Cuộc đua tiền gửi không kỳ hạn với nhiều nhân tố dẫn dắt

ThS. Trần Trọng Triết
(TBTCO) - Cuộc cạnh tranh CASA (tiền gửi không kỳ hạn) trong ngành ngân hàng đang bước sang một giai đoạn mới. Khác với lợi thế trước đây chủ yếu đến từ "cuộc chơi" công nghệ và miễn phí dịch vụ, nay yếu tố quyết định là năng lực kiểm soát dòng tiền thực tế của khách hàng trong toàn bộ hệ sinh thái.
aa

Không còn là “trái ngọt dễ hái”

Từng là “mỏ vàng” giúp ngân hàng duy trì chi phí vốn thấp và biên lãi thuần (NIM) hấp dẫn, CASA hiện đang bước vào giai đoạn cạnh tranh khốc liệt nhất trong nhiều năm trở lại đây. Khi lãi suất huy động tăng trở lại, dòng tiền nhàn rỗi không còn nằm yên trong tài khoản thanh toán, buộc các ngân hàng phải bước vào “cuộc đua” hoàn toàn mới, đó là xây dựng hệ sinh thái đủ sâu, để giữ khách hàng ở lại bằng dòng tiền giao dịch thực, thay vì chỉ bằng ưu đãi miễn phí chuyển khoản như trước.

Dữ liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng cho thấy, CASA đang đối mặt áp lực suy giảm rõ nét trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn gia tăng và mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao. Tính đến cuối quý I/2026, có tới 24/27 ngân hàng niêm yết ghi nhận tỷ lệ CASA thu hẹp so với cuối năm trước, phản ánh xu hướng suy giảm trên diện rộng của nguồn vốn không kỳ hạn. Đây cũng là đợt giảm đồng loạt mạnh nhất của CASA trong nhiều năm trở lại đây kể từ sau đại dịch Covid-19, cho thấy cuộc đua giữ dòng tiền ngày càng khốc liệt.

Cuộc đua tiền gửi không kỳ hạn với nhiều nhân tố dẫn dắt
Nguồn: Dữ liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Sự đi xuống này phản ánh áp lực thanh khoản thực sự của hệ thống ngân hàng, trong bối cảnh tín dụng tăng tốc mạnh trở lại nhưng huy động vốn không theo kịp. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thấy, tăng trưởng tín dụng đầu năm 2026 đã vượt xa tốc độ huy động, khiến bài toán vốn trở thành áp lực lớn nhất đối với nhiều ngân hàng.

Trong khi đó, mặt bằng lãi suất huy động đang bước vào chu kỳ tăng mới, khiến dòng tiền nhàn rỗi có xu hướng dịch chuyển khỏi tài khoản thanh toán để tìm kiếm lợi suất cao hơn. Điều này khiến CASA - vốn được xem là nguồn vốn “giá rẻ” - ngày càng trở nên đắt giá.

Nếu giai đoạn 2020 - 2023 là thời kỳ “bùng nổ” CASA nhờ số hóa ngân hàng và chính sách miễn phí chuyển khoản thì hiện nay lợi thế đó gần như đã bị xóa nhòa. Hầu hết các ngân hàng đều miễn phí giao dịch, ứng dụng ngân hàng số tương đồng về trải nghiệm và tốc độ xử lý. Khoảng cách cạnh tranh giờ đây không còn nằm ở việc có app (ứng dụng) ngân hàng tốt hay không, mà là ngân hàng nào giữ được dòng tiền vận hành hàng ngày của khách hàng.

Cuộc đua giành dòng tiền thực

Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất của thị trường là nếu trước đây chính sách miễn phí chuyển khoản có thể tạo ra làn sóng CASA mạnh mẽ, song hiện nay gần như toàn ngành đều áp dụng mức phí bằng 0.

Một thực tế khác đang diễn ra là khách hàng ngày nay không còn duy trì số dư tài khoản lớn, chỉ vì tiện lợi chuyển khoản. Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở chỗ CASA hiện không còn là “tiền gửi nhàn rỗi”, mà là giữ dòng tiền vận hành thường xuyên.

Cuộc cạnh tranh sâu hơn về hệ sinh thái, dữ liệu và dòng tiền

Quá trình hồi phục CASA toàn ngành ngân hàng chắc chắn sẽ cần thêm nhiều thời gian và rất khó để quay trở lại vùng đỉnh cao của giai đoạn đầu năm 2022 khi mặt bằng lãi suất đầu vào hiện đã xác lập một nền giá mới. CASA vẫn sẽ đóng vai trò là “lá chắn” kiên cố nhất để bảo vệ NIM và thanh khoản cho các ngân hàng. Tuy nhiên, để sở hữu “lá chắn” đó, các nhà băng sẽ phải bước vào cuộc cạnh tranh sâu hơn rất nhiều, đó là cuộc cạnh tranh về hệ sinh thái, dữ liệu và khả năng giữ dòng tiền thực trong nền kinh tế.

Đó cũng là lý do nhiều ngân hàng hiện chuyển hướng từ mục tiêu mở nhiều tài khoản sang mục tiêu trở thành ngân hàng giao dịch chính. Đây là khác biệt rất lớn. Một khách hàng có thể mở 5 - 7 tài khoản ngân hàng khác nhau, nhưng chỉ có một tài khoản thực sự là trung tâm dòng tiền hàng ngày. Ngân hàng nào giành được vị trí đó sẽ nắm lợi thế CASA dài hạn.

Nhóm ngân hàng dẫn đầu về CASA hiện nay đều sở hữu những lợi thế riêng trong việc thu hút và duy trì dòng tiền khách hàng. Tính đến cuối quý I/2026, Vietcombank đứng đầu hệ thống với tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn/tổng tiền gửi khách hàng khoảng 32,6%, dù đã giảm gần 3 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Xếp sau là MB với 32,3% và Techcombank với 31,4%.

Có thể thấy điểm chung của các ngân hàng này là khả năng kiểm soát dòng tiền giao dịch rất mạnh. MB sở hữu hệ sinh thái quân đội, khách hàng trả lương và nền tảng số có tần suất giao dịch cao. Còn Vietcombank duy trì lợi thế lớn nhờ lượng tài khoản chi trả lương khổng lồ từ khu vực hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp FDI.

Trong khi đó, Techcombank nhiều năm theo đuổi chiến lược “Zero Fee”, đồng thời xây dựng hệ sinh thái tài chính, chứng khoán, bảo hiểm và bất động sản nhằm gia tăng mức độ gắn kết khách hàng và duy trì dòng tiền trong hệ thống.

Giữ CASA bằng sức mạnh hệ sinh thái

Bên cạnh đó, cuộc đua CASA đang dịch chuyển nhanh từ mô hình ngân hàng giao dịch truyền thống sang mô hình “siêu hệ sinh thái tài chính”. Các ngân hàng không chỉ cạnh tranh bằng lãi suất hay nền tảng số, mà hướng tới việc hiện diện trong toàn bộ vòng đời tài chính của khách hàng.

Khách hàng sẽ giữ tiền ở ngân hàng nào giao dịch thuận tiện hơn, kết nối đa nền tảng hơn, xử lý tài chính cá nhân tốt hơn, tích hợp đầu tư và tiêu dùng tốt hơn, chăm sóc khách hàng nhanh hơn và có hệ sinh thái phong phú hơn.

Ông Phan Hoàng Minh - Trưởng phòng khách hàng doanh nghiệp - Ngân hàng Agribank Chi nhánh An Giang cho rằng, muốn giữ CASA, ngân hàng phải giữ được đời sống tài chính của khách hàng. Giai đoạn CASA tăng trưởng dễ dàng nhờ miễn phí giao dịch đã kết thúc. Cuộc cạnh tranh hiện nay chuyển sang năng lực kiểm soát dòng tiền thật trong nền kinh tế.

Theo ông Minh, để thu hút CASA một cách bền vững, các ngân hàng đang tập trung vào một số giải pháp.

Trọng tâm là xây dựng hệ sinh thái tiêu dùng đủ rộng để hiện diện trong toàn bộ hành trình chi tiêu của khách hàng, từ thanh toán hóa đơn, mua sắm, giáo dục, y tế đến đầu tư và bảo hiểm. Đồng thời, ngân hàng được định vị là trung tâm tài chính toàn diện, không chỉ là nơi gửi tiền mà còn là nơi khách hàng quản lý tài sản, đầu tư, bảo hiểm và dòng tiền hằng ngày.

Bên cạnh đó, cá nhân hóa trải nghiệm số đang trở thành xu hướng chủ đạo khi người dùng không còn thiếu ứng dụng ngân hàng, mà thiếu những giải pháp tài chính phù hợp với nhu cầu riêng. Trong bối cảnh đó, AI và dữ liệu lớn được kỳ vọng sẽ là chìa khóa giúp các ngân hàng gia tăng mức độ gắn kết và giữ chân khách hàng lâu hơn.

Về xu hướng, có thể thấy nhiều ngân hàng đang tập trung vào ba trụ cột chính để gia tăng CASA và giữ dòng tiền trong hệ thống.

Một là, kiểm soát dòng tiền bán lẻ. Đây là phân khúc tạo ra tần suất giao dịch cao nhất. Các ngân hàng đang tích cực liên kết với siêu thị, thương mại điện tử, ví điện tử, giáo dục, y tế, giao thông và du lịch để biến tài khoản ngân hàng thành công cụ thanh toán trung tâm.

Hai là, quản trị dòng tiền doanh nghiệp. CASA doanh nghiệp hiện được xem là “mỏ vàng” mới. Khi ngân hàng kiểm soát được dòng tiền thanh toán của doanh nghiệp, họ có thể duy trì lượng tiền gửi không kỳ hạn cực lớn với chi phí thấp.

Nhiều ngân hàng hiện đẩy mạnh các giải pháp quản trị dòng tiền, tài trợ thương mại, thư tín dụng (L/C), thanh toán chuỗi cung ứng và chi lương tự động để hút dòng tiền doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ba là, sản phẩm tài khoản “sinh lời tự động”, đây là xu hướng nổi bật gần đây. Thay vì để tiền nằm yên trong tài khoản thanh toán không sinh lợi, nhiều ngân hàng phát triển sản phẩm tự động chuyển đổi số dư sang các khoản sinh lời linh hoạt, nhưng vẫn đảm bảo khả năng thanh toán tức thời. Mô hình này giúp ngân hàng giữ được dòng tiền trong hệ sinh thái thay vì để khách hàng chuyển sang ngân hàng khác hoặc rút sang kênh đầu tư bên ngoài.

ThS. Trần Trọng Triết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/6): Tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, DXY suy yếu sau tín hiệu kết thúc xung đột Mỹ - Iran gần 4 tháng

Tỷ giá USD hôm nay (15/6): Tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, DXY suy yếu sau tín hiệu kết thúc xung đột Mỹ - Iran gần 4 tháng

(TBTCO) - Sáng 15/6, tỷ giá trung tâm công bố ở mức 25.165 đồng, tăng 10 đồng so với cuối tuần trước. Trong khi đó, tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.300 - 26.320 VND/USD, tăng 50 - 60 đồng hai chiều. DXY suy yếu hiện ở mức 99,57 điểm, giảm 0,18%, sau thông tin Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận nhằm chấm dứt xung đột kéo dài gần 4 tháng.
BIDV là Ngân hàng thanh toán duy nhất cho thị trường giao dịch các-bon tại Việt Nam

BIDV là Ngân hàng thanh toán duy nhất cho thị trường giao dịch các-bon tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 9/6/2026, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã có Công văn số 5170/UBCK-PTTT về việc lựa chọn ngân hàng thanh toán cho thị trường giao dịch các-bon trong nước. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV; mã Ck: BID) đã chính thức trở thành Ngân hàng duy nhất cung cấp dịch vụ thanh toán tiền cho giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon trên sàn giao dịch các-bon tại Việt Nam.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

(TBTCO) - Top 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 12.710 tỷ đồng trong quý đầu năm, chiếm gần 52% thị phần; trong đó, DBV vươn lên vị trí thứ 4 và MIC trở lại top 5, cho thấy cuộc đua thị phần ngày càng nóng lên. Chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng giúp các doanh nghiệp tăng doanh thu và mở rộng thị phần.
NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

(TBTCO) - Với NCB Visa Sun Signature, lần đầu tiên khách hàng có thể sở hữu một chiếc thẻ tín dụng ngân hàng tích hợp đồng thời các đặc quyền dành cho hội viên trong hệ sinh thái du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, bất động sản, hàng không và y tế cao cấp hàng đầu Việt Nam.
Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% đến hết năm 2026, đồng VND có thể chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực.
MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi, địa điểm đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

(TBTCO) - Trong 5 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị được giao, đạt nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực công tác.
Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

(TBTCO) - Lập "hattrick" công nghệ tại The Asian Banker 2026, TPBank khẳng định chiến lược đúng đắn khi đưa trí tuệ nhân tạo (AI) và số hóa vào tối ưu hóa năng lực vận hành, nâng tầm trải nghiệm khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Kim TT/AVPL 14,850 ▲450K 15,100 ▲400K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,850 ▲450K 15,100 ▲400K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▲550K 14,600 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▲550K 14,550 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,500 ▲250K 14,900 ▲250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,450 ▲250K 14,850 ▲250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,380 ▲250K 14,830 ▲250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 147,500 ▲3500K 150,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Nghệ An 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
Miếng SJC Thái Bình 14,800 ▲400K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲350K 15,050 ▲350K
NL 99.90 13,900 ▲450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,950 ▲450K
Trang sức 99.9 14,240 ▲350K 14,940 ▲350K
Trang sức 99.99 14,250 ▲350K 14,950 ▲350K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 ▲4K 15,052 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 ▲4K 15,053 ▲350K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 ▲40K 1,504 ▲35K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 ▲40K 1,505 ▲1358K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 ▲40K 1,489 ▲35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,426 ▲126730K 147,426 ▲133030K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,336 ▲2625K 111,836 ▲2625K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,912 ▲2380K 101,412 ▲2380K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,488 ▲2135K 90,988 ▲2135K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,467 ▲2040K 86,967 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,748 ▲1460K 62,248 ▲1460K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 ▲4K 1,505 ▲1358K
Cập nhật: 15/06/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18062 18337 18913
CAD 18284 18560 19176
CHF 32486 32870 33522
CNY 0 3849 3942
EUR 29883 30106 31183
GBP 34508 34900 35834
HKD 0 3224 3426
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15059 15647
SGD 19972 20254 20827
THB 722 786 839
USD (1,2) 26023 0 0
USD (5,10,20) 26064 0 0
USD (50,100) 26093 26107 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,423
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 30,010 30,034 31,393
JPY 159.81 160.1 169.37
GBP 34,721 34,815 35,934
AUD 18,262 18,328 18,977
CAD 18,474 18,533 19,172
CHF 32,715 32,817 33,701
SGD 20,093 20,155 20,902
CNY - 3,819 3,955
HKD 3,290 3,300 3,431
KRW 16.01 16.7 18.12
THB 769.65 779.16 832
NZD 15,049 15,189 15,604
SEK - 2,756 2,847
DKK - 4,015 4,147
NOK - 2,723 2,812
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,075.17 - 6,842.18
TWD 752.68 - 909.68
SAR - 6,892.18 7,242.86
KWD - 83,429 88,559
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,423
EUR 29,963 30,083 31,272
GBP 34,754 34,894 35,914
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,568 32,699 33,616
JPY 160.23 160.87 168.71
AUD 18,254 18,327 18,920
SGD 20,186 20,267 20,853
THB 788 791 825
CAD 18,496 18,570 19,135
NZD 15,136 15,674
KRW 16.73 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26423
AUD 18256 18356 19281
CAD 18471 18571 19586
CHF 32704 32734 34317
CNY 3831.1 3856.1 3991.6
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30048 30078 31803
GBP 34829 34879 36647
HKD 0 3355 0
JPY 160.69 161.19 171.73
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20130 20260 20990
THB 0 752.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,117 26,167 26,423
USD20 26,117 26,167 26,423
USD1 23,907 26,167 26,423
AUD 18,285 18,385 19,498
EUR 30,206 30,206 31,616
CAD 18,407 18,507 19,814
SGD 20,208 20,358 20,913
JPY 161.2 162.7 167.24
GBP 34,719 35,069 35,932
XAU 14,789,000 0 15,052,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/06/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80