Hạ lãi suất, ngân hàng "xoay trục" nguồn vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - “Làn sóng” giảm lãi suất huy động sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước đang lan rộng, với mức giảm sâu nhất tới 1 điểm phần trăm ở kỳ hạn 24 tháng. Tuy nhiên, khi áp lực thanh khoản chưa hạ hoàn toàn, các ngân hàng chủ động “xoay trục” chiến lược huy động, linh hoạt giữa các thị trường, để vừa cân đối thanh khoản, vừa tối ưu chi phí vốn.
aa

Lãi suất đồng loạt giảm, áp lực thanh khoản vẫn chưa hạ hoàn toàn

Khảo sát ngày 23/4, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng ghi nhận làn sóng “hạ nhiệt” lan rộng tại 32 ngân hàng sau kỳ họp ngày 9/4 với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Biên độ giảm phổ biến quanh 0,5 điểm phần trăm, trải dài từ nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đến khối quốc doanh như: Techcombank, ACB, VietABank, PVcomBank, OCB, Vietcombank, BIDV, VietinBank, Agribank…

Một số nhà băng điều chỉnh mạnh tay hơn, như: PublicBank giảm tới 1 điểm phần trăm qua hai lần, VPBank cũng hạ tổng cộng 2 lần 0,6 điểm phần trăm. Ở nhóm giảm nhẹ hơn, BaoVietBank (giảm 0,45 điểm phần trăm), BacABank (hạ 0,35 điểm phần trăm), MB (giảm 0,3 điểm phần trăm); Sacombank, TPBank, MBV (giảm 0,2 điểm phần trăm)... Dù vậy, so với cuối quý III/2025 trước khi “làn sóng” tăng lãi suất dồn dập dâng, lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng hiện vẫn cao hơn từ 0,06 - 1,8 điểm phần trăm tại 36 ngân hàng.

Hạ lãi suất, ngân hàng
Đồ họa: Ánh Tuyết

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng “án binh bất động” như: VIB, PGBank, HSBC..., trong khi rất ít trường hợp đi ngược xu hướng, với MSB tăng 1 điểm phần trăm và Woori Bank tăng tới 1,6 điểm phần trăm.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa tổ chức, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng Giám đốc VPBank cho rằng, lãi suất huy động trên thị trường đã lên mức cao nhất trong vòng 3 năm gần đây tại hầu hết ngân hàng.

“Chúng tôi đánh giá xu hướng về lãi suất vẫn tiếp tục tồn tại ở mức cao trong một thời gian nữa và sau đó, có thể sang đến quý II/2026 hoặc quý III/2026 bắt đầu giảm dần” - ông Vinh đánh giá.

Cùng chung quan điểm, ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho rằng, lãi suất thời gian qua đã tăng khá mạnh, đặc biệt từ tháng 12/2025 và tiếp tục trong quý I/2026. Theo ông Phát, nguyên nhân chủ yếu đến từ sự chênh lệch giữa tăng trưởng cho vay và huy động trên thị trường, qua đó, tạo áp lực thúc đẩy các ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn.

Xu hướng lãi suất gia tăng là điều tất yếu và có thể kéo theo lãi suất cho vay tăng. Tuy nhiên, lãnh đạo ACB cho rằng, Ngân hàng Nhà nước sẽ có những giải pháp mạnh mẽ để kiểm soát cả hai đầu, gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay.

Tận dụng vốn ngoại để giảm áp lực huy động trong nước

Huy động đa phần ngắn hạn, trong khi rất nhiều khoản vay chúng ta là trung dài hạn. Cho nên việc vay vốn từ nước ngoài cũng phần nào đáp ứng được, giải quyết vấn đề huy động ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Quan trọng nguồn đó sẽ đỡ cho chúng ta rất nhiều về áp lực huy động trong nước. Kết hợp với tất cả các biện pháp đấy, có thể nói rằng huy động là một vấn đề khó khăn, nhưng VPBank đang giải quyết được.

Ông Ngô Chí Dũng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị VPBank

Nhấn mạnh áp lực thanh khoản, ông Ngô Chí Dũng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị VPBank cho biết, trong năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt khoảng 19%, trong khi huy động chỉ ở mức 15 - 16%, khiến độ chênh thanh khoản tiếp tục kéo dài và tiếp tục bộc lộ rõ năm nay.

Đà tăng này đến từ nhiều yếu tố, trong bối cảnh chung, riêng một số ngân hàng như VPBank ghi nhận mức tăng cao hơn, kéo theo áp lực lãi suất lớn hơn. Bên cạnh đó, việc áp dụng các quy định mới, đặc biệt là các chỉ số về huy động vốn, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR), cũng góp phần khiến mặt bằng lãi suất tăng lên.

Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu hệ thống ngân hàng thương mại điều chỉnh tốc độ huy động, đây là các biện pháp mang tính hành chính, nhưng được lãnh đạo VPBank đánh giá là khá tích cực.

Ở góc nhìn tương đồng, ông Phạm Như Ánh - Tổng Giám đốc MB cũng cho rằng, cơ bản do thị trường đang thiếu vốn, nên các ngân hàng buộc phải đẩy lãi suất lên cao. Việc hạ lãi suất ở thời điểm hiện tại là tín hiệu tốt, việc điều chỉnh đang diễn ra đồng loạt, khi nhiều ngân hàng nhỏ, ngân hàng lớn cùng giảm 0,5 điểm phần trăm.

Sau khi Thống đốc yêu cầu giảm lãi suất huy động, ngay lập tức MB đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động. Song song với đó, ngân hàng giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.

Ngân hàng “xoay xở” nguồn vốn

Trước áp lực huy động vốn để “nuôi” mục tiêu tăng trưởng tín dụng 30 - 35% trong năm nay, nhiều ngân hàng đồng loạt kích hoạt nhiều giải pháp, chủ động gia cố nguồn lực đầu vào cho hành trình tăng tốc.

Tổng giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh cho biết, trong giai đoạn vừa qua ngân hàng áp dụng mức lãi suất huy động tương đối cao, thuộc top 2 trong 4 nhóm có mặt bằng lãi suất huy động cao trong hệ thống, do xác định mục tiêu tăng trưởng cao năm 2026.

“Ban lãnh đạo đã quyết định rằng chúng ta phải chấp nhận chi phí vốn cao, để có đủ nguồn vốn hỗ trợ cho việc tăng trưởng của ngân hàng” - Tổng Giám đốc VPBank nhấn mạnh.

Bên cạnh hoạt động huy động trong nước, Chủ tịch VPBank Ngô Chí Dũng cho biết, ngân hàng còn triển khai nhiều giải pháp khác, trong đó có phối hợp với đối tác chiến lược là Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC), để huy động nguồn vốn từ nước ngoài. Trong một số thời điểm, đây là nguồn vốn có chi phí thấp hơn so với huy động trong nước, mang tính chất dài hạn, hỗ trợ tích cực cho hoạt động của VPBank.

Còn MB chủ động kiểm soát chi phí và duy trì mặt bằng lãi suất huy động đầu vào ở mức phù hợp, đồng thời chủ động cân đối nguồn vốn nhằm cải thiện biên lãi ròng (NIM). Tổng Giám đốc MB Phạm Như Ánh nêu rõ, lợi thế nổi bật của ngân hàng đến từ tệp khách hàng quy mô lớn, đạt khoảng 35 triệu trong năm 2025.

Nhờ nền tảng này, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) duy trì ở mức cao khoảng 36 - 37%, qua đó, giúp giảm chi phí vốn và tạo dư địa để MB đẩy mạnh tăng trưởng huy động. “Đây một lợi thế của MB, để đảm bảo được tốc độ tăng trưởng 3 năm tới” - ông Ánh nhấn mạnh.

Là một ngân hàng có quy mô “hạt tiêu”, song NCB cũng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao 35% năm nay. Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên vừa qua, lãnh đạo NCB cho biết, ngân hàng không đặt mục tiêu tham gia cuộc đua vào top đầu về huy động trên thị trường, nhằm tuân thủ chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc không đẩy lãi suất huy động lên cao, đồng thời tránh bào mòn hiệu quả kinh doanh.

Ông Tạ Kiều Hưng - Tổng Giám đốc NCB cho biết, ngân hàng tập trung tìm kiếm và chủ động trong hoạt động huy động vốn ngay từ cuối năm 2025, đồng thời đa dạng hóa nguồn vốn, bao gồm cả huy động trên thị trường liên ngân hàng.

Theo ông Hưng, trước đây NCB chưa từng được các ngân hàng khác cấp hạn mức tiền gửi không có tài sản bảo đảm, nhưng đến năm 2025 đã được cấp gần 5.000 tỷ đồng, cho thấy vị thế trên thị trường liên ngân hàng đã cải thiện rõ rệt. Trong bối cảnh lãi suất tăng nóng, ngân hàng gần như họp hàng ngày để theo sát diễn biến huy động, xây dựng kế hoạch vừa đảm bảo tăng trưởng vốn, vừa kiểm soát chi phí.

Bên cạnh việc duy trì các sản phẩm huy động truyền thống kỳ hạn 6 tháng, 12 tháng để ổn định nguồn vốn, NCB cũng chủ động đa dạng hóa danh mục, mở rộng các kỳ hạn ngắn hơn như 3 - 4 tháng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu kinh doanh trong giai đoạn lãi suất ở mức cao.

Đại diện Ngân hàng Nhà nước, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cũng nhấn mạnh quan điểm Ngân hàng Nhà nước là tiếp tục điều hành linh hoạt, yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng, dù đó là vấn đề rất khó khăn, thách thức lớn trong bối cảnh lạm phát đang có xu hướng tăng cao. Đây là bài toán lớn đặt ra đối với cả cơ quan điều hành chính sách tiền tệ, cũng như hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

“Trọn Lễ an vui”: Bảo Việt Nhân thọ tri ân khách hàng dịp Lễ giỗ Tổ và 30/4 – 1/5 với 4.400 quà tặng ý nghĩa

“Trọn Lễ an vui”: Bảo Việt Nhân thọ tri ân khách hàng dịp Lễ giỗ Tổ và 30/4 – 1/5 với 4.400 quà tặng ý nghĩa

(TBTCO) - Dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ và 30/4 - 1/5 là thời điểm nhiều gia đình Việt lên kế hoạch nghỉ ngơi, du lịch và đồng thời cân nhắc các giải pháp bảo vệ tài chính, sức khỏe cho tương lai. Việc chuẩn bị vững vàng từ sớm đang trở thành xu hướng giúp các gia đình chủ động hơn trước những biến động trong cuộc sống.
Đại hội đồng cổ đông Techcombank: Chia cổ tức "khủng" 67%, kiểm soát nợ xấu bất động sản dưới 1%

Đại hội đồng cổ đông Techcombank: Chia cổ tức "khủng" 67%, kiểm soát nợ xấu bất động sản dưới 1%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng hai kịch bản kinh doanh 2026, đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tối đa 37.500 tỷ đồng; đồng thời kiểm soát nợ xấu dưới 1,5-2%. Lãnh đạo Techcombank cho biết, với lĩnh vực bất động sản, nợ xấu vẫn duy trì dưới 1% dù tỷ trọng cho vay cao. Ngân hàng dự kiến chia cổ tức tiền mặt 7%, phát hành cổ phiếu tỷ lệ 60%, nâng vốn điều lệ lên 113.738 tỷ đồng, dẫn đầu hệ thống.
VietBank dự kiến lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 2.100 tỷ đồng, niêm yết trên HOSE quý II/2026

VietBank dự kiến lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 2.100 tỷ đồng, niêm yết trên HOSE quý II/2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (Vietbank, mã ck: VBB) vừa tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026, thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 15.500 tỷ đồng, mục tiêu kinh doanh năm 2026 và các định hướng phát triển dài hạn.
Đưa quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung thành “mạch dẫn” vốn dài hạn

Đưa quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung thành “mạch dẫn” vốn dài hạn

(TBTCO) - Khung pháp lý mới đang mở rộng dư địa đầu tư, cùng các ưu đãi thuế tiếp tục tăng sức hấp dẫn của quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Kinh nghiệm từ mô hình 401(k) tại Mỹ cho thấy, quỹ hưu trí không chỉ là “tấm đệm” tài chính cho người lao động khi về hưu, mà còn là “mạch vốn” bền bỉ, tạo lực đỡ phát triển thị trường vốn.
Đại hội đồng cổ đông BIDV: Mục tiêu lọt top khu vực, dồn lực đẩy vốn điều lệ lên mốc 100.000 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông BIDV: Mục tiêu lọt top khu vực, dồn lực đẩy vốn điều lệ lên mốc 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Năm 2026, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản 5 - 10%, kiểm soát nợ xấu dưới 1,6% và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn, hướng tới trở thành ngân hàng lớn - mạnh - xanh hàng đầu Đông Nam Á, sớm lọt top châu Á. BIDV cũng triển khai nhiều cổ phần, đẩy mạnh tăng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng, cải thiện hệ số CAR.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Đại hội cổ đông HDBank 2026: Đặt kế hoạch lợi nhuận tăng 41%, quy mô tiệm cận 1,2 triệu tỷ đồng

Đại hội cổ đông HDBank 2026: Đặt kế hoạch lợi nhuận tăng 41%, quy mô tiệm cận 1,2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Ngày 24/4/2026, Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; Ck: HDB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, kết hợp chương trình gặp gỡ và đối thoại nhà đầu tư, thu hút đông đảo cổ đông, các quỹ đầu tư quốc tế và nhiều định chế tài chính lớn trong và ngoài nước.
Đại hội cổ đông DBV: Tăng tốc doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt 6.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu bứt phá top 4

Đại hội cổ đông DBV: Tăng tốc doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt 6.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu bứt phá top 4

(TBTCO) - Bảo hiểm DBV hướng tới Top 4 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, với kế hoạch doanh thu bảo hiểm gốc chiếm 6.200 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế 44 tỷ đồng; đồng thời, tái cấu trúc danh mục sản phẩm, đẩy mạnh chuyển đổi số và mở rộng hệ sinh thái. DBV tiếp tục giữ lại lợi nhuận, để củng cố nền tảng tài chính và phục vụ tăng trưởng dài hạn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,630 16,880
Kim TT/AVPL 16,630 16,880
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,580 16,880
Nguyên Liệu 99.99 15,540 15,740
Nguyên Liệu 99.9 15,490 15,690
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,340 16,740
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,290 16,690
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,220 16,670
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 165,800 168,800
Hà Nội - PNJ 165,800 168,800
Đà Nẵng - PNJ 165,800 168,800
Miền Tây - PNJ 165,800 168,800
Tây Nguyên - PNJ 165,800 168,800
Đông Nam Bộ - PNJ 165,800 168,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,630 16,880
Miếng SJC Nghệ An 16,630 16,880
Miếng SJC Thái Bình 16,630 16,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,580 16,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,580 16,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,580 16,880
NL 99.90 15,400
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,450
Trang sức 99.9 16,070 16,770
Trang sức 99.99 16,080 16,780
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,663 16,882
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,663 16,883
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,658 1,683
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,658 1,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,638 1,668
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 158,649 165,149
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 116,363 125,263
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 104,685 113,585
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 93,008 101,908
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 88,504 97,404
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 60,813 69,713
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Cập nhật: 28/04/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18312 18588 19173
CAD 18749 19027 19644
CHF 32913 33298 33949
CNY 0 3814 3907
EUR 30248 30522 31561
GBP 34857 35250 36193
HKD 0 3233 3436
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15183 15771
SGD 20111 20394 20921
THB 729 792 847
USD (1,2) 26090 0 0
USD (5,10,20) 26132 0 0
USD (50,100) 26160 26180 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,368
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,326 30,350 31,616
JPY 160.92 161.21 169.94
GBP 34,927 35,022 36,021
AUD 18,473 18,540 19,130
CAD 18,909 18,970 19,555
CHF 33,138 33,241 34,016
SGD 20,235 20,298 20,977
CNY - 3,790 3,912
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.39 17.09 18.5
THB 775.36 784.94 836.32
NZD 15,112 15,252 15,610
SEK - 2,804 2,886
DKK - 4,058 4,177
NOK - 2,779 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,222.5 - 6,984.19
TWD 756.54 - 911.21
SAR - 6,923.57 7,250.83
KWD - 83,846 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,211 30,332 31,512
GBP 34,847 34,987 35,995
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,910 33,042 33,977
JPY 160.98 161.63 168.89
AUD 18,436 18,510 19,104
SGD 20,253 20,334 20,915
THB 791 794 829
CAD 18,877 18,953 19,527
NZD 15,187 15,719
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26226 26226 26368
AUD 18443 18543 19469
CAD 18902 19002 20013
CHF 33092 33122 34705
CNY 3795.3 3820.3 3955.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30352 30382 32107
GBP 35033 35083 36841
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.53
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15233 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20240 20370 21102
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16600000 16600000 16900000
SBJ 15000000 15000000 16900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,148 26,138 26,368
USD20 26,148 26,138 26,368
USD1 26,148 26,138 26,368
AUD 18,465 18,565 19,703
EUR 30,463 30,463 31,927
CAD 18,821 18,921 20,264
SGD 20,290 20,440 21,130
JPY 161.74 163.24 168.09
GBP 34,871 35,221 36,141
XAU 16,618,000 0 16,872,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/04/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80