Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 8 - 12/6, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh hơn 5 điểm phần trăm từ mức 9,35% đầu tuần. Cùng lúc, chỉ số DXY lùi dưới 100 điểm, giá vàng giảm sâu khiến tỷ giá USD tự do hạ về 26.240 - 26.270 VND/USD, thấp hơn 142 đồng so với giá bán của ngân hàng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi Điều hành tỷ giá linh hoạt trong “vùng nhiễu động”

Hút ròng hai tuần liên tiếp, lãi suất qua đêm hạ nhiệt còn hơn 4%

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành linh hoạt trên thị trường mở (OMO), kết hợp nhịp nhàng giữa bơm và hút vốn ngắn hạn, nhằm ổn định thanh khoản hệ thống. Dù vẫn phát hành lượng lớn giấy tờ có giá qua kênh cầm cố, khối lượng đáo hạn cao hơn khiến nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt đáng kể sau khi tăng vọt đầu tuần.

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn lao dốc hơn 5 điểm phần trăm
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn lao dốc hơn 5 điểm phần trăm. Ảnh minh họa: Đức Thanh.

Theo đó, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 43.109,84 tỷ đồng trong tuần từ ngày 8 - 12/6, toàn bộ ở kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất giữ nguyên 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn ở mức cao, lên tới 68.843,34 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, nối tiếp xu hướng hút ròng mạnh trên 26 nghìn tỷ đồng của tuần trước. Đến cuối ngày 12/6, khối lượng lưu hành trên kênh OMO giảm còn 280.206,05 tỷ đồng.

Dưới góc nhìn của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), Ngân hàng Nhà nước có xu hướng thu hẹp quy mô bơm vốn qua kênh OMO.

Diễn biến này phù hợp với sự hạ nhiệt của thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng sau khi căng thẳng tăng mạnh đầu tuần.

Theo đó, phiên ngày 8/6, lãi suất liên ngân hàng qua đêm vọt lên 9,35%/năm, trong bối cảnh nhu cầu vốn ngắn hạn tăng mạnh và doanh số giao dịch vượt 800 nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên, sau khi Ngân hàng Nhà nước bơm thanh khoản quy mô lớn trong phiên đầu tuần khi lượng đáo hạn cũng cao, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng nhanh chóng giảm nhiệt. Đến ngày 11/6, lãi suất qua đêm giảm xuống 4,34%/năm, giảm 5,01 điểm phần trăm so với đầu tuần; kỳ hạn 1 tuần giảm còn 5,17%/năm (giảm 2,82 điểm phần trăm); kỳ hạn 2 tuần còn 6,18%/năm (giảm 0,94 điểm phần trăm).

Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn dài vẫn ở mức cao, khi lãi suất liên ngân hàng 1 tháng ở mức 7,61%/năm (giảm 0,04 điểm phần trăm); kỳ hạn 3 tháng là 7,69%, tăng 0,18 điểm phần trăm và là kỳ hạn duy nhất lãi suất bật tăng.

Trong báo cáo phân tích thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, trong ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục ổn định quanh vùng cuối tuần.

“Các kỳ hạn 1 - 3 tháng khả năng vẫn neo ở mức cao hơn khi nhu cầu vốn trung hạn chưa hoàn toàn hạ nhiệt. Mặt bằng lãi suất trên thị trường 1 vẫn duy trì ổn định trong tuần trước, dù áp lực tăng ngày càng lớn trong những tháng tới” - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

DXY lùi dưới 100 điểm, tỷ giá USD tự do thấp hơn ngân hàng 142 đồng

Về diễn biến trên thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD/VND tại các kênh chính có diễn biến phân hóa. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng lên 25.155 đồng/USD, tương ứng tăng 8 đồng trong tuần. Nếu tính theo mức biến động từng phiên, tỷ giá trung tâm ghi nhận mức tăng chỉ 1 - 3 đồng, có phiên không điều chỉnh. Diễn biến này cho thấy cơ quan điều hành tiếp tục điều chỉnh tỷ giá theo hướng tăng rất thận trọng.

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Ở khối ngân hàng thương mại, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 26.092 - 26.412 VND/USD (mua vào - bán ra). So với cuối tuần trước, giá mua vào giảm 2 đồng, trong khi giá bán ra tăng 8 đồng. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.132 - 26.412 VND/USD, tăng 8 đồng ở cả chiều mua vào và bán ra.

Ngược lại, tỷ giá USD tự do bán ra lại giảm mạnh xuống 26.240 - 26.270 VND/USD, tương ứng giảm 140 đồng so với cuối tuần trước.

Áp lực đầu cơ trên thị trường tự do đã hạ nhiệt đáng kể, đặc biệt khi giá vàng SJC trong nước về mức 131 - 136 triệu đồng/lượng, còn giá vàng quốc tế về sát mốc 4.000 USD/ounce trong tuần qua. Nhờ đó, tỷ giá USD tự do thậm chí còn thấp hơn 142 đồng (chiều bán ra) so với tỷ giá tại ngân hàng.

Dưới góc nhìn của MBS, bất chấp áp lực từ mức thâm hụt thương mại gần 14 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm và áp lực lạm phát gia tăng, tỷ giá USD/VND nhìn chung vẫn khá ổn định trong tháng 5, một phần nhờ VND được hỗ trợ bởi mặt bằng lãi suất cao ở trong nước.

Đánh giá về sức ép tỷ giá, theo Chứng khoán Yuanta, tỷ giá USD/VND có thể tiếp tục đi ngang hoặc nhích nhẹ.

“Áp lực tăng mạnh hiện chưa rõ, do tỷ giá tự do vẫn ổn định, chênh lệch lãi suất VND - USD duy trì dương, vàng giảm và thanh khoản VND vẫn đang được Ngân hàng Nhà nước điều tiết linh hoạt” - Chứng khoán Yuanta nêu góc nhìn.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện ở mức 99,66 điểm, giảm 0,2%, cho thấy đồng USD suy yếu nhẹ so với rổ các đồng tiền chủ chốt khi nhà đầu tư giảm bớt nhu cầu nắm giữ đồng bạc xanh.

Trong các cặp tiền tệ chính, tỷ giá USD/EUR ở mức 0,863, giảm 0,07%; tỷ giá USD/GBP ở mức 0,745, giảm 0,05%, phản ánh đồng euro và bảng Anh đang tăng giá nhẹ so với USD.

Ở châu Á, tỷ giá JPY/USD hiện ở mức 159,99, tăng 0,05%, cho thấy đồng USD nhích tăng nhẹ so với đồng yên Nhật. Trong khi đó, tỷ giá USD/CNY ở mức 6,761, giảm 0,22%, cho thấy đồng nhân dân tệ tăng giá tương đối mạnh hơn so với USD trong phiên giao dịch này.

Đồng USD giảm nhẹ trong phiên thứ sáu, còn đồng euro duy trì ổn định khi nhà đầu tư cân nhắc giữa triển vọng đạt được một thỏa thuận hòa bình giữa Mỹ và Iran với những lo ngại dai dẳng về lạm phát tại Mỹ. Theo đó, đồng euro dao động gần mức cao nhất trong một tuần và đang trên đà ghi nhận tuần tăng mạnh nhất trong hơn 1 tháng, nhờ được hỗ trợ bởi quyết định tăng lãi suất đầu tiên của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sau gần 3 năm.

Tâm lý thị trường được cải thiện sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết một thỏa thuận hòa bình với Iran có thể được ký kết ngay trong cuối tuần này. Kỳ vọng căng thẳng hạ nhiệt cũng kéo giá dầu giảm xuống mức thấp nhất trong khoảng 2 tháng, khi nhà đầu tư kỳ vọng các tuyến cung ứng năng lượng sẽ sớm được khôi phục.

Tuy nhiên, thị trường vẫn theo dõi sát diễn biến lạm phát sau khi dữ liệu công bố ngày thứ năm, cho thấy giá sản xuất tại Mỹ tăng mạnh hơn dự báo trong tháng 5, chủ yếu do chi phí năng lượng gia tăng từ các gián đoạn nguồn cung dầu ở Trung Đông. Dù vậy, lạm phát cơ bản lại tăng thấp hơn kỳ vọng, góp phần xoa dịu lo ngại về khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sớm nâng lãi suất. Điều này khiến thị trường tiếp tục lùi kỳ vọng về bất kỳ đợt thắt chặt chính sách tiền tệ nào sang giai đoạn cuối năm nay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

(TBTCO) - Trong 5 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị được giao, đạt nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực công tác.
Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

(TBTCO) - Lập "hattrick" công nghệ tại The Asian Banker 2026, TPBank khẳng định chiến lược đúng đắn khi đưa trí tuệ nhân tạo (AI) và số hóa vào tối ưu hóa năng lực vận hành, nâng tầm trải nghiệm khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

(TBTCO) - Sáng 12/6, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.155 đồng, tăng 2 đồng; tỷ giá USD tự do giao dịch thấp hơn mức niêm yết tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 99,78 điểm khi kỳ vọng hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông cải thiện tâm lý nhà đầu tư, trong bối cảnh Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất, còn ECB vừa tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023.
Áp lực tỷ giá và bài toán hấp thụ vốn của nền kinh tế

Áp lực tỷ giá và bài toán hấp thụ vốn của nền kinh tế

(TBTCO) - Áp lực tỷ giá, lạm phát và thanh khoản đang thu hẹp dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ. Trong khi đó, bài toán lớn của nền kinh tế hiện nay không chỉ là nguồn vốn, mà còn là khả năng hấp thụ vốn hiệu quả.
Đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải đảm bảo yêu cầu về trách nhiệm tài chính

Đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải đảm bảo yêu cầu về trách nhiệm tài chính

(TBTCO) - Tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (trước đây gọi là đại lý thu) phải bảo đảm nguồn lực tài chính, không chậm đóng, trốn đóng tại thời điểm xem xét lựa chọn; có trách nhiệm bồi hoàn trong trường hợp để xảy ra thất thoát, nộp không đúng hạn hoặc gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia.
Hải Phòng đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

Hải Phòng đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Sau gần một năm thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, việc triển khai chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn TP. Hải Phòng đã đạt nhiều kết quả tích cực. Trong đó, công tác cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số được đẩy mạnh.
Manulife phát triển đội ngũ tư vấn tài chính - bảo hiểm thế hệ mới

Manulife phát triển đội ngũ tư vấn tài chính - bảo hiểm thế hệ mới

(TBTCO) - Được Manulife thiết kế dành riêng cho những người mong muốn phát triển sự nghiệp một cách chuyên nghiệp và bền vững, chương trình tuyển dụng Tư vấn Tài chính - Bảo hiểm “Đại sứ Xanh Phú Quý” hỗ trợ ứng viên chuyển đổi nghề nghiệp và xây dựng năng lực tư vấn toàn diện.
MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc tại TP. Hồ Chí Minh

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc tại TP. Hồ Chí Minh

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc tại TP. Hồ Chí Minh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,290 ▲950K 14,590 ▲750K
Kim TT/AVPL 14,300 ▲960K 14,600 ▲760K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▲960K 14,600 ▲760K
Nguyên Liệu 99.99 13,600 ▲500K 13,800 ▲500K
Nguyên Liệu 99.9 13,550 ▲500K 13,750 ▲500K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,050 ▲800K 14,450 ▲800K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,000 ▲800K 14,400 ▲800K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,930 ▲800K 14,380 ▲800K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 ▲9000K 145,400 ▲7000K
Hà Nội - PNJ 142,400 ▲9000K 145,400 ▲7000K
Đà Nẵng - PNJ 142,400 ▲9000K 145,400 ▲7000K
Miền Tây - PNJ 142,400 ▲9000K 145,400 ▲7000K
Tây Nguyên - PNJ 142,400 ▲9000K 145,400 ▲7000K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 ▲9000K 145,400 ▲7000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,240 ▲900K 14,540 ▲700K
Miếng SJC Nghệ An 14,240 ▲900K 14,540 ▲700K
Miếng SJC Thái Bình 14,240 ▲900K 14,540 ▲700K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,240 ▲900K 14,540 ▲700K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,240 ▲900K 14,540 ▲700K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,240 ▲900K 14,540 ▲700K
NL 99.90 13,050 ▲350K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲350K
Trang sức 99.9 13,730 ▲700K 14,430 ▲700K
Trang sức 99.99 13,740 ▲700K 14,440 ▲700K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,424 ▲90K 14,542 ▲700K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,424 ▲90K 14,543 ▲700K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,423 ▲90K 1,453 ▲70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,423 ▲90K 1,454 ▲70K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,403 ▲90K 1,438 ▲70K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▲6930K 142,376 ▲6930K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,511 ▲89185K 108,011 ▲97735K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,444 ▲4761K 97,944 ▲4761K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,377 ▲4271K 87,877 ▲4271K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,494 ▲4082K 83,994 ▲4082K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,621 ▲2920K 60,121 ▲2920K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Cập nhật: 12/06/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17994 18268 18845
CAD 18275 18551 19171
CHF 32393 32776 33426
CNY 0 3849 3942
EUR 29815 30037 31118
GBP 34475 34867 35805
HKD 0 3226 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15030 15618
SGD 19949 20231 20808
THB 719 782 836
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,412
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 29,989 30,013 31,325
JPY 160.01 160.3 169.32
GBP 34,712 34,806 35,867
AUD 18,203 18,269 18,886
CAD 18,518 18,577 19,187
CHF 32,707 32,809 33,646
SGD 20,094 20,156 20,869
CNY - 3,825 3,956
HKD 3,298 3,308 3,433
KRW 15.98 16.67 18.06
THB 766.48 775.95 827.55
NZD 15,009 15,148 15,536
SEK - 2,742 2,828
DKK - 4,012 4,138
NOK - 2,726 2,811
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,069.64 - 6,823.74
TWD 752.62 - 908.21
SAR - 6,905.98 7,245.63
KWD - 83,539 88,540
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,412
EUR 29,898 30,018 31,205
GBP 34,676 34,815 35,833
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,520 32,651 33,566
JPY 160.23 160.87 168.69
AUD 18,194 18,267 18,859
SGD 20,143 20,224 20,808
THB 783 786 821
CAD 18,497 18,571 19,136
NZD 15,083 15,619
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26142 26142 26412
AUD 18185 18285 19210
CAD 18465 18565 19579
CHF 32668 32698 34276
CNY 3830.9 3855.9 3991.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30024 30054 31779
GBP 34804 34854 36615
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15151 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20119 20249 20977
THB 0 750 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 12000000 12000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,120 26,170 26,412
USD20 26,120 26,170 26,412
USD1 23,898 26,170 26,412
AUD 18,179 18,329 19,463
EUR 30,052 30,152 31,603
CAD 18,350 18,503 19,835
SGD 20,185 20,335 20,924
JPY 160.83 162.73 167.52
GBP 34,629 35,029 35,940
XAU 14,238,000 0 14,542,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/06/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80