Cuộc đua tiền gửi không kỳ hạn với nhiều nhân tố dẫn dắt

ThS. Trần Trọng Triết
(TBTCO) - Cuộc cạnh tranh CASA (tiền gửi không kỳ hạn) trong ngành ngân hàng đang bước sang một giai đoạn mới. Khác với lợi thế trước đây chủ yếu đến từ "cuộc chơi" công nghệ và miễn phí dịch vụ, nay yếu tố quyết định là năng lực kiểm soát dòng tiền thực tế của khách hàng trong toàn bộ hệ sinh thái.
aa

Không còn là “trái ngọt dễ hái”

Từng là “mỏ vàng” giúp ngân hàng duy trì chi phí vốn thấp và biên lãi thuần (NIM) hấp dẫn, CASA hiện đang bước vào giai đoạn cạnh tranh khốc liệt nhất trong nhiều năm trở lại đây. Khi lãi suất huy động tăng trở lại, dòng tiền nhàn rỗi không còn nằm yên trong tài khoản thanh toán, buộc các ngân hàng phải bước vào “cuộc đua” hoàn toàn mới, đó là xây dựng hệ sinh thái đủ sâu, để giữ khách hàng ở lại bằng dòng tiền giao dịch thực, thay vì chỉ bằng ưu đãi miễn phí chuyển khoản như trước.

Dữ liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng cho thấy, CASA đang đối mặt áp lực suy giảm rõ nét trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn gia tăng và mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao. Tính đến cuối quý I/2026, có tới 24/27 ngân hàng niêm yết ghi nhận tỷ lệ CASA thu hẹp so với cuối năm trước, phản ánh xu hướng suy giảm trên diện rộng của nguồn vốn không kỳ hạn. Đây cũng là đợt giảm đồng loạt mạnh nhất của CASA trong nhiều năm trở lại đây kể từ sau đại dịch Covid-19, cho thấy cuộc đua giữ dòng tiền ngày càng khốc liệt.

Cuộc đua tiền gửi không kỳ hạn với nhiều nhân tố dẫn dắt
Nguồn: Dữ liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Sự đi xuống này phản ánh áp lực thanh khoản thực sự của hệ thống ngân hàng, trong bối cảnh tín dụng tăng tốc mạnh trở lại nhưng huy động vốn không theo kịp. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thấy, tăng trưởng tín dụng đầu năm 2026 đã vượt xa tốc độ huy động, khiến bài toán vốn trở thành áp lực lớn nhất đối với nhiều ngân hàng.

Trong khi đó, mặt bằng lãi suất huy động đang bước vào chu kỳ tăng mới, khiến dòng tiền nhàn rỗi có xu hướng dịch chuyển khỏi tài khoản thanh toán để tìm kiếm lợi suất cao hơn. Điều này khiến CASA - vốn được xem là nguồn vốn “giá rẻ” - ngày càng trở nên đắt giá.

Nếu giai đoạn 2020 - 2023 là thời kỳ “bùng nổ” CASA nhờ số hóa ngân hàng và chính sách miễn phí chuyển khoản thì hiện nay lợi thế đó gần như đã bị xóa nhòa. Hầu hết các ngân hàng đều miễn phí giao dịch, ứng dụng ngân hàng số tương đồng về trải nghiệm và tốc độ xử lý. Khoảng cách cạnh tranh giờ đây không còn nằm ở việc có app (ứng dụng) ngân hàng tốt hay không, mà là ngân hàng nào giữ được dòng tiền vận hành hàng ngày của khách hàng.

Cuộc đua giành dòng tiền thực

Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất của thị trường là nếu trước đây chính sách miễn phí chuyển khoản có thể tạo ra làn sóng CASA mạnh mẽ, song hiện nay gần như toàn ngành đều áp dụng mức phí bằng 0.

Một thực tế khác đang diễn ra là khách hàng ngày nay không còn duy trì số dư tài khoản lớn, chỉ vì tiện lợi chuyển khoản. Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở chỗ CASA hiện không còn là “tiền gửi nhàn rỗi”, mà là giữ dòng tiền vận hành thường xuyên.

Cuộc cạnh tranh sâu hơn về hệ sinh thái, dữ liệu và dòng tiền

Quá trình hồi phục CASA toàn ngành ngân hàng chắc chắn sẽ cần thêm nhiều thời gian và rất khó để quay trở lại vùng đỉnh cao của giai đoạn đầu năm 2022 khi mặt bằng lãi suất đầu vào hiện đã xác lập một nền giá mới. CASA vẫn sẽ đóng vai trò là “lá chắn” kiên cố nhất để bảo vệ NIM và thanh khoản cho các ngân hàng. Tuy nhiên, để sở hữu “lá chắn” đó, các nhà băng sẽ phải bước vào cuộc cạnh tranh sâu hơn rất nhiều, đó là cuộc cạnh tranh về hệ sinh thái, dữ liệu và khả năng giữ dòng tiền thực trong nền kinh tế.

Đó cũng là lý do nhiều ngân hàng hiện chuyển hướng từ mục tiêu mở nhiều tài khoản sang mục tiêu trở thành ngân hàng giao dịch chính. Đây là khác biệt rất lớn. Một khách hàng có thể mở 5 - 7 tài khoản ngân hàng khác nhau, nhưng chỉ có một tài khoản thực sự là trung tâm dòng tiền hàng ngày. Ngân hàng nào giành được vị trí đó sẽ nắm lợi thế CASA dài hạn.

Nhóm ngân hàng dẫn đầu về CASA hiện nay đều sở hữu những lợi thế riêng trong việc thu hút và duy trì dòng tiền khách hàng. Tính đến cuối quý I/2026, Vietcombank đứng đầu hệ thống với tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn/tổng tiền gửi khách hàng khoảng 32,6%, dù đã giảm gần 3 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Xếp sau là MB với 32,3% và Techcombank với 31,4%.

Có thể thấy điểm chung của các ngân hàng này là khả năng kiểm soát dòng tiền giao dịch rất mạnh. MB sở hữu hệ sinh thái quân đội, khách hàng trả lương và nền tảng số có tần suất giao dịch cao. Còn Vietcombank duy trì lợi thế lớn nhờ lượng tài khoản chi trả lương khổng lồ từ khu vực hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp FDI.

Trong khi đó, Techcombank nhiều năm theo đuổi chiến lược “Zero Fee”, đồng thời xây dựng hệ sinh thái tài chính, chứng khoán, bảo hiểm và bất động sản nhằm gia tăng mức độ gắn kết khách hàng và duy trì dòng tiền trong hệ thống.

Giữ CASA bằng sức mạnh hệ sinh thái

Bên cạnh đó, cuộc đua CASA đang dịch chuyển nhanh từ mô hình ngân hàng giao dịch truyền thống sang mô hình “siêu hệ sinh thái tài chính”. Các ngân hàng không chỉ cạnh tranh bằng lãi suất hay nền tảng số, mà hướng tới việc hiện diện trong toàn bộ vòng đời tài chính của khách hàng.

Khách hàng sẽ giữ tiền ở ngân hàng nào giao dịch thuận tiện hơn, kết nối đa nền tảng hơn, xử lý tài chính cá nhân tốt hơn, tích hợp đầu tư và tiêu dùng tốt hơn, chăm sóc khách hàng nhanh hơn và có hệ sinh thái phong phú hơn.

Ông Phan Hoàng Minh - Trưởng phòng khách hàng doanh nghiệp - Ngân hàng Agribank Chi nhánh An Giang cho rằng, muốn giữ CASA, ngân hàng phải giữ được đời sống tài chính của khách hàng. Giai đoạn CASA tăng trưởng dễ dàng nhờ miễn phí giao dịch đã kết thúc. Cuộc cạnh tranh hiện nay chuyển sang năng lực kiểm soát dòng tiền thật trong nền kinh tế.

Theo ông Minh, để thu hút CASA một cách bền vững, các ngân hàng đang tập trung vào một số giải pháp.

Trọng tâm là xây dựng hệ sinh thái tiêu dùng đủ rộng để hiện diện trong toàn bộ hành trình chi tiêu của khách hàng, từ thanh toán hóa đơn, mua sắm, giáo dục, y tế đến đầu tư và bảo hiểm. Đồng thời, ngân hàng được định vị là trung tâm tài chính toàn diện, không chỉ là nơi gửi tiền mà còn là nơi khách hàng quản lý tài sản, đầu tư, bảo hiểm và dòng tiền hằng ngày.

Bên cạnh đó, cá nhân hóa trải nghiệm số đang trở thành xu hướng chủ đạo khi người dùng không còn thiếu ứng dụng ngân hàng, mà thiếu những giải pháp tài chính phù hợp với nhu cầu riêng. Trong bối cảnh đó, AI và dữ liệu lớn được kỳ vọng sẽ là chìa khóa giúp các ngân hàng gia tăng mức độ gắn kết và giữ chân khách hàng lâu hơn.

Về xu hướng, có thể thấy nhiều ngân hàng đang tập trung vào ba trụ cột chính để gia tăng CASA và giữ dòng tiền trong hệ thống.

Một là, kiểm soát dòng tiền bán lẻ. Đây là phân khúc tạo ra tần suất giao dịch cao nhất. Các ngân hàng đang tích cực liên kết với siêu thị, thương mại điện tử, ví điện tử, giáo dục, y tế, giao thông và du lịch để biến tài khoản ngân hàng thành công cụ thanh toán trung tâm.

Hai là, quản trị dòng tiền doanh nghiệp. CASA doanh nghiệp hiện được xem là “mỏ vàng” mới. Khi ngân hàng kiểm soát được dòng tiền thanh toán của doanh nghiệp, họ có thể duy trì lượng tiền gửi không kỳ hạn cực lớn với chi phí thấp.

Nhiều ngân hàng hiện đẩy mạnh các giải pháp quản trị dòng tiền, tài trợ thương mại, thư tín dụng (L/C), thanh toán chuỗi cung ứng và chi lương tự động để hút dòng tiền doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ba là, sản phẩm tài khoản “sinh lời tự động”, đây là xu hướng nổi bật gần đây. Thay vì để tiền nằm yên trong tài khoản thanh toán không sinh lợi, nhiều ngân hàng phát triển sản phẩm tự động chuyển đổi số dư sang các khoản sinh lời linh hoạt, nhưng vẫn đảm bảo khả năng thanh toán tức thời. Mô hình này giúp ngân hàng giữ được dòng tiền trong hệ sinh thái thay vì để khách hàng chuyển sang ngân hàng khác hoặc rút sang kênh đầu tư bên ngoài.

ThS. Trần Trọng Triết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

(TBTCO) - Sáng 11/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.214 đồng, tăng 8 đồng trong cả tuần, nối dài chuỗi tăng lên 8 tuần liên tiếp. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng nhẹ 0,03%, lên 100,97 điểm. Tuần tới, thị trường sẽ hướng sự chú ý đến chỉ số CPI tháng 6 của Mỹ và phiên điều trần của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm thêm tín hiệu về lộ trình lãi suất.
HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 14,990
Kim TT/AVPL 14,500 14,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 14,900
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 149,000
Hà Nội - PNJ 145,000 149,000
Đà Nẵng - PNJ 145,000 149,000
Miền Tây - PNJ 145,000 149,000
Tây Nguyên - PNJ 145,000 149,000
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 149,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 14,990
Miếng SJC Nghệ An 14,690 14,990
Miếng SJC Thái Bình 14,690 14,990
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 14,900
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,090 14,790
Trang sức 99.99 14,100 14,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 14,992
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 14,993
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 1,494
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 1,495
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 1,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 145,941
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 110,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 100,392
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 90,073
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 86,093
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 61,622
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cập nhật: 12/07/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17719 17992 18579
CAD 18016 18291 18915
CHF 31829 32210 32858
CNY 0 3834 3927
EUR 29342 29562 30643
GBP 34402 34793 35736
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14815 15410
SGD 19787 20068 20647
THB 704 767 821
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,541 29,565 30,973
JPY 158.07 158.36 167.94
GBP 34,627 34,721 35,920
AUD 17,915 17,980 18,664
CAD 18,203 18,261 18,933
CHF 32,221 32,321 33,272
SGD 19,931 19,993 20,784
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.1 16.79 18.26
THB 751.79 761.08 814.78
NZD 14,833 14,971 15,413
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,646 2,740
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.19 - 6,816.63
TWD 738.39 - 894.44
SAR - 6,880.56 7,246.62
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26048 26048 26474
AUD 17888 17988 18914
CAD 18182 18282 19295
CHF 32146 32176 33754
CNY 3815 3840 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34716 34766 36521
HKD 0 3355 0
JPY 158.76 159.26 169.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20815
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14690000 14690000 14990000
SBJ 13000000 13000000 14990000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/07/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80