Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
aa
Thị trường vào nhịp tăng mới, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ kỳ vọng trở lại mốc 150 nghìn tỷ đồng “Tân binh” tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh Phía sau 92.000 tỷ đồng chi trả là niềm tin và “điểm tựa” của bảo hiểm

Nhiều doanh nghiệp chưa trở lại quỹ đạo tăng trưởng

Sau giai đoạn tái cấu trúc, thị trường bảo hiểm nhân thọ đã ghi nhận những tín hiệu phục hồi tích cực. Theo số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tổng doanh thu phí bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ năm 2025 ước đạt 148.786 tỷ đồng, chính thức quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng dương.

Kết quả này phản ánh nỗ lực tái cấu trúc sản phẩm, nâng cao chất lượng tư vấn và củng cố niềm tin thị trường của các doanh nghiệp, cùng việc hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường giám sát và cải thiện môi trường kinh doanh bảo hiểm từ cơ quan quản lý.

Dù thị trường đã phục hồi tăng trưởng, song bức tranh toàn ngành vẫn phân hóa mạnh. Theo khảo sát của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đến cuối tháng 5/2026, phần lớn doanh nghiệp đã công bố báo cáo tài chính năm 2025. Đáng chú ý, AIA và Manulife mới công bố số liệu sơ bộ, trong khi MB Life và Sun Life vẫn chưa công bố báo cáo tài chính.

Dữ liệu hiện có cho thấy, tính đến cuối năm 2025, vẫn còn 9 doanh nghiệp ghi nhận tăng trưởng âm doanh thu phí bảo hiểm, trong đó, có doanh nghiệp giảm gần 25% so với cùng kỳ, qua đó kéo lùi tốc độ tăng trưởng toàn ngành.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm gốc là BIDV MetLife, với doanh thu đạt 2.137,6 tỷ đồng, tăng 29,9% so với cùng kỳ năm trước.

Theo BIDV MetLife, doanh thu từ kênh bancassurance tăng trưởng mạnh qua từng năm, từ 340 tỷ đồng năm 2023 lên 497 tỷ đồng năm 2024, tăng hơn 46%. Đến năm 2025, doanh thu đạt 911 tỷ đồng, tiếp tục tăng hơn 55% so với năm trước. Những con số này khẳng định sức bật mạnh mẽ của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường còn nhiều thách thức.

Thành quả trên có được nhờ sự hợp tác chặt chẽ với BIDV, cùng nỗ lực không ngừng của đội ngũ để mang đến giải pháp bảo hiểm tối ưu cho khách hàng. Đáng chú ý, bên cạnh các chỉ số tăng trưởng, giá trị lớn hơn mà doanh nghiệp ghi nhận là sự tin tưởng bền bỉ của khách hàng trong bối cảnh thị trường còn nhiều thách thức.

MAP Life đứng thứ hai với 503,4 tỷ đồng, tăng 28,4%, trong khi Phú Hưng Life đạt 613,5 tỷ đồng, tăng 19,1%. Generali Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng tích cực với doanh thu 5.123,3 tỷ đồng, tăng 17,3%; Shinhan Life đạt 296,8 tỷ đồng, tăng 13,7%.

Ở chiều ngược lại, nhiều doanh nghiệp tiếp tục vẫn đang trong quá trình củng cố đà phục hồi. Theo đó, Hanwha Life Việt Nam đạt 3.492,1 tỷ đồng, giảm 4,3%; Dai-ichi Life đạt 18.135,2 tỷ đồng, giảm 5,6%; Cathay Life đạt 2.874,1 tỷ đồng, giảm 6,1%; Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam giảm 6,9% so với cùng kỳ.

Manulife Việt Nam, với số liệu mới công bố ở mức sơ bộ, ghi nhận doanh thu 15.638 tỷ đồng, giảm 8,5% so với cùng kỳ. MVI Life giảm 8,7%, xuống còn 2.140,7 tỷ đồng.

Trong nhóm sụt giảm mạnh nhất, Chubb Life Việt Nam đạt 4.040,4 tỷ đồng, giảm 14,7%; Prudential đạt 20.098,3 tỷ đồng, giảm 15,3%; FWD Việt Nam giảm mạnh nhất thị trường với mức giảm 24,6%, doanh thu còn 99,4 tỷ đồng.

Top 5 thống lĩnh thị trường, Bảo Việt Nhân thọ dẫn đầu

Trong top 5 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có doanh thu phí lớn nhất thị trường, Bảo Việt Nhân thọ duy trì đà tăng trưởng dương trong năm 2025 với mức tăng 1,5% so với năm 2024; trong khi AIA Việt Nam, với số liệu sơ bộ về doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, cũng ghi nhận mức tăng nhẹ 5,5%. Các doanh nghiệp còn lại trong nhóm dẫn đầu đều suy giảm doanh thu, cho thấy áp lực tăng trưởng vẫn hiện hữu ngay cả với các “ông lớn” của ngành.

Xét theo doanh thu phí bảo hiểm năm 2025, Bảo Việt Nhân thọ tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu thị trường với 32.641,8 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm gốc. Theo sau là Prudential với 20.098,3 tỷ đồng; Dai-ichi Life tiếp tục duy trì doanh thu phí cao, đạt 18.135,2 tỷ đồng. Tiếp đến là Manulife và AIA.

Top 5 hiện tạo khoảng cách khá xa với phần còn lại của thị trường, khi doanh thu đều ở ngưỡng hàng chục nghìn tỷ đồng.

Thông tin từ Tập đoàn Bảo Việt cho thấy, Bảo Việt Nhân thọ tiếp tục khẳng định vị thế số 1 thị trường với kết quả tăng trưởng ấn tượng và dẫn đầu thị trường về thị phần doanh thu phí bảo hiểm với 22,5% thị phần.

Trong đó, doanh thu khai thác mới tăng trưởng 14% - điểm sáng nổi bật trong khi thị trường suy giảm, phản ánh hiệu quả của chiến lược kinh doanh, chất lượng sản phẩm, hệ thống phân phối và năng lực thích ứng linh hoạt. Lĩnh vực bảo hiểm tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột trong cơ cấu lợi nhuận của Tập đoàn, đóng góp 83% vào lợi nhuận hợp nhất.

Trong khi đó, nhóm bám đuổi phía sau hình thành mặt bằng doanh thu khoảng 2.000 - 5.000 tỷ đồng. Generali Việt Nam đứng thứ 6 với 5.123,3 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm gốc, vượt MB Life với 4.719,2 tỷ đồng. Tiếp theo là Chubb Life Việt Nam đạt 4.040,4 tỷ đồng, Hanwha Life Việt Nam đạt 3.492,1 tỷ đồng và Cathay Life đạt 2.874,1 tỷ đồng.

Ở nhóm quy mô trung bình, MVI Life và BIDV MetLife gần như ngang bằng về doanh thu, lần lượt đạt 2.140,7 tỷ đồng và 2.137,6 tỷ đồng, cho thấy sự cạnh tranh khá cao trong nhóm doanh nghiệp tầm trung của thị trường bảo hiểm nhân thọ.

Các doanh nghiệp còn lại có doanh thu dưới 1.000 tỷ đồng như: Phú Hưng Life đạt 613,5 tỷ đồng, MAP Life đạt 503,4 tỷ đồng, Shinhan Life đạt 296,8 tỷ đồng…

Techcom Life mới chính thức triển khai hoạt động kinh doanh bảo hiểm từ ngày 16/7/2025, tính đến cuối năm 2025, ghi nhận doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 18,5 tỷ đồng.

Prudential dẫn đầu lợi nhuận, 5 doanh nghiệp báo lỗ

Bức tranh lợi nhuận bảo hiểm nhân thọ phân hóa mạnh, “quả ngọt” chỉ đến với một số doanh nghiệp. Theo thống kê từ báo cáo tài chính và số liệu công bố đến cuối tháng 5/2026, có tới 11 doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận trước thuế suy giảm, đáng chú ý, có tới 5 doanh nghiệp báo lỗ.

Thị trường bảo hiểm nhân thọ sáng dần, song lợi nhuận nhiều doanh nghiệp vẫn rùa bò
Thị trường bảo hiểm nhân thọ “sáng dần”. Ảnh minh họa.

Dù chỉ đứng thứ hai thị trường về doanh thu phí bảo hiểm gốc với 20.098,3 tỷ đồng, Prudential lại dẫn đầu toàn ngành về lợi nhuận trước thuế năm 2025, đạt 4.936,8 tỷ đồng, tăng mạnh 47,8% so với năm trước. Manulife đứng thứ hai về lợi nhuận khi đạt 3.545,2 tỷ đồng, tuy nhiên giảm 11,9% so với cùng kỳ. Bảo Việt Nhân thọ đứng tiếp theo với lợi nhuận trước thuế đạt 2.668,6 tỷ đồng, tăng 44,2%.

Xét theo mức độ suy giảm lợi nhuận trước thuế năm 2025, Chubb Life Việt Nam là doanh nghiệp biến động mạnh nhất khi từ mức lãi 105,3 tỷ đồng năm 2024 chuyển sang lỗ 213,8 tỷ đồng trong năm 2025.

Trong nhóm doanh nghiệp vẫn duy trì có lãi nhưng lợi nhuận suy giảm mạnh, MAP Life giảm sâu nhất với mức giảm 68,8%, lợi nhuận trước thuế còn 31 tỷ đồng. Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam giảm 55,7%, còn 342,1 tỷ đồng. MVI Life giảm 40,2%, xuống còn 396,6 tỷ đồng; Generali Việt Nam giảm 38,4%, còn 114,2 tỷ đồng.

Ở nhóm doanh nghiệp lớn, Dai-ichi Life ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 2.173,1 tỷ đồng, giảm 18,6% so với cùng kỳ. Hanwha Life Việt Nam giảm 14,6%, còn 606,2 tỷ đồng. AIA Việt Nam đạt 363,4 tỷ đồng, giảm 13,2%. Cathay Life giảm 10,9%, còn 1.628 tỷ đồng./.

Trong bức tranh nhiều điểm sáng của thị trường, có tới 5 doanh nghiệp thua lỗ trong năm 2025. Phú Hưng Life lỗ lớn nhất với mức lỗ trước thuế 500,6 tỷ đồng; tiếp theo là Chubb Life, Shinhan LifeFubon. Techcom Life, mới bắt đầu triển khai hoạt động kinh doanh bảo hiểm, ghi nhận lỗ trước thuế 138,4 tỷ đồng trong giai đoạn đầu hoạt động.

Ngoài ra, Sun Life Việt Nam hiện chưa công bố báo cáo tài chính năm 2025, tuy nhiên doanh nghiệp này đã ghi nhận tình trạng thua lỗ triền miên trong nhiều năm liên tiếp./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với vàng miếng có nơi tăng tới 2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 141,200
Hà Nội - PNJ 136,200 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 141,200
Miền Tây - PNJ 136,200 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,340 14,040
Trang sức 99.99 13,350 14,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 26/07/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17839 18112 18697
CAD 18141 18417 19040
CHF 31530 31910 32550
CNY 0 3846 3939
EUR 29293 29513 30596
GBP 34260 34651 35605
HKD 0 3225 3429
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15515
SGD 19849 20131 20717
THB 696 759 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/07/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80