Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Lạc Nguyên
(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
aa

Theo ông Nguyễn Đức Lệnh - Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh khu vực 2, đến cuối tháng 4/2026, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và TP. Đồng Nai đạt khoảng 6.030 nghìn tỷ đồng, tăng 3,84% so với cuối năm 2025.

Dù tốc độ tăng trưởng thấp hơn mức bình quân 4,42% của cả nước, quy mô tín dụng của hai địa phương này hiện vẫn chiếm tới 31,1% tổng dư nợ toàn quốc, cho thấy sức hấp thụ vốn của khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam vẫn ở mức cao.

Trong cơ cấu tín dụng, dư nợ bằng đồng Việt Nam tiếp tục chiếm ưu thế với 5.707 nghìn tỷ đồng, tương đương 94,6% tổng dư nợ trên địa bàn. So với cuối năm ngoái, tín dụng bằng VND tăng 2,92%.

Đáng chú ý, phần lớn dòng vốn đang tập trung vào các lĩnh vực sản xuất và lưu thông hàng hóa. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành có mức tăng tín dụng cao nhất, đạt 5,8%. Đây là nhóm ngành giữ vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và chuỗi cung ứng tại khu vực phía Nam. Việc tín dụng tiếp tục tăng ở lĩnh vực này cho thấy doanh nghiệp vẫn duy trì nhu cầu bổ sung vốn để mở rộng sản xuất và phục vụ đơn hàng.

Xếp sau công nghiệp chế biến là lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản với mức tăng 5,4%. Hoạt động bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 4,4%.

Một số lĩnh vực khác cũng ghi nhận tăng trưởng tín dụng ổn định như xây dựng tăng 3,3%, vận tải kho bãi tăng 3,1%. Trong khi đó, khu vực kinh tế hộ, bao gồm nhu cầu vốn phục vụ sản xuất và tiêu dùng, tăng 2,7%.

Theo ông Nguyễn Đức Lệnh, diễn biến tín dụng trong thời gian qua phản ánh hiệu quả từ các chính sách điều hành của Ngân hàng Nhà nước trong định hướng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động và áp lực từ giá dầu tăng cao, TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai vẫn duy trì được sự ổn định về tăng trưởng GRDP. Cùng với đó, việc đẩy mạnh đầu tư các dự án hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị trọng điểm và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cũng góp phần thúc đẩy nhu cầu vốn của doanh nghiệp.

Theo giới chuyên môn, đây là yếu tố giúp dòng tín dụng tại khu vực phía Nam tiếp tục duy trì đà tăng trong những tháng đầu năm nay./.

Lạc Nguyên

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

(TBTCO) - Sáng 18/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.254 đồng, tăng 40 đồng so với cuối tuần trước và nối dài chuỗi tăng sang tuần thứ 10, lên mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2025. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng chỉ biến động nhẹ. Chỉ số DXY giảm 0,18%, Fed vẫn giữ lập trường "diều hâu", phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao hơn để cân bằng rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ với Luật Xây dựng, bổ sung quy định về mức phí, mức khấu trừ nhiều công trình. Nhiều nội dung được làm rõ, góp phần tăng trách nhiệm, tính tự chủ của doanh nghiệp, chuyển mạnh sang hậu kiểm và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Hà Nội - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Miền Tây - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,420 ▼30K 14,720 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,420 ▼30K 14,720 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,420 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼90K 14,620 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼90K 14,620 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼90K 14,620 ▼70K
NL 99.99 12,910 ▼90K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,860 ▼90K
Trang sức 99.9 13,810 ▼70K 14,510 ▼70K
Trang sức 99.99 13,820 ▼70K 14,520 ▼70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,439 ▼6K 1,469 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,439 ▼6K 14,692 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,439 ▼6K 14,693 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,424 ▲1281K 1,459 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,424 ▲1281K 146 ▼1320K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,394 ▲1254K 1,439 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,475 ▼594K 142,475 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,286 ▼450K 108,086 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,212 ▲79350K 98,012 ▲88170K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,138 ▼366K 87,938 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,252 ▼350K 84,052 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,362 ▼251K 60,162 ▼251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,439 ▼6K 1,469 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,439 ▼6K 1,469 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,439 ▼6K 1,469 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,439 ▼6K 1,469 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,439 ▼6K 1,469 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,439 ▼6K 1,469 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,439 ▼6K 1,469 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,439 ▼6K 1,469 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,439 ▼6K 1,469 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,439 ▼6K 1,469 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,439 ▼6K 1,469 ▼6K
Cập nhật: 20/07/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17844 18118 18692
CAD 18232 18508 19123
CHF 31917 32298 32939
CNY 0 3840 3933
EUR 29448 29669 30743
GBP 34600 34992 35925
HKD 0 3223 3424
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15068 15660
SGD 19829 20111 20676
THB 696 759 813
USD (1,2) 26025 0 0
USD (5,10,20) 26066 0 0
USD (50,100) 26095 26109 26468
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,110 26,110 26,490
USD(1-2-5) 25,066 - -
USD(10-20) 25,066 - -
EUR 29,577 29,601 31,013
JPY 157.55 157.83 167.35
GBP 34,765 34,859 36,062
AUD 18,007 18,072 18,651
CAD 18,424 18,483 19,162
CHF 32,170 32,270 33,219
SGD 19,955 20,017 20,803
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,287 3,297 3,435
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.66 754.87 808.12
NZD 15,069 15,209 15,660
SEK - 2,679 2,774
DKK - 3,957 4,096
NOK - 2,684 2,780
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.36 - 6,785.05
TWD 732.78 - 887.08
SAR - 6,883.63 7,249.97
KWD - 83,192 88,508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,513 29,632 30,825
GBP 34,752 34,892 35,926
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,997 32,125 33,057
JPY 157.93 158.56 166.48
AUD 18,034 18,106 18,702
SGD 20,019 20,099 20,689
THB 762 765 801
CAD 18,434 18,508 19,090
NZD 15,118 15,663
KRW 16.95 18.77
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26480
AUD 18019 18119 19044
CAD 18417 18517 19533
CHF 32161 32191 33773
CNY 3821.3 3846.3 3981.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29618 29648 31371
GBP 34892 34942 36699
HKD 0 3355 0
JPY 158.38 158.88 169.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15180 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19982 20112 20839
THB 0 725.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14420000 14420000 14720000
SBJ 13000000 13000000 14720000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,116 26,166 26,490
USD20 26,116 26,166 26,490
USD1 26,116 26,166 26,490
AUD 18,084 18,184 19,289
EUR 29,426 29,526 31,183
CAD 18,365 18,465 19,772
SGD 20,061 20,211 20,830
JPY 158.91 160.41 165.95
GBP 34,778 34,928 36,001
XAU 14,418,000 0 14,722,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/07/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80