Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 8 - 12/6, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh hơn 5 điểm phần trăm từ mức 9,35% đầu tuần. Cùng lúc, chỉ số DXY lùi dưới 100 điểm, giá vàng giảm sâu khiến tỷ giá USD tự do hạ về 26.240 - 26.270 VND/USD, thấp hơn 142 đồng so với giá bán của ngân hàng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi Điều hành tỷ giá linh hoạt trong “vùng nhiễu động”

Hút ròng hai tuần liên tiếp, lãi suất qua đêm hạ nhiệt còn hơn 4%

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành linh hoạt trên thị trường mở (OMO), kết hợp nhịp nhàng giữa bơm và hút vốn ngắn hạn, nhằm ổn định thanh khoản hệ thống. Dù vẫn phát hành lượng lớn giấy tờ có giá qua kênh cầm cố, khối lượng đáo hạn cao hơn khiến nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt đáng kể sau khi tăng vọt đầu tuần.

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn lao dốc hơn 5 điểm phần trăm
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn lao dốc hơn 5 điểm phần trăm. Ảnh minh họa: Đức Thanh.

Theo đó, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 43.109,84 tỷ đồng trong tuần từ ngày 8 - 12/6, toàn bộ ở kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất giữ nguyên 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn ở mức cao, lên tới 68.843,34 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, nối tiếp xu hướng hút ròng mạnh trên 26 nghìn tỷ đồng của tuần trước. Đến cuối ngày 12/6, khối lượng lưu hành trên kênh OMO giảm còn 280.206,05 tỷ đồng.

Dưới góc nhìn của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), Ngân hàng Nhà nước có xu hướng thu hẹp quy mô bơm vốn qua kênh OMO.

Diễn biến này phù hợp với sự hạ nhiệt của thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng sau khi căng thẳng tăng mạnh đầu tuần.

Theo đó, phiên ngày 8/6, lãi suất liên ngân hàng qua đêm vọt lên 9,35%/năm, trong bối cảnh nhu cầu vốn ngắn hạn tăng mạnh và doanh số giao dịch vượt 800 nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên, sau khi Ngân hàng Nhà nước bơm thanh khoản quy mô lớn trong phiên đầu tuần khi lượng đáo hạn cũng cao, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng nhanh chóng giảm nhiệt. Đến ngày 11/6, lãi suất qua đêm giảm xuống 4,34%/năm, giảm 5,01 điểm phần trăm so với đầu tuần; kỳ hạn 1 tuần giảm còn 5,17%/năm (giảm 2,82 điểm phần trăm); kỳ hạn 2 tuần còn 6,18%/năm (giảm 0,94 điểm phần trăm).

Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn dài vẫn ở mức cao, khi lãi suất liên ngân hàng 1 tháng ở mức 7,61%/năm (giảm 0,04 điểm phần trăm); kỳ hạn 3 tháng là 7,69%, tăng 0,18 điểm phần trăm và là kỳ hạn duy nhất lãi suất bật tăng.

Trong báo cáo phân tích thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, trong ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục ổn định quanh vùng cuối tuần.

“Các kỳ hạn 1 - 3 tháng khả năng vẫn neo ở mức cao hơn khi nhu cầu vốn trung hạn chưa hoàn toàn hạ nhiệt. Mặt bằng lãi suất trên thị trường 1 vẫn duy trì ổn định trong tuần trước, dù áp lực tăng ngày càng lớn trong những tháng tới” - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

DXY lùi dưới 100 điểm, tỷ giá USD tự do thấp hơn ngân hàng 142 đồng

Về diễn biến trên thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD/VND tại các kênh chính có diễn biến phân hóa. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng lên 25.155 đồng/USD, tương ứng tăng 8 đồng trong tuần. Nếu tính theo mức biến động từng phiên, tỷ giá trung tâm ghi nhận mức tăng chỉ 1 - 3 đồng, có phiên không điều chỉnh. Diễn biến này cho thấy cơ quan điều hành tiếp tục điều chỉnh tỷ giá theo hướng tăng rất thận trọng.

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Ở khối ngân hàng thương mại, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 26.092 - 26.412 VND/USD (mua vào - bán ra). So với cuối tuần trước, giá mua vào giảm 2 đồng, trong khi giá bán ra tăng 8 đồng. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.132 - 26.412 VND/USD, tăng 8 đồng ở cả chiều mua vào và bán ra.

Ngược lại, tỷ giá USD tự do bán ra lại giảm mạnh xuống 26.240 - 26.270 VND/USD, tương ứng giảm 140 đồng so với cuối tuần trước.

Áp lực đầu cơ trên thị trường tự do đã hạ nhiệt đáng kể, đặc biệt khi giá vàng SJC trong nước về mức 131 - 136 triệu đồng/lượng, còn giá vàng quốc tế về sát mốc 4.000 USD/ounce trong tuần qua. Nhờ đó, tỷ giá USD tự do thậm chí còn thấp hơn 142 đồng (chiều bán ra) so với tỷ giá tại ngân hàng.

Dưới góc nhìn của MBS, bất chấp áp lực từ mức thâm hụt thương mại gần 14 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm và áp lực lạm phát gia tăng, tỷ giá USD/VND nhìn chung vẫn khá ổn định trong tháng 5, một phần nhờ VND được hỗ trợ bởi mặt bằng lãi suất cao ở trong nước.

Đánh giá về sức ép tỷ giá, theo Chứng khoán Yuanta, tỷ giá USD/VND có thể tiếp tục đi ngang hoặc nhích nhẹ.

“Áp lực tăng mạnh hiện chưa rõ, do tỷ giá tự do vẫn ổn định, chênh lệch lãi suất VND - USD duy trì dương, vàng giảm và thanh khoản VND vẫn đang được Ngân hàng Nhà nước điều tiết linh hoạt” - Chứng khoán Yuanta nêu góc nhìn.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện ở mức 99,66 điểm, giảm 0,2%, cho thấy đồng USD suy yếu nhẹ so với rổ các đồng tiền chủ chốt khi nhà đầu tư giảm bớt nhu cầu nắm giữ đồng bạc xanh.

Trong các cặp tiền tệ chính, tỷ giá USD/EUR ở mức 0,863, giảm 0,07%; tỷ giá USD/GBP ở mức 0,745, giảm 0,05%, phản ánh đồng euro và bảng Anh đang tăng giá nhẹ so với USD.

Ở châu Á, tỷ giá JPY/USD hiện ở mức 159,99, tăng 0,05%, cho thấy đồng USD nhích tăng nhẹ so với đồng yên Nhật. Trong khi đó, tỷ giá USD/CNY ở mức 6,761, giảm 0,22%, cho thấy đồng nhân dân tệ tăng giá tương đối mạnh hơn so với USD trong phiên giao dịch này.

Đồng USD giảm nhẹ trong phiên thứ sáu, còn đồng euro duy trì ổn định khi nhà đầu tư cân nhắc giữa triển vọng đạt được một thỏa thuận hòa bình giữa Mỹ và Iran với những lo ngại dai dẳng về lạm phát tại Mỹ. Theo đó, đồng euro dao động gần mức cao nhất trong một tuần và đang trên đà ghi nhận tuần tăng mạnh nhất trong hơn 1 tháng, nhờ được hỗ trợ bởi quyết định tăng lãi suất đầu tiên của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sau gần 3 năm.

Tâm lý thị trường được cải thiện sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết một thỏa thuận hòa bình với Iran có thể được ký kết ngay trong cuối tuần này. Kỳ vọng căng thẳng hạ nhiệt cũng kéo giá dầu giảm xuống mức thấp nhất trong khoảng 2 tháng, khi nhà đầu tư kỳ vọng các tuyến cung ứng năng lượng sẽ sớm được khôi phục.

Tuy nhiên, thị trường vẫn theo dõi sát diễn biến lạm phát sau khi dữ liệu công bố ngày thứ năm, cho thấy giá sản xuất tại Mỹ tăng mạnh hơn dự báo trong tháng 5, chủ yếu do chi phí năng lượng gia tăng từ các gián đoạn nguồn cung dầu ở Trung Đông. Dù vậy, lạm phát cơ bản lại tăng thấp hơn kỳ vọng, góp phần xoa dịu lo ngại về khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sớm nâng lãi suất. Điều này khiến thị trường tiếp tục lùi kỳ vọng về bất kỳ đợt thắt chặt chính sách tiền tệ nào sang giai đoạn cuối năm nay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bộ Tài chính và WB định hình danh mục vay vốn giai đoạn mới, hướng tới hiệu quả và sức lan tỏa

Bộ Tài chính và WB định hình danh mục vay vốn giai đoạn mới, hướng tới hiệu quả và sức lan tỏa

(TBTCO) - Bộ Tài chính và Ngân hàng Thế giới (WB) thống nhất xây dựng danh mục các dự án dự kiến vay vốn giai đoạn 2026 - 2030, ưu tiên các dự án hiệu quả, tạo sức lan tỏa. Đồng thời, đưa ra những định hướng đổi mới trong triển khai, bảo đảm an toàn nợ công và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay.
ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

(TBTCO) - VIB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 5.185,7 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và dịch vụ. Hoạt động cho vay tiếp tục mở rộng với dư nợ đạt hơn 397 nghìn tỷ đồng, chất lượng tài sản được cải thiện, trong khi ngân hàng chủ động tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.
Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 141,200
Hà Nội - PNJ 136,200 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 141,200
Miền Tây - PNJ 136,200 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 12,950
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,340 14,040
Trang sức 99.99 13,350 14,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 29/07/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17813 18087 18663
CAD 18135 18410 19029
CHF 31463 31842 32490
CNY 0 3848 3942
EUR 29288 29508 30592
GBP 34171 34562 35497
HKD 0 3228 3430
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14879 15464
SGD 19821 20103 20677
THB 699 762 815
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26150 26520
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,429 29,453 30,858
JPY 156.44 156.72 166.18
GBP 34,368 34,461 35,658
AUD 18,017 18,082 18,764
CAD 18,305 18,364 19,039
CHF 31,758 31,857 32,794
SGD 19,949 20,011 20,792
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,290 3,300 3,438
KRW 16.61 17.32 18.84
THB 746.29 755.51 809.03
NZD 14,864 15,002 15,445
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,937 4,075
NOK - 2,676 2,771
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,019.21 - 6,794.39
TWD 733.68 - 888.71
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,206 88,522
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,135 26,515
EUR 29,394 29,512 30,703
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,623 31,750 32,665
JPY 156.73 157.36 165.26
AUD 18,056 18,129 18,725
SGD 20,034 20,114 20,703
THB 762 765 801
CAD 18,316 18,390 18,966
NZD 14,953 15,496
KRW 17.14 19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26154 26154 26514
AUD 17997 18097 19020
CAD 18304 18404 19418
CHF 31703 31733 33315
CNY 3829.8 3854.8 3990.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34472 34522 36282
HKD 0 3355 0
JPY 157.19 157.69 168.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 14984 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19976 20106 20838
THB 0 727.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,530
USD20 26,109 26,209 26,536
USD1 26,059 26,209 26,571
AUD 18,057 18,157 19,264
EUR 29,286 29,386 31,045
CAD 18,248 18,348 19,654
SGD 20,067 20,217 20,781
JPY 157.75 159.25 164.8
GBP 34,399 34,549 35,770
XAU 13,748,000 0 14,152,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/07/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80