Hạ lãi suất, ngân hàng "xoay trục" nguồn vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - “Làn sóng” giảm lãi suất huy động sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước đang lan rộng, với mức giảm sâu nhất tới 1 điểm phần trăm ở kỳ hạn 24 tháng. Tuy nhiên, khi áp lực thanh khoản chưa hạ hoàn toàn, các ngân hàng chủ động “xoay trục” chiến lược huy động, linh hoạt giữa các thị trường, để vừa cân đối thanh khoản, vừa tối ưu chi phí vốn.
aa

Lãi suất đồng loạt giảm, áp lực thanh khoản vẫn chưa hạ hoàn toàn

Khảo sát ngày 23/4, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng ghi nhận làn sóng “hạ nhiệt” lan rộng tại 32 ngân hàng sau kỳ họp ngày 9/4 với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Biên độ giảm phổ biến quanh 0,5 điểm phần trăm, trải dài từ nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đến khối quốc doanh như: Techcombank, ACB, VietABank, PVcomBank, OCB, Vietcombank, BIDV, VietinBank, Agribank…

Một số nhà băng điều chỉnh mạnh tay hơn, như: PublicBank giảm tới 1 điểm phần trăm qua hai lần, VPBank cũng hạ tổng cộng 2 lần 0,6 điểm phần trăm. Ở nhóm giảm nhẹ hơn, BaoVietBank (giảm 0,45 điểm phần trăm), BacABank (hạ 0,35 điểm phần trăm), MB (giảm 0,3 điểm phần trăm); Sacombank, TPBank, MBV (giảm 0,2 điểm phần trăm)... Dù vậy, so với cuối quý III/2025 trước khi “làn sóng” tăng lãi suất dồn dập dâng, lãi suất huy động kỳ hạn 24 tháng hiện vẫn cao hơn từ 0,06 - 1,8 điểm phần trăm tại 36 ngân hàng.

Hạ lãi suất, ngân hàng
Đồ họa: Ánh Tuyết

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng “án binh bất động” như: VIB, PGBank, HSBC..., trong khi rất ít trường hợp đi ngược xu hướng, với MSB tăng 1 điểm phần trăm và Woori Bank tăng tới 1,6 điểm phần trăm.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa tổ chức, ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng Giám đốc VPBank cho rằng, lãi suất huy động trên thị trường đã lên mức cao nhất trong vòng 3 năm gần đây tại hầu hết ngân hàng.

“Chúng tôi đánh giá xu hướng về lãi suất vẫn tiếp tục tồn tại ở mức cao trong một thời gian nữa và sau đó, có thể sang đến quý II/2026 hoặc quý III/2026 bắt đầu giảm dần” - ông Vinh đánh giá.

Cùng chung quan điểm, ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho rằng, lãi suất thời gian qua đã tăng khá mạnh, đặc biệt từ tháng 12/2025 và tiếp tục trong quý I/2026. Theo ông Phát, nguyên nhân chủ yếu đến từ sự chênh lệch giữa tăng trưởng cho vay và huy động trên thị trường, qua đó, tạo áp lực thúc đẩy các ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn.

Xu hướng lãi suất gia tăng là điều tất yếu và có thể kéo theo lãi suất cho vay tăng. Tuy nhiên, lãnh đạo ACB cho rằng, Ngân hàng Nhà nước sẽ có những giải pháp mạnh mẽ để kiểm soát cả hai đầu, gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay.

Tận dụng vốn ngoại để giảm áp lực huy động trong nước

Huy động đa phần ngắn hạn, trong khi rất nhiều khoản vay chúng ta là trung dài hạn. Cho nên việc vay vốn từ nước ngoài cũng phần nào đáp ứng được, giải quyết vấn đề huy động ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Quan trọng nguồn đó sẽ đỡ cho chúng ta rất nhiều về áp lực huy động trong nước. Kết hợp với tất cả các biện pháp đấy, có thể nói rằng huy động là một vấn đề khó khăn, nhưng VPBank đang giải quyết được.

Ông Ngô Chí Dũng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị VPBank

Nhấn mạnh áp lực thanh khoản, ông Ngô Chí Dũng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị VPBank cho biết, trong năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt khoảng 19%, trong khi huy động chỉ ở mức 15 - 16%, khiến độ chênh thanh khoản tiếp tục kéo dài và tiếp tục bộc lộ rõ năm nay.

Đà tăng này đến từ nhiều yếu tố, trong bối cảnh chung, riêng một số ngân hàng như VPBank ghi nhận mức tăng cao hơn, kéo theo áp lực lãi suất lớn hơn. Bên cạnh đó, việc áp dụng các quy định mới, đặc biệt là các chỉ số về huy động vốn, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR), cũng góp phần khiến mặt bằng lãi suất tăng lên.

Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu hệ thống ngân hàng thương mại điều chỉnh tốc độ huy động, đây là các biện pháp mang tính hành chính, nhưng được lãnh đạo VPBank đánh giá là khá tích cực.

Ở góc nhìn tương đồng, ông Phạm Như Ánh - Tổng Giám đốc MB cũng cho rằng, cơ bản do thị trường đang thiếu vốn, nên các ngân hàng buộc phải đẩy lãi suất lên cao. Việc hạ lãi suất ở thời điểm hiện tại là tín hiệu tốt, việc điều chỉnh đang diễn ra đồng loạt, khi nhiều ngân hàng nhỏ, ngân hàng lớn cùng giảm 0,5 điểm phần trăm.

Sau khi Thống đốc yêu cầu giảm lãi suất huy động, ngay lập tức MB đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động. Song song với đó, ngân hàng giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.

Ngân hàng “xoay xở” nguồn vốn

Trước áp lực huy động vốn để “nuôi” mục tiêu tăng trưởng tín dụng 30 - 35% trong năm nay, nhiều ngân hàng đồng loạt kích hoạt nhiều giải pháp, chủ động gia cố nguồn lực đầu vào cho hành trình tăng tốc.

Tổng giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh cho biết, trong giai đoạn vừa qua ngân hàng áp dụng mức lãi suất huy động tương đối cao, thuộc top 2 trong 4 nhóm có mặt bằng lãi suất huy động cao trong hệ thống, do xác định mục tiêu tăng trưởng cao năm 2026.

“Ban lãnh đạo đã quyết định rằng chúng ta phải chấp nhận chi phí vốn cao, để có đủ nguồn vốn hỗ trợ cho việc tăng trưởng của ngân hàng” - Tổng Giám đốc VPBank nhấn mạnh.

Bên cạnh hoạt động huy động trong nước, Chủ tịch VPBank Ngô Chí Dũng cho biết, ngân hàng còn triển khai nhiều giải pháp khác, trong đó có phối hợp với đối tác chiến lược là Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC), để huy động nguồn vốn từ nước ngoài. Trong một số thời điểm, đây là nguồn vốn có chi phí thấp hơn so với huy động trong nước, mang tính chất dài hạn, hỗ trợ tích cực cho hoạt động của VPBank.

Còn MB chủ động kiểm soát chi phí và duy trì mặt bằng lãi suất huy động đầu vào ở mức phù hợp, đồng thời chủ động cân đối nguồn vốn nhằm cải thiện biên lãi ròng (NIM). Tổng Giám đốc MB Phạm Như Ánh nêu rõ, lợi thế nổi bật của ngân hàng đến từ tệp khách hàng quy mô lớn, đạt khoảng 35 triệu trong năm 2025.

Nhờ nền tảng này, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) duy trì ở mức cao khoảng 36 - 37%, qua đó, giúp giảm chi phí vốn và tạo dư địa để MB đẩy mạnh tăng trưởng huy động. “Đây một lợi thế của MB, để đảm bảo được tốc độ tăng trưởng 3 năm tới” - ông Ánh nhấn mạnh.

Là một ngân hàng có quy mô “hạt tiêu”, song NCB cũng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao 35% năm nay. Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên vừa qua, lãnh đạo NCB cho biết, ngân hàng không đặt mục tiêu tham gia cuộc đua vào top đầu về huy động trên thị trường, nhằm tuân thủ chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc không đẩy lãi suất huy động lên cao, đồng thời tránh bào mòn hiệu quả kinh doanh.

Ông Tạ Kiều Hưng - Tổng Giám đốc NCB cho biết, ngân hàng tập trung tìm kiếm và chủ động trong hoạt động huy động vốn ngay từ cuối năm 2025, đồng thời đa dạng hóa nguồn vốn, bao gồm cả huy động trên thị trường liên ngân hàng.

Theo ông Hưng, trước đây NCB chưa từng được các ngân hàng khác cấp hạn mức tiền gửi không có tài sản bảo đảm, nhưng đến năm 2025 đã được cấp gần 5.000 tỷ đồng, cho thấy vị thế trên thị trường liên ngân hàng đã cải thiện rõ rệt. Trong bối cảnh lãi suất tăng nóng, ngân hàng gần như họp hàng ngày để theo sát diễn biến huy động, xây dựng kế hoạch vừa đảm bảo tăng trưởng vốn, vừa kiểm soát chi phí.

Bên cạnh việc duy trì các sản phẩm huy động truyền thống kỳ hạn 6 tháng, 12 tháng để ổn định nguồn vốn, NCB cũng chủ động đa dạng hóa danh mục, mở rộng các kỳ hạn ngắn hơn như 3 - 4 tháng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu kinh doanh trong giai đoạn lãi suất ở mức cao.

Đại diện Ngân hàng Nhà nước, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cũng nhấn mạnh quan điểm Ngân hàng Nhà nước là tiếp tục điều hành linh hoạt, yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng, dù đó là vấn đề rất khó khăn, thách thức lớn trong bối cảnh lạm phát đang có xu hướng tăng cao. Đây là bài toán lớn đặt ra đối với cả cơ quan điều hành chính sách tiền tệ, cũng như hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/6): Tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, DXY suy yếu sau tín hiệu kết thúc xung đột Mỹ - Iran gần 4 tháng

Tỷ giá USD hôm nay (15/6): Tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, DXY suy yếu sau tín hiệu kết thúc xung đột Mỹ - Iran gần 4 tháng

(TBTCO) - Sáng 15/6, tỷ giá trung tâm công bố ở mức 25.165 đồng, tăng 10 đồng so với cuối tuần trước. Trong khi đó, tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.300 - 26.320 VND/USD, tăng 50 - 60 đồng hai chiều. DXY suy yếu hiện ở mức 99,57 điểm, giảm 0,18%, sau thông tin Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận nhằm chấm dứt xung đột kéo dài gần 4 tháng.
BIDV là Ngân hàng thanh toán duy nhất cho thị trường giao dịch các-bon tại Việt Nam

BIDV là Ngân hàng thanh toán duy nhất cho thị trường giao dịch các-bon tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 9/6/2026, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã có Công văn số 5170/UBCK-PTTT về việc lựa chọn ngân hàng thanh toán cho thị trường giao dịch các-bon trong nước. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV; mã Ck: BID) đã chính thức trở thành Ngân hàng duy nhất cung cấp dịch vụ thanh toán tiền cho giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon trên sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

(TBTCO) - Top 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 12.710 tỷ đồng trong quý đầu năm, chiếm gần 52% thị phần; trong đó, DBV vươn lên vị trí thứ 4 và MIC trở lại top 5, cho thấy cuộc đua thị phần ngày càng nóng lên. Chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng giúp các doanh nghiệp tăng doanh thu và mở rộng thị phần.
NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

(TBTCO) - Với NCB Visa Sun Signature, lần đầu tiên khách hàng có thể sở hữu một chiếc thẻ tín dụng ngân hàng tích hợp đồng thời các đặc quyền dành cho hội viên trong hệ sinh thái du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, bất động sản, hàng không và y tế cao cấp hàng đầu Việt Nam.
Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% đến hết năm 2026, đồng VND có thể chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực.
MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi, địa điểm đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

(TBTCO) - Trong 5 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị được giao, đạt nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực công tác.
Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

(TBTCO) - Lập "hattrick" công nghệ tại The Asian Banker 2026, TPBank khẳng định chiến lược đúng đắn khi đưa trí tuệ nhân tạo (AI) và số hóa vào tối ưu hóa năng lực vận hành, nâng tầm trải nghiệm khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Kim TT/AVPL 14,850 ▲450K 15,100 ▲400K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,850 ▲450K 15,100 ▲400K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▲550K 14,600 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▲550K 14,550 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,500 ▲250K 14,900 ▲250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,450 ▲250K 14,850 ▲250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,380 ▲250K 14,830 ▲250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Nghệ An 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Thái Bình 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
NL 99.90 13,900 ▲450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,950 ▲450K
Trang sức 99.9 14,240 ▲350K 14,940 ▲350K
Trang sức 99.99 14,250 ▲350K 14,950 ▲350K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 ▲4K 15,052 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 ▲4K 15,053 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 ▲40K 1,504 ▲35K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 ▲40K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 ▲40K 1,489 ▲35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,426 ▲126730K 147,426 ▲133030K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,336 ▲2625K 111,836 ▲2625K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,912 ▲2380K 101,412 ▲2380K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,488 ▲2135K 90,988 ▲2135K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,467 ▲2040K 86,967 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,748 ▲1460K 62,248 ▲1460K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cập nhật: 15/06/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18062 18337 18913
CAD 18284 18560 19176
CHF 32486 32870 33522
CNY 0 3849 3942
EUR 29883 30106 31183
GBP 34508 34900 35834
HKD 0 3224 3426
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15059 15647
SGD 19972 20254 20827
THB 722 786 839
USD (1,2) 26023 0 0
USD (5,10,20) 26064 0 0
USD (50,100) 26093 26107 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,423
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 30,010 30,034 31,393
JPY 159.81 160.1 169.37
GBP 34,721 34,815 35,934
AUD 18,262 18,328 18,977
CAD 18,474 18,533 19,172
CHF 32,715 32,817 33,701
SGD 20,093 20,155 20,902
CNY - 3,819 3,955
HKD 3,290 3,300 3,431
KRW 16.01 16.7 18.12
THB 769.65 779.16 832
NZD 15,049 15,189 15,604
SEK - 2,756 2,847
DKK - 4,015 4,147
NOK - 2,723 2,812
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,075.17 - 6,842.18
TWD 752.68 - 909.68
SAR - 6,892.18 7,242.86
KWD - 83,429 88,559
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,423
EUR 29,963 30,083 31,272
GBP 34,754 34,894 35,914
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,568 32,699 33,616
JPY 160.23 160.87 168.71
AUD 18,254 18,327 18,920
SGD 20,186 20,267 20,853
THB 788 791 825
CAD 18,496 18,570 19,135
NZD 15,136 15,674
KRW 16.73 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26423
AUD 18256 18356 19281
CAD 18471 18571 19586
CHF 32704 32734 34317
CNY 3831.1 3856.1 3991.6
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30048 30078 31803
GBP 34829 34879 36647
HKD 0 3355 0
JPY 160.69 161.19 171.73
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20130 20260 20990
THB 0 752.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,117 26,167 26,423
USD20 26,117 26,167 26,423
USD1 23,907 26,167 26,423
AUD 18,285 18,385 19,498
EUR 30,206 30,206 31,616
CAD 18,407 18,507 19,814
SGD 20,208 20,358 20,913
JPY 161.2 162.7 167.24
GBP 34,719 35,069 35,932
XAU 14,789,000 0 15,052,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/06/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80