Hạ lãi suất, ngân hàng "xoay trục" nguồn vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - “Làn sóng” giảm lãi suất huy động sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước đang lan rộng, với mức giảm sâu nhất tới 1 điểm phần trăm ở kỳ hạn 24 tháng. Tuy nhiên, khi áp lực thanh khoản chưa hạ hoàn toàn, các ngân hàng chủ động “xoay trục” chiến lược huy động, linh hoạt giữa các thị trường, để vừa cân đối thanh khoản, vừa tối ưu chi phí vốn.
aa

Lãi suất đồng loạt giảm, áp lực thanh khoản vẫn chưa hạ hoàn toàn

Khảo sát ngày 23/4, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng ghi nhận làn sóng “hạ nhiệt” lan rộng tại 32 ngân hàng sau kỳ họp ngày 9/4 với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Biên độ giảm phổ biến quanh 0,5 điểm phần trăm, trải dài từ nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đến khối quốc doanh như: Techcombank, ACB, VietABank, PVcomBank, OCB, Vietcombank, BIDV, VietinBank, Agribank…

Một số nhà băng điều chỉnh mạnh tay hơn, như: PublicBank giảm tới 1 điểm phần trăm qua hai lần, VPBank cũng hạ tổng cộng 2 lần 0,6 điểm phần trăm. Ở nhóm giảm nhẹ hơn, BaoVietBank (giảm 0,45 điểm phần trăm), BacABank (hạ 0,35 điểm phần trăm), MB (giảm 0,3 điểm phần trăm); Sacombank, TPBank, MBV (giảm 0,2 điểm phần trăm)... Dù vậy, so với cuối quý III/2025 trước khi “làn sóng” tăng lãi suất dồn dập dâng, lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng hiện vẫn cao hơn từ 0,06 - 1,8 điểm phần trăm tại 36 ngân hàng.

Hạ lãi suất, ngân hàng
Đồ họa: Ánh Tuyết

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng “án binh bất động” như: VIB, PGBank, HSBC..., trong khi rất ít trường hợp đi ngược xu hướng, với MSB tăng 1 điểm phần trăm và Woori Bank tăng tới 1,6 điểm phần trăm.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa tổ chức, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng Giám đốc VPBank cho rằng, lãi suất huy động trên thị trường đã lên mức cao nhất trong vòng 3 năm gần đây tại hầu hết ngân hàng.

“Chúng tôi đánh giá xu hướng về lãi suất vẫn tiếp tục tồn tại ở mức cao trong một thời gian nữa và sau đó, có thể sang đến quý II/2026 hoặc quý III/2026 bắt đầu giảm dần” - ông Vinh đánh giá.

Cùng chung quan điểm, ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho rằng, lãi suất thời gian qua đã tăng khá mạnh, đặc biệt từ tháng 12/2025 và tiếp tục trong quý I/2026. Theo ông Phát, nguyên nhân chủ yếu đến từ sự chênh lệch giữa tăng trưởng cho vay và huy động trên thị trường, qua đó, tạo áp lực thúc đẩy các ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn.

Xu hướng lãi suất gia tăng là điều tất yếu và có thể kéo theo lãi suất cho vay tăng. Tuy nhiên, lãnh đạo ACB cho rằng, Ngân hàng Nhà nước sẽ có những giải pháp mạnh mẽ để kiểm soát cả hai đầu, gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay.

Tận dụng vốn ngoại để giảm áp lực huy động trong nước

Huy động đa phần ngắn hạn, trong khi rất nhiều khoản vay chúng ta là trung dài hạn. Cho nên việc vay vốn từ nước ngoài cũng phần nào đáp ứng được, giải quyết vấn đề huy động ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Quan trọng nguồn đó sẽ đỡ cho chúng ta rất nhiều về áp lực huy động trong nước. Kết hợp với tất cả các biện pháp đấy, có thể nói rằng huy động là một vấn đề khó khăn, nhưng VPBank đang giải quyết được.

Ông Ngô Chí Dũng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị VPBank

Nhấn mạnh áp lực thanh khoản, ông Ngô Chí Dũng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị VPBank cho biết, trong năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt khoảng 19%, trong khi huy động chỉ ở mức 15 - 16%, khiến độ chênh thanh khoản tiếp tục kéo dài và tiếp tục bộc lộ rõ năm nay.

Đà tăng này đến từ nhiều yếu tố, trong bối cảnh chung, riêng một số ngân hàng như VPBank ghi nhận mức tăng cao hơn, kéo theo áp lực lãi suất lớn hơn. Bên cạnh đó, việc áp dụng các quy định mới, đặc biệt là các chỉ số về huy động vốn, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR), cũng góp phần khiến mặt bằng lãi suất tăng lên.

Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu hệ thống ngân hàng thương mại điều chỉnh tốc độ huy động, đây là các biện pháp mang tính hành chính, nhưng được lãnh đạo VPBank đánh giá là khá tích cực.

Ở góc nhìn tương đồng, ông Phạm Như Ánh - Tổng Giám đốc MB cũng cho rằng, cơ bản do thị trường đang thiếu vốn, nên các ngân hàng buộc phải đẩy lãi suất lên cao. Việc hạ lãi suất ở thời điểm hiện tại là tín hiệu tốt, việc điều chỉnh đang diễn ra đồng loạt, khi nhiều ngân hàng nhỏ, ngân hàng lớn cùng giảm 0,5 điểm phần trăm.

Sau khi Thống đốc yêu cầu giảm lãi suất huy động, ngay lập tức MB đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động. Song song với đó, ngân hàng giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.

Ngân hàng “xoay xở” nguồn vốn

Trước áp lực huy động vốn để “nuôi” mục tiêu tăng trưởng tín dụng 30 - 35% trong năm nay, nhiều ngân hàng đồng loạt kích hoạt nhiều giải pháp, chủ động gia cố nguồn lực đầu vào cho hành trình tăng tốc.

Tổng giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh cho biết, trong giai đoạn vừa qua ngân hàng áp dụng mức lãi suất huy động tương đối cao, thuộc top 2 trong 4 nhóm có mặt bằng lãi suất huy động cao trong hệ thống, do xác định mục tiêu tăng trưởng cao năm 2026.

“Ban lãnh đạo đã quyết định rằng chúng ta phải chấp nhận chi phí vốn cao, để có đủ nguồn vốn hỗ trợ cho việc tăng trưởng của ngân hàng” - Tổng Giám đốc VPBank nhấn mạnh.

Bên cạnh hoạt động huy động trong nước, Chủ tịch VPBank Ngô Chí Dũng cho biết, ngân hàng còn triển khai nhiều giải pháp khác, trong đó có phối hợp với đối tác chiến lược là Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC), để huy động nguồn vốn từ nước ngoài. Trong một số thời điểm, đây là nguồn vốn có chi phí thấp hơn so với huy động trong nước, mang tính chất dài hạn, hỗ trợ tích cực cho hoạt động của VPBank.

Còn MB chủ động kiểm soát chi phí và duy trì mặt bằng lãi suất huy động đầu vào ở mức phù hợp, đồng thời chủ động cân đối nguồn vốn nhằm cải thiện biên lãi ròng (NIM). Tổng Giám đốc MB Phạm Như Ánh nêu rõ, lợi thế nổi bật của ngân hàng đến từ tệp khách hàng quy mô lớn, đạt khoảng 35 triệu trong năm 2025.

Nhờ nền tảng này, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) duy trì ở mức cao khoảng 36 - 37%, qua đó, giúp giảm chi phí vốn và tạo dư địa để MB đẩy mạnh tăng trưởng huy động. “Đây một lợi thế của MB, để đảm bảo được tốc độ tăng trưởng 3 năm tới” - ông Ánh nhấn mạnh.

Là một ngân hàng có quy mô “hạt tiêu”, song NCB cũng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao 35% năm nay. Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên vừa qua, lãnh đạo NCB cho biết, ngân hàng không đặt mục tiêu tham gia cuộc đua vào top đầu về huy động trên thị trường, nhằm tuân thủ chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc không đẩy lãi suất huy động lên cao, đồng thời tránh bào mòn hiệu quả kinh doanh.

Ông Tạ Kiều Hưng - Tổng Giám đốc NCB cho biết, ngân hàng tập trung tìm kiếm và chủ động trong hoạt động huy động vốn ngay từ cuối năm 2025, đồng thời đa dạng hóa nguồn vốn, bao gồm cả huy động trên thị trường liên ngân hàng.

Theo ông Hưng, trước đây NCB chưa từng được các ngân hàng khác cấp hạn mức tiền gửi không có tài sản bảo đảm, nhưng đến năm 2025 đã được cấp gần 5.000 tỷ đồng, cho thấy vị thế trên thị trường liên ngân hàng đã cải thiện rõ rệt. Trong bối cảnh lãi suất tăng nóng, ngân hàng gần như họp hàng ngày để theo sát diễn biến huy động, xây dựng kế hoạch vừa đảm bảo tăng trưởng vốn, vừa kiểm soát chi phí.

Bên cạnh việc duy trì các sản phẩm huy động truyền thống kỳ hạn 6 tháng, 12 tháng để ổn định nguồn vốn, NCB cũng chủ động đa dạng hóa danh mục, mở rộng các kỳ hạn ngắn hơn như 3 - 4 tháng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu kinh doanh trong giai đoạn lãi suất ở mức cao.

Đại diện Ngân hàng Nhà nước, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cũng nhấn mạnh quan điểm Ngân hàng Nhà nước là tiếp tục điều hành linh hoạt, yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng, dù đó là vấn đề rất khó khăn, thách thức lớn trong bối cảnh lạm phát đang có xu hướng tăng cao. Đây là bài toán lớn đặt ra đối với cả cơ quan điều hành chính sách tiền tệ, cũng như hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng nhẹ và tiếp tục giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm trong phiên cuối tuần.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Hà Nội - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Miền Tây - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800 ▼50K
Trang sức 99.9 13,390 ▲100K 13,990
Trang sức 99.99 13,400 ▲100K 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 1,415 ▲1274K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1238K 14,152 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1238K 14,153 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 ▼1228K 141 ▼1264K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 ▼1228K 1,411 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1201K 139 ▼1246K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▲495K 137,624 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▼84774K 10,441 ▼93594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲340K 94,679 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▲305K 84,948 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲291K 81,195 ▲291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▲43508K 58,119 ▲52328K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 1,415 ▲1274K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 1,415 ▲1274K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 1,415 ▲1274K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 1,415 ▲1274K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 1,415 ▲1274K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 1,415 ▲1274K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 1,415 ▲1274K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 1,415 ▲1274K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 1,415 ▲1274K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 1,415 ▲1274K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 1,415 ▲1274K
Cập nhật: 03/08/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17946 18220 18792
CAD 18197 18473 19092
CHF 31836 32217 32866
CNY 0 3852 3944
EUR 29671 29893 30972
GBP 34592 34984 35920
HKD 0 3221 3423
JPY 161 165 171
KRW 0 17 19
NZD 0 15166 15747
SGD 19975 20257 20828
THB 704 767 820
USD (1,2) 26021 0 0
USD (5,10,20) 26062 0 0
USD (50,100) 26091 26100 26464
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,100 26,100 26,480
USD(1-2-5) 25,056 - -
USD(10-20) 25,056 - -
EUR 29,709 29,733 31,142
JPY 163.34 163.63 173.51
GBP 34,762 34,856 36,067
AUD 18,136 18,202 18,894
CAD 18,384 18,443 19,118
CHF 32,086 32,186 33,141
SGD 20,090 20,152 20,938
CNY - 3,818 3,963
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.92 17.65 19.2
THB 751.85 761.14 814.84
NZD 15,130 15,270 15,723
SEK - 2,716 2,812
DKK - 3,985 4,126
NOK - 2,722 2,818
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.13 - 6,779.17
TWD 733.63 - 888.66
SAR - 6,880.63 7,247.23
KWD - 83,133 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,771 29,891 31,088
GBP 34,807 34,947 35,981
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,000 32,129 33,061
JPY 164.31 164.97 172.93
AUD 18,151 18,224 18,823
SGD 20,184 20,265 20,861
THB 769 772 808
CAD 18,415 18,489 19,073
NZD 15,248 15,795
KRW 17.57 19.53
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26500
AUD 18142 18242 19173
CAD 18392 18492 19503
CHF 32106 32136 33726
CNY 3835.9 3860.9 3996.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29870 29900 31628
GBP 34919 34969 36738
HKD 0 3355 0
JPY 164.68 165.18 175.73
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15289 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20152 20282 21003
THB 0 733.8 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13700000 13700000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,121 26,171 26,480
USD20 26,071 26,171 26,575
USD1 24,091 26,171 26,625
AUD 18,185 18,285 19,395
EUR 29,666 29,766 31,428
CAD 18,334 18,434 19,740
SGD 20,224 20,374 20,928
JPY 164.96 166.46 172.02
GBP 34,819 34,969 36,036
XAU 13,698,000 0 14,102,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80