, phần lớn doanh nghiệp đã công bố báo cáo tài chính năm 2025. Đáng chú ý, AIA và Manulife mới công bố số liệu sơ bộ, trong khi MB Life và Sun Life vẫn chưa công bố báo cáo tài chính.

Dữ liệu hiện có cho thấy, tính đến cuối năm 2025, vẫn còn 9 doanh nghiệp ghi nhận tăng trưởng âm doanh thu phí bảo hiểm, trong đó, có doanh nghiệp giảm gần 25% so với cùng kỳ, qua đó kéo lùi tốc độ tăng trưởng toàn ngành.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm gốc là BIDV MetLife, với doanh thu đạt 2.137,6 tỷ đồng, tăng 29,9% so với cùng kỳ năm trước.

Theo BIDV MetLife, doanh thu từ kênh bancassurance tăng trưởng mạnh qua từng năm, từ 340 tỷ đồng năm 2023 lên 497 tỷ đồng năm 2024, tăng hơn 46%. Đến năm 2025, doanh thu đạt 911 tỷ đồng, tiếp tục tăng hơn 55% so với năm trước. Những con số này khẳng định sức bật mạnh mẽ của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường còn nhiều thách thức.

Thành quả trên có được nhờ sự hợp tác chặt chẽ với BIDV, cùng nỗ lực không ngừng của đội ngũ để mang đến giải pháp bảo hiểm tối ưu cho khách hàng. Đáng chú ý, bên cạnh các chỉ số tăng trưởng, giá trị lớn hơn mà doanh nghiệp ghi nhận là sự tin tưởng bền bỉ của khách hàng trong bối cảnh thị trường còn nhiều thách thức.

MAP Life đứng thứ hai với 503,4 tỷ đồng, tăng 28,4%, trong khi Phú Hưng Life đạt 613,5 tỷ đồng, tăng 19,1%. Generali Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng tích cực với doanh thu 5.123,3 tỷ đồng, tăng 17,3%; Shinhan Life đạt 296,8 tỷ đồng, tăng 13,7%.

Ở chiều ngược lại, nhiều doanh nghiệp tiếp tục vẫn đang trong quá trình củng cố đà phục hồi. Theo đó, Hanwha Life Việt Nam đạt 3.492,1 tỷ đồng, giảm 4,3%; Dai-ichi Life đạt 18.135,2 tỷ đồng, giảm 5,6%; Cathay Life đạt 2.874,1 tỷ đồng, giảm 6,1%; Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam giảm 6,9% so với cùng kỳ.

Manulife Việt Nam, với số liệu mới công bố ở mức sơ bộ, ghi nhận doanh thu 15.638 tỷ đồng, giảm 8,5% so với cùng kỳ. MVI Life giảm 8,7%, xuống còn 2.140,7 tỷ đồng.

Trong nhóm sụt giảm mạnh nhất, Chubb Life Việt Nam đạt 4.040,4 tỷ đồng, giảm 14,7%; Prudential đạt 20.098,3 tỷ đồng, giảm 15,3%; FWD Việt Nam giảm mạnh nhất thị trường với mức giảm 24,6%, doanh thu còn 99,4 tỷ đồng.

Top 5 thống lĩnh thị trường, Bảo Việt Nhân thọ dẫn đầu

Trong top 5 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có doanh thu phí lớn nhất thị trường, Bảo Việt Nhân thọ duy trì đà tăng trưởng dương trong năm 2025 với mức tăng 1,5% so với năm 2024; trong khi AIA Việt Nam, với số liệu sơ bộ về doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, cũng ghi nhận mức tăng nhẹ 5,5%. Các doanh nghiệp còn lại trong nhóm dẫn đầu đều suy giảm doanh thu, cho thấy áp lực tăng trưởng vẫn hiện hữu ngay cả với các “ông lớn” của ngành.

Xét theo doanh thu phí bảo hiểm năm 2025, Bảo Việt Nhân thọ tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu thị trường với 32.641,8 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm gốc. Theo sau là Prudential với 20.098,3 tỷ đồng; Dai-ichi Life tiếp tục duy trì doanh thu phí cao, đạt 18.135,2 tỷ đồng. Tiếp đến là Manulife và AIA.

Top 5 hiện tạo khoảng cách khá xa với phần còn lại của thị trường, khi doanh thu đều ở ngưỡng hàng chục nghìn tỷ đồng.

Thông tin từ Tập đoàn Bảo Việt cho thấy, Bảo Việt Nhân thọ tiếp tục khẳng định vị thế số 1 thị trường với kết quả tăng trưởng ấn tượng và dẫn đầu thị trường về thị phần doanh thu phí bảo hiểm với 22,5% thị phần.

Trong đó, doanh thu khai thác mới tăng trưởng 14% - điểm sáng nổi bật trong khi thị trường suy giảm, phản ánh hiệu quả của chiến lược kinh doanh, chất lượng sản phẩm, hệ thống phân phối và năng lực thích ứng linh hoạt. Lĩnh vực bảo hiểm tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột trong cơ cấu lợi nhuận của Tập đoàn, đóng góp 83% vào lợi nhuận hợp nhất.

Trong khi đó, nhóm bám đuổi phía sau hình thành mặt bằng doanh thu khoảng 2.000 - 5.000 tỷ đồng. Generali Việt Nam đứng thứ 6 với 5.123,3 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm gốc, vượt MB Life với 4.719,2 tỷ đồng. Tiếp theo là Chubb Life Việt Nam đạt 4.040,4 tỷ đồng, Hanwha Life Việt Nam đạt 3.492,1 tỷ đồng và Cathay Life đạt 2.874,1 tỷ đồng.

Ở nhóm quy mô trung bình, MVI Life và BIDV MetLife gần như ngang bằng về doanh thu, lần lượt đạt 2.140,7 tỷ đồng và 2.137,6 tỷ đồng, cho thấy sự cạnh tranh khá cao trong nhóm doanh nghiệp tầm trung của thị trường bảo hiểm nhân thọ.

Các doanh nghiệp còn lại có doanh thu dưới 1.000 tỷ đồng như: Phú Hưng Life đạt 613,5 tỷ đồng, MAP Life đạt 503,4 tỷ đồng, Shinhan Life đạt 296,8 tỷ đồng…

Techcom Life mới chính thức triển khai hoạt động kinh doanh bảo hiểm từ ngày 16/7/2025, tính đến cuối năm 2025, ghi nhận doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 18,5 tỷ đồng.

Prudential dẫn đầu lợi nhuận, 5 doanh nghiệp báo lỗ

Bức tranh lợi nhuận bảo hiểm nhân thọ phân hóa mạnh, “quả ngọt” chỉ đến với một số doanh nghiệp. Theo thống kê từ báo cáo tài chính và số liệu công bố đến cuối tháng 5/2026, có tới 11 doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận trước thuế suy giảm, đáng chú ý, có tới 5 doanh nghiệp báo lỗ.

Thị trường bảo hiểm nhân thọ sáng dần, song lợi nhuận nhiều doanh nghiệp vẫn rùa bò
Thị trường bảo hiểm nhân thọ “sáng dần”. Ảnh minh họa.

Dù chỉ đứng thứ hai thị trường về doanh thu phí bảo hiểm gốc với 20.098,3 tỷ đồng, Prudential lại dẫn đầu toàn ngành về lợi nhuận trước thuế năm 2025, đạt 4.936,8 tỷ đồng, tăng mạnh 47,8% so với năm trước. Manulife đứng thứ hai về lợi nhuận khi đạt 3.545,2 tỷ đồng, tuy nhiên giảm 11,9% so với cùng kỳ. Bảo Việt Nhân thọ đứng tiếp theo với lợi nhuận trước thuế đạt 2.668,6 tỷ đồng, tăng 44,2%.

Xét theo mức độ suy giảm lợi nhuận trước thuế năm 2025, Chubb Life Việt Nam là doanh nghiệp biến động mạnh nhất khi từ mức lãi 105,3 tỷ đồng năm 2024 chuyển sang lỗ 213,8 tỷ đồng trong năm 2025.

Trong nhóm doanh nghiệp vẫn duy trì có lãi nhưng lợi nhuận suy giảm mạnh, MAP Life giảm sâu nhất với mức giảm 68,8%, lợi nhuận trước thuế còn 31 tỷ đồng. Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam giảm 55,7%, còn 342,1 tỷ đồng. MVI Life giảm 40,2%, xuống còn 396,6 tỷ đồng; Generali Việt Nam giảm 38,4%, còn 114,2 tỷ đồng.

Ở nhóm doanh nghiệp lớn, Dai-ichi Life ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 2.173,1 tỷ đồng, giảm 18,6% so với cùng kỳ. Hanwha Life Việt Nam giảm 14,6%, còn 606,2 tỷ đồng. AIA Việt Nam đạt 363,4 tỷ đồng, giảm 13,2%. Cathay Life giảm 10,9%, còn 1.628 tỷ đồng./.

Trong bức tranh nhiều điểm sáng của thị trường, có tới 5 doanh nghiệp thua lỗ trong năm 2025. Phú Hưng Life lỗ lớn nhất với mức lỗ trước thuế 500,6 tỷ đồng; tiếp theo là Chubb Life, Shinhan Life và Fubon. Techcom Life, mới bắt đầu triển khai hoạt động kinh doanh bảo hiểm, ghi nhận lỗ trước thuế 138,4 tỷ đồng trong giai đoạn đầu hoạt động.

Ngoài ra, Sun Life Việt Nam hiện chưa công bố báo cáo tài chính năm 2025, tuy nhiên doanh nghiệp này đã ghi nhận tình trạng thua lỗ triền miên trong nhiều năm liên tiếp./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) tiếp tục được vinh danh trong “Top 500 Doanh nghiệp Lợi nhuận tốt nhất Việt Nam 2026” (PROFIT500 2026) và “Top 50 Doanh nghiệp Lợi nhuận Xuất sắc Việt Nam 2026” tại Lễ công bố Bảng xếp hạng PROFIT500 do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet tổ chức và trao giải.
Tỷ giá USD hôm nay 26/10: DXY suy yếu trước quyết định lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay 26/10: DXY suy yếu trước quyết định lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 26/10, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.627 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do cùng tăng. Chỉ số DXY giảm 0,19%, xuống 101,62 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực trước thềm các cuộc họp chính sách tiền tệ trong tuần này, khi ba ngân hàng trung ương lớn đều được dự báo giữ nguyên lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới dao động quanh 3.998 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước biến động trái chiều giữa các thương hiệu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/10: Vàng miếng, vàng nhẫn giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/10: Vàng miếng, vàng nhẫn giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục duy trì dưới mốc 4.000 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng tiếp tục giảm 300.000 đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 19 - 23/10 ghi nhận, Ngân hàng Nhà nước chỉ bơm vốn "nhỏ giọt" trong 2 phiên, qua đó hút ròng gần 10.000 tỷ đồng, đưa lượng OMO lưu hành xuống đáy hơn 1 năm. Dù vậy, lãi suất qua đêm vẫn tương đối ổn định quanh 3-4%, trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 24/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 10 đồng so với cuối tuần trước; giá USD tại các ngân hàng đồng loạt hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,81 điểm, gần như đi ngang. Dữ liệu PMI cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh, củng cố kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất.
VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

Từ ngày 22 - 24/10, tại Hà Nội, Hội thảo quốc tế về Ngân hàng và Tài chính Việt Nam 2026 (Vietnam Symposium in Banking and Finance 2026 - VSBF 2026) diễn ra, với sự phối hợp tổ chức của Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global), Học viện Ngân hàng, Hiệp hội Quốc tế về Phát triển Kinh tế Tài chính (ISAFE) và Đại học Massey.
Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Lãi suất huy động khó tăng trở lại cuối năm 2026 do việc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và room tín dụng sát trần, thậm chí vượt nếu tính thêm số dư mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C). Tuy nhiên, kỳ vọng lãi suất giảm sâu hơn mức chỉ đạo trong năm 2027 là chưa thực tế.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Hà Nội - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Miền Tây - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,170
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,170
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,170
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,690 ▼30K 14,090 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,690 ▼30K 14,090 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,690 ▼30K 14,090 ▼30K
Trang sức 99.9 13,370 ▼30K 13,970 ▼30K
Trang sức 99.99 13,380 ▼30K 13,980 ▼30K
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,060 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 14,172
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 14,173
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cập nhật: 26/10/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17628 17901 18476
CAD 17901 18176 18789
CHF 30672 31048 31687
CNY 0 3833 3929
EUR 28341 28557 29631
GBP 33728 34117 35059
HKD 0 3164 3366
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14401 14987
SGD 19665 19946 20512
THB 680 743 796
USD (1,2) 25587 0 0
USD (5,10,20) 25625 0 0
USD (50,100) 25652 25666 26030
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,670 25,670 26,050
USD(1-2-5) 24,644 - -
USD(10-20) 24,644 - -
EUR 28,429 28,452 29,805
JPY 160.14 160.43 170.18
GBP 33,946 34,038 35,231
AUD 17,830 17,894 18,574
CAD 18,108 18,166 18,836
CHF 30,983 31,079 32,009
SGD 19,801 19,863 20,643
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 18.02 18.79 20.45
THB 729.19 738.2 790.46
NZD 14,410 14,544 14,979
SEK - 2,559 2,651
DKK - 3,814 3,949
NOK - 2,726 2,823
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,915.32 - 6,675.62
TWD 716.56 - 868.19
SAR - 6,771.24 7,133.91
KWD - 81,683 86,925
AED - 6,786 7,312
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,620 25,650 26,030
EUR 28,399 28,542 29,771
GBP 33,935 34,106 35,141
HKD 3,221 3,240 3,358
CHF 30,814 30,969 31,915
JPY 159.70 161.31 169.29
AUD 17,781 17,906 18,504
SGD 19,769 19,949 20,547
THB 734 749 786
CAD 18,069 18,196 18,794
NZD 14,483 15,041
KRW 18.86 20.84
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25670 26030
AUD 17810 17910 18833
CAD 18082 18182 19194
CHF 30907 30937 32518
CNY 3815.9 3840.9 3976.3
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28509 28539 30264
GBP 34019 34069 35824
HKD 0 3300 0
JPY 160.93 161.43 171.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14504 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19822 19952 20674
THB 0 708.8 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,556 25,676 25,970
USD20 25,526 25,676 25,970
USD1 25,506 25,676 25,970
AUD 17,747 17,897 19,069
EUR 28,310 28,410 30,066
CAD 18,030 18,130 19,435
SGD 19,902 20,052 20,606
JPY 161.4 162.9 168.48
GBP 33,917 34,067 35,129
XAU 13,868,000 0 14,172,000
CNY 0 3,796 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/10/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30