Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
aa

Tăng trải nghiệm khách hàng, xóa “ốc đảo” dữ liệu

Không chỉ cắt giảm chi phí nhờ tinh gọn bộ máy và giảm phụ thuộc vào mạng lưới giao dịch truyền thống, trong bối cảnh áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, nhiều tổ chức tín dụng đang tăng tốc ứng dụng công nghệ, dữ liệu, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo vào hoạt động vận hành.

Việc đầu tư vào công nghệ không chỉ giúp ngân hàng tối ưu quy trình, tiết giảm chi phí hoạt động và kéo giảm tỷ lệ chi phí trên thu nhập (Cost to Income Ratio - CIR), mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện chất lượng dịch vụ, trải nghiệm khách hàng và từng bước định hình mô hình ngân hàng số trong tương lai.

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng
Những năm qua, ngành ngân hàng luôn là một trong những ngành tiên phong trong ứng dụng công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số. Ảnh: An Thư

Tuy nhiên, dù đã có khoảng 156 triệu dữ liệu sinh trắc học được làm sạch và chuẩn hóa tính đến tháng 4/2026, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, một nghịch lý vẫn tồn tại trong quá trình chuyển đổi số, đó là càng số hóa mạnh, người dùng lại càng phải liên tục chứng minh “tôi chính là tôi”.

Theo đại diện Sacombank, hiện nay, khách hàng vẫn phải thực hiện định danh điện tử (eKYC) nhiều lần trên các nền tảng khác nhau, từ mở tài khoản ngân hàng, đăng ký ví điện tử, mở tài khoản chứng khoán, hay vay trực tuyến... Mỗi tổ chức gần như xây dựng một hệ thống xác thực riêng, tạo nên các “ốc đảo" dữ liệu do thiếu liên thông.

Điều này không chỉ khiến người dùng mất thời gian, thao tác lặp lại và dễ phát sinh lỗi nhập liệu, mà còn làm gia tăng đáng kể chi phí vận hành của các tổ chức tài chính. Theo ước tính, các tổ chức phải chi từ 12 - 18% chi phí mở mới khách hàng chỉ để xử lý quy trình xác thực và định danh lặp lại.

Chuyển đổi số bắt đầu từ tư duy, không chỉ từ công nghệ

Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, cùng với những kết quả tích cực đã đạt được, ngành ngân hàng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức, từ yêu cầu ngày càng cao về đảm bảo an ninh, an toàn thông tin, áp lực phát triển nguồn nhân lực số, sự chênh lệch về năng lực chuyển đổi số giữa các đơn vị, cũng như yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa. Điều đó cho thấy chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện của công nghệ, mà quan trọng hơn là sự thay đổi về tư duy, nhận thức và phương thức làm việc của mỗi người lao động.

Từ thực tế đó, Sacombank đề xuất đóng gói kết quả eKYC thành hộ chiếu niềm tin số theo tiêu chuẩn quốc tế. Theo mô hình được đề xuất, khi khách hàng đến bất kỳ tổ chức nào để đăng ký sản phẩm, dịch vụ có yêu cầu định danh, khách hàng chỉ cần thực hiện eKYC một lần duy nhất. Dữ liệu sau đó sẽ được đóng gói thành bằng chứng số, hộ chiếu số và lưu trữ trên nền tảng chuỗi khối (Blockchain). Qua đó, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao trải nghiệm trong hệ sinh thái tài chính số.

Không chỉ dừng lại ở bài toán định danh, các ngân hàng còn hướng tới xây dựng trải nghiệm dịch vụ tài chính liền mạch hơn trong đời sống hằng ngày. Theo đại diện ACB, mỗi khi thanh toán viện phí, học phí hay các loại lệ phí hành chính..., nhiều người dân vẫn phải xếp hàng chờ đợi dù trên tay đã có sẵn mã QR Code. Thực tế này cho thấy trải nghiệm thanh toán hiện nay còn đứt gãy và rời rạc giữa các phương thức dịch vụ khác nhau.

Từ thực tế đó, giải pháp “cầu nối số” do ACB đề xuất tích hợp trên nền tảng VNeID, hướng tới xây dựng hành trình sử dụng các dịch vụ thiết yếu theo hướng liền mạch và xuyên suốt hơn. Theo mô hình này, người dân chỉ cần truy cập vào VNeID, các thành viên trong gia đình có thể thực hiện ủy quyền thanh toán cho một người đại diện.

Giải pháp cũng hướng tới thay đổi cách cung ứng dịch vụ tài chính trong tương lai. Nếu trước đây khách hàng phải cung cấp nhiều loại giấy tờ, chứng từ bản cứng cho ngân hàng, thì với “cầu nối số”, người dân có thể chủ động chia sẻ các chứng từ điện tử tin cậy ngay trên nền tảng số. Điều này giúp ngân hàng rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao độ chính xác trong thẩm định và đơn giản hóa đáng kể quy trình cung cấp dịch vụ tài chính.

Tiên phong số hóa, hơn 90% giao dịch đã lên kênh số

Chia sẻ tại hội thi chuyển đổi số ngành ngân hàng vừa qua, ông Phạm Đức Ấn - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đánh giá, những năm qua, ngành ngân hàng luôn là một trong những ngành tiên phong trong ứng dụng công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số, với quan điểm lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm và trải nghiệm khách hàng làm thước đo.

Theo đó, ngành ngân hàng ghi nhận nhiều kết quả tích cực trên các phương diện, từ hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng công nghệ, dữ liệu, thanh toán số, dịch vụ số, cũng như bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống.

Cùng với đó, hạ tầng thanh toán số tiếp tục được đầu tư và nâng cấp mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng nhanh. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch được thực hiện qua kênh số. Hệ sinh thái ngân hàng số ngày càng đa dạng với nhiều sản phẩm, dịch vụ tiện ích, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.

Việc dịch chuyển mạnh sang nền tảng số cũng giúp các ngân hàng giảm phụ thuộc vào mạng lưới giao dịch vật lý, tối ưu chi phí vận hành, tiết giảm nhân sự tại quầy và nâng cao hiệu quả hoạt động, kéo giảm CIR.

Dữ liệu từ báo cáo tài chính các ngân hàng quý I/2026 cho thấy, nhóm có CIR thấp nhất chủ yếu là các ngân hàng tư nhân lớn, có thế mạnh về ngân hàng số, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cao và khả năng tối ưu vận hành tốt như: SHB (17,2%), VPBank (21,7%), ABBank (23,5%), MB và VietinBank (24,9%).

Ở chiều ngược lại, nhóm ngân hàng có CIR cao trên 45% gồm: Sacombank (45,2%), NamABank (47,2%), BacABank (51,2%), BaoVietBank (52,1%), VietBank (55,1%) và Saigonbank lên tới 61%, cho thấy chi phí hoạt động đang chiếm tỷ trọng lớn, có thể “ăn mòn” tổng thu nhập.

Trăn trở về tỷ lệ CIR còn cao, chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua, ông Phan Đình Tuệ - Thành viên Hội đồng quản trị Sacombank thẳng thắn nhìn nhận có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, trong đó một lý do quan trọng xuất phát từ định hướng chiến lược trước đây là phát triển ngân hàng bán lẻ. Do đó, cần lượng nhân sự rất lớn để phục vụ các hoạt động như: cho vay cán bộ công nhân viên, cho vay tiểu thương tại chợ, các khoản vay nhỏ lẻ khác...

“Với quy mô tổng tài sản cũng không phải quá lớn, nhưng nhân sự có thời điểm trên 18.000 người. Có nhiều lý do, nhưng trong đó, đây là một lý do khiến tỷ lệ CIR cao” - lãnh đạo Sacombank nhận định.

Chính vì vậy, cùng với quá trình tái cơ cấu, Sacombank đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, nhằm giảm phụ thuộc vào mô hình vận hành truyền thống, tối ưu chi phí nhân sự, nâng cao hiệu quả hoạt động và kéo giảm CIR trong quá trình chuyển đổi.

Năm 2025, tổng thu nhập thuần của ngân hàng đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng 12%, trong khi chi phí hoạt động khoảng 13.000 tỷ đồng, giảm 7%, qua đó, giúp CIR giảm xuống còn 40,7%, thấp hơn 8,1% so với trước đó.

“Về định hướng, năm 2026 Sacombank đặt mục tiêu kéo giảm CIR về mức dưới 38% và trong các năm tới sẽ tập trung kéo giảm về mức khoảng 28% so với trung bình của ngành hiện nay 30%. Phải nói đây một con số rất thách thức” - ông Phan Đình Tuệ đánh giá.

Đến năm 2030, Sacombank đặt chiến lược “5 - 4 - 3”, hướng đến top 5 về lợi nhuận, top 4 về quy mô và top 3 về CIR trong hệ thống ngân hàng thương mại. Ngân hàng cũng tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại, triển khai các dự án về chuyển đổi số và quản trị rủi ro nhằm nâng cao hiệu quả vận hành và tối ưu chi phí hoạt động trong dài hạn.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
Hơn 640 triệu cổ phiếu BVB chính thức giao dịch trên HOSE

Hơn 640 triệu cổ phiếu BVB chính thức giao dịch trên HOSE

(TBTCO) - Hơn 640 triệu cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVB) chính thức được đưa vào giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) từ ngày 21/7, với giá tham chiếu 13.100 đồng/cổ phiếu.
Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm từ hơn 12.000 xuống còn 695, song quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn vẫn còn nhiều "điểm nghẽn". Nhiều ý kiến cho rằng mục tiêu không phải chỉ sắp xếp, "dọn dẹp" hay bán vốn, mà là nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và vai trò dẫn dắt tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Hà Nội - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Miền Tây - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▲100K 14,700 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▲100K 14,700 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▲100K 14,700 ▲100K
NL 99.99 13,200 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲200K
Trang sức 99.9 13,890 ▲100K 14,590 ▲100K
Trang sức 99.99 13,900 ▲100K 14,600 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1290K 14,702 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1290K 14,703 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 ▲6K 146 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 ▲6K 1,461 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Cập nhật: 22/07/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18190 18763
CAD 18143 18419 19032
CHF 31763 32144 32778
CNY 0 3849 3941
EUR 29412 29633 30708
GBP 34451 34842 35771
HKD 0 3229 3431
JPY 154 158 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15040 15630
SGD 19850 20132 20709
THB 695 758 811
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26156 26516
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,507 29,531 30,939
JPY 156.94 157.22 166.7
GBP 34,601 34,695 35,891
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,318 18,377 19,054
CHF 31,989 32,088 33,024
SGD 19,956 20,018 20,800
CNY - 3,817 3,962
HKD 3,290 3,300 3,439
KRW 16.4 17.1 18.6
THB 743.65 752.83 805.44
NZD 15,004 15,143 15,592
SEK - 2,666 2,761
DKK - 3,947 4,086
NOK - 2,688 2,783
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.86 - 6,784.43
TWD 734.98 - 890.28
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,260 88,579
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,464 29,582 30,774
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,845 31,973 32,898
JPY 157.29 157.92 165.78
AUD 18,108 18,181 18,779
SGD 20,029 20,109 20,699
THB 761 764 800
CAD 18,333 18,407 18,984
NZD 15,102 15,647
KRW 17.03 18.87
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26155 26155 26515
AUD 18092 18192 19114
CAD 18319 18419 19430
CHF 31995 32025 33611
CNY 3829.9 3854.9 3990.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29584 29614 31339
GBP 34745 34795 36556
HKD 0 3355 0
JPY 157.93 158.43 168.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15145 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19998 20128 20860
THB 0 724.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,153 26,203 26,523
USD20 26,153 26,203 26,523
USD1 23,997 26,203 26,523
AUD 18,192 18,292 19,399
EUR 29,427 29,527 31,185
CAD 18,323 18,423 19,728
SGD 20,107 20,257 20,817
JPY 158.83 160.33 165.86
GBP 34,741 34,891 35,956
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/07/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80