VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
aa
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm Đầu tư Việt Nam (VIS Rating) vừa phát hành báo cáo ngành ngân hàng, với nhận định thanh khoản thắt chặt, rủi ro gia tăng, ngành ngân hàng đối mặt với nhiều thách thức hơn trong năm 2026.

Theo VIS Rating, các ngân hàng Việt Nam bước vào năm 2026 trong bối cảnh môi trường hoạt động kém thuận lợi và biến động hơn, khi lãi suất duy trì ở mức cao, do áp lực thanh khoản toàn hệ thống và các yếu tố bất lợi bên ngoài làm suy giảm chất lượng tài sản và khả năng sinh lời.

Thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

Trong quý I/2026, các ngân hàng quy mô vừa ghi nhận mức suy giảm hồ sơ tín nhiệm rõ rệt nhất, đến từ việc gia tăng nợ quá hạn từ phân khúc khách hàng cá nhân; đồng thời, ROAA (tỷ suất sinh lời trên tài sản bình quân) giảm trong bối cảnh NIM (biên lãi ròng) thu hẹp và chi phí tín dụng tăng cao.

Ngược lại, các ngân hàng lớn và ngân hàng quốc doanh nhìn chung duy trì chất lượng tài sản và lợi nhuận ổn định, nhờ vào danh mục cho vay đa dạng, nền tảng khách hàng tốt và nguồn thu nhập ổn định từ phí.

“Trong thời gian tới, việc lãi suất tiếp tục neo ở mức cao cùng với đòn bẩy hộ gia đình gia tăng sẽ làm tăng rủi ro suy giảm chất lượng tài sản, đặc biệt đối với các ngân hàng có mức độ tập trung cao vào cho vay bán lẻ và bộ đệm chống chịu rủi ro còn hạn chế” - nhóm phân tích nhận định.

“Điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6% và gần một nửa số ngân hàng (12/27) ghi nhận sụt giảm tiền gửi, gồm cả các ngân hàng lớn (ví dụ: BIDV, MB, Techcombank, ACB) và quy mô nhỏ hơn (ví dụ: TPBank, Saigonbank, VietBank), cho thấy cạnh tranh huy động mang tính toàn hệ thống, khiến các ngân hàng gia tăng phụ thuộc vào nguồn vốn thị trường liên ngân hàng ngắn hạn” - VIS Rating nêu rõ.

Theo đó, thanh khoản hệ thống thắt chặt và các hạn chế về nguồn vốn sẽ khiến chi phí huy động neo ở mức cao trong ngắn hạn.

Tỷ lệ CASA (tiền gửi không kỳ hạn) trên tổng dư nợ cho vay của toàn ngành giảm 2 điểm phần trăm so với quý trước xuống 18% trong 3 tháng 2026, phản ánh tiền gửi sụt giảm ở cả nhóm khách hàng cá nhân, ví dụ tại Techcombank, ACB và doanh nghiệp (như MB, TPBank).

Dù các quy định chặt chẽ hơn về thanh khoản đang lấy ý kiến tại Thông tư số 22/2019/TT-NHNN sẽ tác động tích cực về dài hạn, các quy định này trong ngắn hạn sẽ làm gia tăng cạnh tranh huy động. Chi phí vốn neo cao và gây áp lực lên lợi nhuận, đặc biệt đối với các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn thị trường.

Biên lợi nhuận thu hẹp từ gia tăng cạnh tranh huy động làm suy giảm lợi nhuận, ảnh hưởng mạnh nhất đến các ngân hàng quy mô nhỏ và vừa. ROAA toàn ngành giảm 10 điểm cơ bản so với quý trước xuống 1,4% trong quý I/2026, khi NIM thu hẹp trung bình 11 điểm cơ bản do chi phí vốn tăng cao, rõ nét nhất tại các ngân hàng nhỏ và vừa với mạng lưới huy động tiền gửi hạn chế hơn.

Các ngân hàng quy mô trung bình cũng chịu áp lực từ chi phí tín dụng tăng, thu nhập phí suy giảm (ví dụ: OCB, MSB) và không còn các khoản thu nhập đột biến (ví dụ: SeABank).

VIS Rating cho rằng, các ngân hàng lớn duy trì khả năng sinh lời nhìn chung ổn định, được hỗ trợ bởi NIM cải thiện (ví dụ: Vietcombank, VietinBank), thu nhập từ kênh bảo hiểm (bancassurance) phục hồi và chi phí tín dụng thấp hơn (ví dụ: ACB, Techcombank), cùng với việc kiểm soát chi phí chặt chẽ.

“Chúng tôi kỳ vọng xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng sẽ làm giảm lợi nhuận cốt lõi của các ngân hàng nhỏ và vừa trong năm 2026, với bối cảnh cạnh tranh nguồn vốn và áp lực từ chất lượng tài sản duy trì ở mức cao” - nhóm phân tích VIS Rating nêu quan điểm./.

Nợ xấu bán lẻ tăng mạnh, nhiều ngân hàng nhỏ đối mặt áp lực lớn

Theo VIS Rating, nợ xấu phân khúc bán lẻ gia tăng tại ngân hàng quy mô nhỏ hơn trong bối cảnh lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài.

Tỷ lệ nợ có vấn đề toàn ngành tăng 11 điểm cơ bản so với quý trước lên mức 2,2% trong quý I/2026, phản ánh việc gia tăng hình thành nợ xấu mới. Chất lượng tài sản suy giảm tập trung ở các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ như: OCB, PGBank, BacABank, SaigonBank, VietBank..., chủ yếu do gia tăng nợ quá hạn cho vay mua nhà, kinh doanh hộ gia đình và tiêu dùng tín chấp, cùng mức giảm khoảng 10 điểm phần trăm của tỷ lệ bao phủ nợ xấu.

“Chúng tôi kỳ vọng tỷ lệ hình thành nợ xấu sẽ gia tăng trong năm 2026, đặc biệt ở các ngân hàng quy mô nhỏ có mức độ tập trung vào cho vay bán lẻ cao, trong bối cảnh lãi suất duy trì ở mức cao và đòn bẩy hộ gia đình gia tăng tiếp tục gây áp lực lên khả năng trả nợ” - VIS Rating đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ với Luật Xây dựng, bổ sung quy định về mức phí, mức khấu trừ nhiều công trình. Nhiều nội dung được làm rõ, góp phần tăng trách nhiệm, tính tự chủ của doanh nghiệp, chuyển mạnh sang hậu kiểm và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (17/7): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, DXY được nâng đỡ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (17/7): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, DXY được nâng đỡ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 17/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 25.254 đồng, tăng 11 đồng so với phiên trước và nối dài chuỗi tăng trong tuần. Trái lại, giá USD tại nhiều ngân hàng tiếp tục đi ngang nhiều phiên liên tiếp. Chỉ số DXY tăng 0,21% lên 100,7 điểm, được hỗ trợ bởi căng thẳng Mỹ - Iran leo thang và kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Hôm nay, giá vàng thế giới giảm mạnh xuống 3.976 USD/ounce, đánh mất mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, mở cửa phiên sáng, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng xuôi chiều giảm khá mạnh. Ở nhiều "nhà vàng" lớn, mức giảm đang ở mức 1,5 - 1,7 triệu đồng/lượng.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 ▼14550K 0 ▼14850K
Kim TT/AVPL 0 ▼14350K 0 ▼14750K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - ▼14350K - ▼14750K
Nguyên Liệu 99.99 0 ▼13200K 0 ▼13400K
Nguyên Liệu 99.9 0 ▼13150K 0 ▼13350K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 ▼150700K -142,000 ▼156200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼120K 14,490 ▼120K
Trang sức 99.99 13,800 ▼120K 14,500 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▼16K 14,662 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▼16K 14,663 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 ▼16K 1,456 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 ▼16K 1,457 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,391 ▼21K 1,436 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,178 ▼1584K 142,178 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,061 ▼1200K 107,861 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,008 ▼1088K 97,808 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,955 ▼976K 87,755 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,077 ▲66576K 83,877 ▲75396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,237 ▼667K 60,037 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Cập nhật: 17/07/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17799 18072 18648
CAD 18204 18480 19095
CHF 31940 32321 32972
CNY 0 3837 3930
EUR 29447 29668 30743
GBP 34536 34928 35859
HKD 0 3222 3424
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15018 15602
SGD 19830 20112 20683
THB 697 760 814
USD (1,2) 26024 0 0
USD (5,10,20) 26065 0 0
USD (50,100) 26094 26108 26468
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,557 29,581 30,990
JPY 157.47 157.75 167.26
GBP 34,753 34,847 36,053
AUD 18,015 18,080 18,760
CAD 18,368 18,427 19,105
CHF 32,112 32,212 33,157
SGD 19,937 19,999 20,786
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.85 755.06 808.82
NZD 15,010 15,149 15,604
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,665 2,763
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.91 - 6,788.09
TWD 732.76 - 887.63
SAR - 6,873.09 7,239.41
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26445
AUD 17986 18086 19011
CAD 18356 18456 19470
CHF 32054 32084 33666
CNY 3815.3 3840.3 3975.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29589 29619 31345
GBP 34861 34911 36668
HKD 0 3355 0
JPY 158.18 158.68 169.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15123 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19965 20095 20816
THB 0 725.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,450
USD20 26,100 26,150 26,450
USD1 26,100 26,150 26,450
AUD 18,057 18,157 19,265
EUR 29,421 29,521 31,180
CAD 18,315 18,415 19,724
SGD 20,060 20,210 20,820
JPY 158.79 160.29 165.85
GBP 34,786 34,936 36,260
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/07/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80