Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
aa
Thị trường vào nhịp tăng mới, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ kỳ vọng trở lại mốc 150 nghìn tỷ đồng “Tân binh” tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh Phía sau 92.000 tỷ đồng chi trả là niềm tin và “điểm tựa” của bảo hiểm

Nhiều doanh nghiệp chưa trở lại quỹ đạo tăng trưởng

Sau giai đoạn tái cấu trúc, thị trường bảo hiểm nhân thọ đã ghi nhận những tín hiệu phục hồi tích cực. Theo số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tổng doanh thu phí bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ năm 2025 ước đạt 148.786 tỷ đồng, chính thức quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng dương.

Kết quả này phản ánh nỗ lực tái cấu trúc sản phẩm, nâng cao chất lượng tư vấn và củng cố niềm tin thị trường của các doanh nghiệp, cùng việc hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường giám sát và cải thiện môi trường kinh doanh bảo hiểm từ cơ quan quản lý.

Dù thị trường đã phục hồi tăng trưởng, song bức tranh toàn ngành vẫn phân hóa mạnh. Theo khảo sát của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đến cuối tháng 5/2026, phần lớn doanh nghiệp đã công bố báo cáo tài chính năm 2025. Đáng chú ý, AIA và Manulife mới công bố số liệu sơ bộ, trong khi MB Life và Sun Life vẫn chưa công bố báo cáo tài chính.

Dữ liệu hiện có cho thấy, tính đến cuối năm 2025, vẫn còn 9 doanh nghiệp ghi nhận tăng trưởng âm doanh thu phí bảo hiểm, trong đó, có doanh nghiệp giảm gần 25% so với cùng kỳ, qua đó kéo lùi tốc độ tăng trưởng toàn ngành.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm gốc là BIDV MetLife, với doanh thu đạt 2.137,6 tỷ đồng, tăng 29,9% so với cùng kỳ năm trước.

Theo BIDV MetLife, doanh thu từ kênh bancassurance tăng trưởng mạnh qua từng năm, từ 340 tỷ đồng năm 2023 lên 497 tỷ đồng năm 2024, tăng hơn 46%. Đến năm 2025, doanh thu đạt 911 tỷ đồng, tiếp tục tăng hơn 55% so với năm trước. Những con số này khẳng định sức bật mạnh mẽ của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường còn nhiều thách thức.

Thành quả trên có được nhờ sự hợp tác chặt chẽ với BIDV, cùng nỗ lực không ngừng của đội ngũ để mang đến giải pháp bảo hiểm tối ưu cho khách hàng. Đáng chú ý, bên cạnh các chỉ số tăng trưởng, giá trị lớn hơn mà doanh nghiệp ghi nhận là sự tin tưởng bền bỉ của khách hàng trong bối cảnh thị trường còn nhiều thách thức.

MAP Life đứng thứ hai với 503,4 tỷ đồng, tăng 28,4%, trong khi Phú Hưng Life đạt 613,5 tỷ đồng, tăng 19,1%. Generali Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng tích cực với doanh thu 5.123,3 tỷ đồng, tăng 17,3%; Shinhan Life đạt 296,8 tỷ đồng, tăng 13,7%.

Ở chiều ngược lại, nhiều doanh nghiệp tiếp tục vẫn đang trong quá trình củng cố đà phục hồi. Theo đó, Hanwha Life Việt Nam đạt 3.492,1 tỷ đồng, giảm 4,3%; Dai-ichi Life đạt 18.135,2 tỷ đồng, giảm 5,6%; Cathay Life đạt 2.874,1 tỷ đồng, giảm 6,1%; Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam giảm 6,9% so với cùng kỳ.

Manulife Việt Nam, với số liệu mới công bố ở mức sơ bộ, ghi nhận doanh thu 15.638 tỷ đồng, giảm 8,5% so với cùng kỳ. MVI Life giảm 8,7%, xuống còn 2.140,7 tỷ đồng.

Trong nhóm sụt giảm mạnh nhất, Chubb Life Việt Nam đạt 4.040,4 tỷ đồng, giảm 14,7%; Prudential đạt 20.098,3 tỷ đồng, giảm 15,3%; FWD Việt Nam giảm mạnh nhất thị trường với mức giảm 24,6%, doanh thu còn 99,4 tỷ đồng.

Top 5 thống lĩnh thị trường, Bảo Việt Nhân thọ dẫn đầu

Trong top 5 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có doanh thu phí lớn nhất thị trường, Bảo Việt Nhân thọ duy trì đà tăng trưởng dương trong năm 2025 với mức tăng 1,5% so với năm 2024; trong khi AIA Việt Nam, với số liệu sơ bộ về doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, cũng ghi nhận mức tăng nhẹ 5,5%. Các doanh nghiệp còn lại trong nhóm dẫn đầu đều suy giảm doanh thu, cho thấy áp lực tăng trưởng vẫn hiện hữu ngay cả với các “ông lớn” của ngành.

Xét theo doanh thu phí bảo hiểm năm 2025, Bảo Việt Nhân thọ tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu thị trường với 32.641,8 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm gốc. Theo sau là Prudential với 20.098,3 tỷ đồng; Dai-ichi Life tiếp tục duy trì doanh thu phí cao, đạt 18.135,2 tỷ đồng. Tiếp đến là Manulife và AIA.

Top 5 hiện tạo khoảng cách khá xa với phần còn lại của thị trường, khi doanh thu đều ở ngưỡng hàng chục nghìn tỷ đồng.

Thông tin từ Tập đoàn Bảo Việt cho thấy, Bảo Việt Nhân thọ tiếp tục khẳng định vị thế số 1 thị trường với kết quả tăng trưởng ấn tượng và dẫn đầu thị trường về thị phần doanh thu phí bảo hiểm với 22,5% thị phần.

Trong đó, doanh thu khai thác mới tăng trưởng 14% - điểm sáng nổi bật trong khi thị trường suy giảm, phản ánh hiệu quả của chiến lược kinh doanh, chất lượng sản phẩm, hệ thống phân phối và năng lực thích ứng linh hoạt. Lĩnh vực bảo hiểm tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột trong cơ cấu lợi nhuận của Tập đoàn, đóng góp 83% vào lợi nhuận hợp nhất.

Trong khi đó, nhóm bám đuổi phía sau hình thành mặt bằng doanh thu khoảng 2.000 - 5.000 tỷ đồng. Generali Việt Nam đứng thứ 6 với 5.123,3 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm gốc, vượt MB Life với 4.719,2 tỷ đồng. Tiếp theo là Chubb Life Việt Nam đạt 4.040,4 tỷ đồng, Hanwha Life Việt Nam đạt 3.492,1 tỷ đồng và Cathay Life đạt 2.874,1 tỷ đồng.

Ở nhóm quy mô trung bình, MVI Life và BIDV MetLife gần như ngang bằng về doanh thu, lần lượt đạt 2.140,7 tỷ đồng và 2.137,6 tỷ đồng, cho thấy sự cạnh tranh khá cao trong nhóm doanh nghiệp tầm trung của thị trường bảo hiểm nhân thọ.

Các doanh nghiệp còn lại có doanh thu dưới 1.000 tỷ đồng như: Phú Hưng Life đạt 613,5 tỷ đồng, MAP Life đạt 503,4 tỷ đồng, Shinhan Life đạt 296,8 tỷ đồng…

Techcom Life mới chính thức triển khai hoạt động kinh doanh bảo hiểm từ ngày 16/7/2025, tính đến cuối năm 2025, ghi nhận doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 18,5 tỷ đồng.

Prudential dẫn đầu lợi nhuận, 5 doanh nghiệp báo lỗ

Bức tranh lợi nhuận bảo hiểm nhân thọ phân hóa mạnh, “quả ngọt” chỉ đến với một số doanh nghiệp. Theo thống kê từ báo cáo tài chính và số liệu công bố đến cuối tháng 5/2026, có tới 11 doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận trước thuế suy giảm, đáng chú ý, có tới 5 doanh nghiệp báo lỗ.

Thị trường bảo hiểm nhân thọ sáng dần, song lợi nhuận nhiều doanh nghiệp vẫn rùa bò
Thị trường bảo hiểm nhân thọ “sáng dần”. Ảnh minh họa.

Dù chỉ đứng thứ hai thị trường về doanh thu phí bảo hiểm gốc với 20.098,3 tỷ đồng, Prudential lại dẫn đầu toàn ngành về lợi nhuận trước thuế năm 2025, đạt 4.936,8 tỷ đồng, tăng mạnh 47,8% so với năm trước. Manulife đứng thứ hai về lợi nhuận khi đạt 3.545,2 tỷ đồng, tuy nhiên giảm 11,9% so với cùng kỳ. Bảo Việt Nhân thọ đứng tiếp theo với lợi nhuận trước thuế đạt 2.668,6 tỷ đồng, tăng 44,2%.

Xét theo mức độ suy giảm lợi nhuận trước thuế năm 2025, Chubb Life Việt Nam là doanh nghiệp biến động mạnh nhất khi từ mức lãi 105,3 tỷ đồng năm 2024 chuyển sang lỗ 213,8 tỷ đồng trong năm 2025.

Trong nhóm doanh nghiệp vẫn duy trì có lãi nhưng lợi nhuận suy giảm mạnh, MAP Life giảm sâu nhất với mức giảm 68,8%, lợi nhuận trước thuế còn 31 tỷ đồng. Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam giảm 55,7%, còn 342,1 tỷ đồng. MVI Life giảm 40,2%, xuống còn 396,6 tỷ đồng; Generali Việt Nam giảm 38,4%, còn 114,2 tỷ đồng.

Ở nhóm doanh nghiệp lớn, Dai-ichi Life ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 2.173,1 tỷ đồng, giảm 18,6% so với cùng kỳ. Hanwha Life Việt Nam giảm 14,6%, còn 606,2 tỷ đồng. AIA Việt Nam đạt 363,4 tỷ đồng, giảm 13,2%. Cathay Life giảm 10,9%, còn 1.628 tỷ đồng./.

Trong bức tranh nhiều điểm sáng của thị trường, có tới 5 doanh nghiệp thua lỗ trong năm 2025. Phú Hưng Life lỗ lớn nhất với mức lỗ trước thuế 500,6 tỷ đồng; tiếp theo là Chubb Life, Shinhan LifeFubon. Techcom Life, mới bắt đầu triển khai hoạt động kinh doanh bảo hiểm, ghi nhận lỗ trước thuế 138,4 tỷ đồng trong giai đoạn đầu hoạt động.

Ngoài ra, Sun Life Việt Nam hiện chưa công bố báo cáo tài chính năm 2025, tuy nhiên doanh nghiệp này đã ghi nhận tình trạng thua lỗ triền miên trong nhiều năm liên tiếp./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Nhiều địa phương chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/6

Nhiều địa phương chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/6

(TBTCO) - Lịch chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tháng 6/2026 sẽ được thực hiện theo 2 nhóm thời gian chính, tùy thuộc kế hoạch tổ chức tại từng tỉnh, thành phố. Trong đó, có 21 tỉnh, thành phố sẽ bắt đầu chi trả từ ngày 1/6.
Eximbank dự kiến họp cổ đông bất thường vào cuối tháng 7

Eximbank dự kiến họp cổ đông bất thường vào cuối tháng 7

(TBTCO) - Eximbank dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường vào ngày 24/7/2026 tại Hà Nội với nội dung bầu bổ sung Thành viên Hội đồng Quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ VIII (2025 - 2030).
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18195 18470 19046
CAD 18458 18735 19351
CHF 32706 33091 33744
CNY 0 3842 3934
EUR 29930 30203 31228
GBP 34462 34854 35796
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15177 15768
SGD 20036 20319 20837
THB 721 784 837
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26143 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26393
AUD 18396 18496 19424
CAD 18653 18753 19767
CHF 33012 33042 34620
CNY 3821.7 3846.7 3981.9
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30108 30138 31861
GBP 34789 34839 36599
HKD 0 3355 0
JPY 161.55 162.05 172.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15295 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20202 20332 21059
THB 0 750.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80