Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 8 - 12/6, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh hơn 5 điểm phần trăm từ mức 9,35% đầu tuần. Cùng lúc, chỉ số DXY lùi dưới 100 điểm, giá vàng giảm sâu khiến tỷ giá USD tự do hạ về 26.240 - 26.270 VND/USD, thấp hơn 142 đồng so với giá bán của ngân hàng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi Điều hành tỷ giá linh hoạt trong “vùng nhiễu động”

Hút ròng hai tuần liên tiếp, lãi suất qua đêm hạ nhiệt còn hơn 4%

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành linh hoạt trên thị trường mở (OMO), kết hợp nhịp nhàng giữa bơm và hút vốn ngắn hạn, nhằm ổn định thanh khoản hệ thống. Dù vẫn phát hành lượng lớn giấy tờ có giá qua kênh cầm cố, khối lượng đáo hạn cao hơn khiến nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt đáng kể sau khi tăng vọt đầu tuần.

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn lao dốc hơn 5 điểm phần trăm
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn lao dốc hơn 5 điểm phần trăm. Ảnh minh họa: Đức Thanh.

Theo đó, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 43.109,84 tỷ đồng trong tuần từ ngày 8 - 12/6, toàn bộ ở kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất giữ nguyên 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn ở mức cao, lên tới 68.843,34 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, nối tiếp xu hướng hút ròng mạnh trên 26 nghìn tỷ đồng của tuần trước. Đến cuối ngày 12/6, khối lượng lưu hành trên kênh OMO giảm còn 280.206,05 tỷ đồng.

Dưới góc nhìn của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), Ngân hàng Nhà nước có xu hướng thu hẹp quy mô bơm vốn qua kênh OMO.

Diễn biến này phù hợp với sự hạ nhiệt của thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng sau khi căng thẳng tăng mạnh đầu tuần.

Theo đó, phiên ngày 8/6, lãi suất liên ngân hàng qua đêm vọt lên 9,35%/năm, trong bối cảnh nhu cầu vốn ngắn hạn tăng mạnh và doanh số giao dịch vượt 800 nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên, sau khi Ngân hàng Nhà nước bơm thanh khoản quy mô lớn trong phiên đầu tuần khi lượng đáo hạn cũng cao, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng nhanh chóng giảm nhiệt. Đến ngày 11/6, lãi suất qua đêm giảm xuống 4,34%/năm, giảm 5,01 điểm phần trăm so với đầu tuần; kỳ hạn 1 tuần giảm còn 5,17%/năm (giảm 2,82 điểm phần trăm); kỳ hạn 2 tuần còn 6,18%/năm (giảm 0,94 điểm phần trăm).

Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn dài vẫn ở mức cao, khi lãi suất liên ngân hàng 1 tháng ở mức 7,61%/năm (giảm 0,04 điểm phần trăm); kỳ hạn 3 tháng là 7,69%, tăng 0,18 điểm phần trăm và là kỳ hạn duy nhất lãi suất bật tăng.

Trong báo cáo phân tích thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, trong ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục ổn định quanh vùng cuối tuần.

“Các kỳ hạn 1 - 3 tháng khả năng vẫn neo ở mức cao hơn khi nhu cầu vốn trung hạn chưa hoàn toàn hạ nhiệt. Mặt bằng lãi suất trên thị trường 1 vẫn duy trì ổn định trong tuần trước, dù áp lực tăng ngày càng lớn trong những tháng tới” - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

DXY lùi dưới 100 điểm, tỷ giá USD tự do thấp hơn ngân hàng 142 đồng

Về diễn biến trên thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD/VND tại các kênh chính có diễn biến phân hóa. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng lên 25.155 đồng/USD, tương ứng tăng 8 đồng trong tuần. Nếu tính theo mức biến động từng phiên, tỷ giá trung tâm ghi nhận mức tăng chỉ 1 - 3 đồng, có phiên không điều chỉnh. Diễn biến này cho thấy cơ quan điều hành tiếp tục điều chỉnh tỷ giá theo hướng tăng rất thận trọng.

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Ở khối ngân hàng thương mại, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 26.092 - 26.412 VND/USD (mua vào - bán ra). So với cuối tuần trước, giá mua vào giảm 2 đồng, trong khi giá bán ra tăng 8 đồng. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.132 - 26.412 VND/USD, tăng 8 đồng ở cả chiều mua vào và bán ra.

Ngược lại, tỷ giá USD tự do bán ra lại giảm mạnh xuống 26.240 - 26.270 VND/USD, tương ứng giảm 140 đồng so với cuối tuần trước.

Áp lực đầu cơ trên thị trường tự do đã hạ nhiệt đáng kể, đặc biệt khi giá vàng SJC trong nước về mức 131 - 136 triệu đồng/lượng, còn giá vàng quốc tế về sát mốc 4.000 USD/ounce trong tuần qua. Nhờ đó, tỷ giá USD tự do thậm chí còn thấp hơn 142 đồng (chiều bán ra) so với tỷ giá tại ngân hàng.

Dưới góc nhìn của MBS, bất chấp áp lực từ mức thâm hụt thương mại gần 14 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm và áp lực lạm phát gia tăng, tỷ giá USD/VND nhìn chung vẫn khá ổn định trong tháng 5, một phần nhờ VND được hỗ trợ bởi mặt bằng lãi suất cao ở trong nước.

Đánh giá về sức ép tỷ giá, theo Chứng khoán Yuanta, tỷ giá USD/VND có thể tiếp tục đi ngang hoặc nhích nhẹ.

“Áp lực tăng mạnh hiện chưa rõ, do tỷ giá tự do vẫn ổn định, chênh lệch lãi suất VND - USD duy trì dương, vàng giảm và thanh khoản VND vẫn đang được Ngân hàng Nhà nước điều tiết linh hoạt” - Chứng khoán Yuanta nêu góc nhìn.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện ở mức 99,66 điểm, giảm 0,2%, cho thấy đồng USD suy yếu nhẹ so với rổ các đồng tiền chủ chốt khi nhà đầu tư giảm bớt nhu cầu nắm giữ đồng bạc xanh.

Trong các cặp tiền tệ chính, tỷ giá USD/EUR ở mức 0,863, giảm 0,07%; tỷ giá USD/GBP ở mức 0,745, giảm 0,05%, phản ánh đồng euro và bảng Anh đang tăng giá nhẹ so với USD.

Ở châu Á, tỷ giá JPY/USD hiện ở mức 159,99, tăng 0,05%, cho thấy đồng USD nhích tăng nhẹ so với đồng yên Nhật. Trong khi đó, tỷ giá USD/CNY ở mức 6,761, giảm 0,22%, cho thấy đồng nhân dân tệ tăng giá tương đối mạnh hơn so với USD trong phiên giao dịch này.

Đồng USD giảm nhẹ trong phiên thứ sáu, còn đồng euro duy trì ổn định khi nhà đầu tư cân nhắc giữa triển vọng đạt được một thỏa thuận hòa bình giữa Mỹ và Iran với những lo ngại dai dẳng về lạm phát tại Mỹ. Theo đó, đồng euro dao động gần mức cao nhất trong một tuần và đang trên đà ghi nhận tuần tăng mạnh nhất trong hơn 1 tháng, nhờ được hỗ trợ bởi quyết định tăng lãi suất đầu tiên của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sau gần 3 năm.

Tâm lý thị trường được cải thiện sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết một thỏa thuận hòa bình với Iran có thể được ký kết ngay trong cuối tuần này. Kỳ vọng căng thẳng hạ nhiệt cũng kéo giá dầu giảm xuống mức thấp nhất trong khoảng 2 tháng, khi nhà đầu tư kỳ vọng các tuyến cung ứng năng lượng sẽ sớm được khôi phục.

Tuy nhiên, thị trường vẫn theo dõi sát diễn biến lạm phát sau khi dữ liệu công bố ngày thứ năm, cho thấy giá sản xuất tại Mỹ tăng mạnh hơn dự báo trong tháng 5, chủ yếu do chi phí năng lượng gia tăng từ các gián đoạn nguồn cung dầu ở Trung Đông. Dù vậy, lạm phát cơ bản lại tăng thấp hơn kỳ vọng, góp phần xoa dịu lo ngại về khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sớm nâng lãi suất. Điều này khiến thị trường tiếp tục lùi kỳ vọng về bất kỳ đợt thắt chặt chính sách tiền tệ nào sang giai đoạn cuối năm nay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 28/09/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 28/09/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30