Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 1 - 5/6 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm áp sát 11%, doanh số vay mượn "nóng" vượt 1 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước nhanh chóng kích hoạt nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ trị giá 1 tỷ USD, bơm mạnh hỗ trợ thanh khoản. Khi áp lực hạ nhiệt, cơ quan điều hành quay lại hút ròng 26.372,11 tỷ đồng, trong bối cảnh tỷ giá vẫn tương đối ổn định.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8% Việt Nam và Hoa Kỳ ra tuyên bố chung về tiền tệ VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Lãi suất qua đêm sát 11%, vay mượn “nóng” liên ngân hàng vượt 1 triệu tỷ đồng

Tuần từ ngày 1/6 - 5/6, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết thanh khoản linh hoạt trên kênh thị trường mở (OMO).

Theo đó, nhà điều hành đã phát hành tổng cộng 62.657,31 tỷ đồng trên kênh cầm cố, ở kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, trong khi lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Trong cùng thời gian, khối lượng đáo hạn lên tới 89.029,42 tỷ đồng, cao hơn đáng kể lượng bơm mới. Khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở đạt 305.939,55 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng
Nguồn: Chứng khoán SHS.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng 26.372,11 tỷ đồng khỏi hệ thống ngân hàng thông qua kênh OMO. Diễn biến này trái ngược với tuần trước, khi cơ quan điều hành bơm ròng hơn 30.700 tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh.

Việc Ngân hàng Nhà nước chuyển từ bơm ròng mạnh sang hút ròng trong tuần qua cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn phần nào giải tỏa sau cú sốc lãi suất đầu tuần, giúp mặt bằng lãi suất liên ngân hàng nhanh chóng hạ nhiệt.

Đáng chú ý, ngay đầu tuần, lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 10,66%/năm, mức cao nhất trong nhiều tháng, khiến Ngân hàng Nhà nước phải bơm ròng 13.619,46 tỷ đồng trong ngày 1/6.

Tuy nhiên, sau khi thanh khoản được cải thiện, cơ quan điều hành nhanh chóng chuyển sang trạng thái hút ròng trở lại trong các phiên tiếp theo, với lượng hút ròng lần lượt 18.620 tỷ đồng, 3.371 tỷ đồng, 10.000 tỷ đồng và 8.000 tỷ đồng từ ngày 2/6 đến 5/6.

Thanh khoản hệ thống nhờ đó cũng dần ổn định hơn. Chốt ngày 4/6, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm giảm xuống 5,3%/năm, giảm 1,67 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Các kỳ hạn dài hơn cũng đồng loạt hạ nhiệt, với lãi suất 1 tuần ở mức 6,2%/năm, giảm 0,94 điểm phần trăm; 2 tuần ở mức 6,5%/năm, giảm 0,84 điểm phần trăm.

Các kỳ hạn dài, lãi suất vẫn neo trên 7%. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở mức 7,1%/năm, giảm 0,06 điểm phần trăm, trong khi kỳ hạn 3 tháng giữ nguyên 7,45%/năm.

Doanh số vay mượn “nóng” trên thị trường liên ngân hàng có phiên vượt 1 triệu tỷ đồng. Chốt ngày 3/6, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng chủ yếu tập trung ở kỳ hạn qua đêm với giá trị 829,4 nghìn tỷ đồng, giảm 261,2 nghìn tỷ đồng so với cuối tuần trước. Doanh số giao dịch kỳ hạn 1 tuần đạt 20,1 nghìn tỷ đồng, giảm 12,3 nghìn tỷ đồng.

Kích hoạt hoán đổi ngoại tệ, bơm khẩn cấp trị giá 1 tỷ USD

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), lãi suất VND tiếp tục neo ở vùng cao, dù có hạ nhẹ về cuối tuần, do nhu cầu nguồn vốn tăng cao vào dịp cuối tháng. Việc lãi suất giảm không đáng kể sau khi Ngân hàng Nhà nước tăng khối lượng OMO lưu hành lên trên 330 nghìn tỷ đồng cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn và nhu cầu phòng thủ thanh khoản của các ngân hàng vẫn ở mức cao.

Cũng theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành cơ chế mới nhằm nới room tín dụng cho vay bất động sản, theo đó dư nợ cho vay nhà ở xã hội và khu công nghiệp sẽ không tính vào room tín dụng dụng bất động sản khi kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng bất động sản.

“Điều này sẽ tạo cơ hội cho tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ hơn sau những động thái thắt chặt tín dụng bất động sản gần đây, song sẽ tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất trung hạn, trong bối cảnh tăng trưởng huy động vẫn đang cách xa so với tăng trưởng tín dụng” - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng
Nguồn: Chứng khoán SHS.

Trong báo cáo mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) lưu ý, phiên giao dịch ngày 01/06 là lời nhắc nhở rằng thanh khoản hệ thống chưa thực sự ổn định.

“Nhà điều hành đã có biện pháp kịp thời can thiệp trong phiên tiếp theo bằng giao dịch hoán đổi khi mua vào 1 tỷ USD, kỳ hạn 02/06 - 16/06 với tỷ lệ trúng thầu 3,96% và lãi suất qua đêm trở về nền bình thường ngay sau đó” - SHS thông tin.

Lãi suất hoán đổi kỳ hạn qua đêm tăng đột ngột lên 7,03% và lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng vọt lên trên 10%, dù tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại “big 4” vẫn duy trì ở nền cao khoảng 650 nghìn tỷ đồng. Đây là áp lực kỹ thuật mang tính cuối kỳ, không phản ánh tình trạng thiếu hụt tiền đồng về cơ bản.

Bên cạnh đó, theo SHS, biến động bất thường xảy ra trong phiên 01/06 một phần xuất phát từ sự cố kỹ thuật trên hệ thống giao dịch nghiệp vụ thị trường mở, khiến một số tổ chức tín dụng không thể thực hiện giao dịch trong phiên đó.

“Nhìn rộng hơn, dư lưu hành nghiệp vụ thị trường mở đã giảm từ đỉnh khoảng 450 nghìn tỷ xuống còn khoảng 330 nghìn tỷ đồng, phản ánh việc một bộ phận ngân hàng đã sử dụng gần hết hạn mức cầm cố tài sản trong các giao dịch này, trong khi dư địa tham gia theo hình thức tín chấp bị thu hẹp bởi các tỷ lệ an toàn vốn theo quy định” - nhóm phân tích SHS đánh giá.

Ngay sau đó, Ngân hàng Nhà nước phản ứng kịp thời và lãi suất qua đêm nhanh chóng trở về nền bình thường trong phiên tiếp theo.

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 4 liên tiếp, USD tự do đứng hình

Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VND trên thị trường chính thức tiếp tục xu hướng tăng nhẹ. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng lên 25.147 đồng, tương đương tăng 9 đồng trong tuần, nối tiếp đà tăng 4 tuần liên tiếp.

Trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại biến động tăng nhẹ. Tại Vietcombank ngày 5/6, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.094 - 26.404 VND/USD (mua vào - bán ra), cùng tăng 9 đồng ở cả hai chiều so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.124 - 26.404 VND/USD, trong đó giá mua vào giảm 1 đồng còn giá bán ra tăng 9 đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

Trên thị trường quốc tế, đồng USD suy yếu nhẹ trong phiên giao dịch mới nhất khi chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - giảm 0,21% xuống 99,21 điểm. Dù điều chỉnh giảm trong phiên, DXY vẫn dao động quanh vùng cao nhất trong hơn hai tháng gần đây.

Thị trường tự do diễn biến theo chiều hướng ổn định hơn. Tỷ giá USD tự do giao dịch quanh 26.380 - 26.410 VND/USD, tương đương chiều mua vào và giảm 10 đồng chiều bán ra so với tuần trước. Điều này cho thấy chênh lệch cung cầu USD trên thị trường tự do dần hạ nhiệt.

Chỉ rõ hai yếu tố giúp giảm bớt sức ép tỷ giá, Chứng khoán SHS cho rằng, chỉ số DXY hạ về quanh 99 điểm so với mức 100,5 điểm cuối tháng 3 và giá dầu Brent giảm gần 20% trong tháng về vùng 90 USD/thùng.

“Dòng ngoại tệ chảy ra để nhập khẩu dầu vốn là áp lực âm thầm suốt quý I nhờ đó giảm đáng kể, tháo bớt căng thẳng cung cầu ngoại tệ” - Chứng khoán SHS nhận định./.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, thông tin Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính Mỹ công bố tuyên bố chung về tiền tệ và chính sách tỷ giá là tín hiệu tích cực đối với thị trường ngoại hối trong nước. Theo đó, giúp tăng tính minh bạch và niềm tin từ nhà đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, tác động ngắn hạn tới USD/VND có thể không lớn khi diễn biến tỷ giá hiện tại vẫn chủ yếu phụ thuộc vào xu hướng đồng USD toàn cầu, chênh lệch lãi suất VND - USD và trạng thái thanh khoản của hệ thống ngân hàng./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm 600.000 đồng/lượng trong sáng 5/6, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng.
ACB chốt lịch chia cổ tức tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 58.000 tỷ đồng

ACB chốt lịch chia cổ tức tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 58.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa chốt ngày 16/6 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông nhận cổ tức năm 2025 bằng cả tiền mặt và cổ phiếu, với tổng tỷ lệ 20%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành tối đa gần 668 triệu cổ phiếu để trả cổ tức tỷ lệ 13%, qua đó, nâng vốn điều lệ thêm 6.677,6 tỷ đồng, lên hơn 58.000 tỷ đồng, tiếp tục củng cố năng lực tài chính và nền tảng tăng trưởng.
Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

(TBTCO) - Khẳng định cam kết đồng hành lâu dài vì sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cộng đồng, Sun Life Việt Nam tiếp tục là nhà tài trợ đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026 – giải chạy ý nghĩa nhằm chung tay hỗ trợ trẻ em mắc bệnh ung thư tại Việt Nam do Hiệp hội Doanh nghiệp Canada tại Việt Nam (CanCham) tổ chức.
Từ ngân hàng đến bảo hiểm: Khi những banker chọn “rẽ hướng”

Từ ngân hàng đến bảo hiểm: Khi những banker chọn “rẽ hướng”

(TBTCO) - Họ từng có công việc ổn định, môi trường chuyên nghiệp và nền tảng kiến thức tài chính vững chắc trong ngành ngân hàng. Điều khiến họ chuyển hướng không chỉ là mong muốn thay đổi, mà là nhu cầu tìm một không gian rộng hơn để năng lực đã tích lũy có thể tạo ra tác động rõ hơn, gần hơn với khách hàng và mở ra không gian phát triển lớn hơn trong bảo hiểm nhân thọ.
Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tới 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng.
OCB tiếp đà tăng vốn lên hơn 30.625 tỷ đồng khi vừa vượt mốc dư nợ 200.000 tỷ đồng

OCB tiếp đà tăng vốn lên hơn 30.625 tỷ đồng khi vừa vượt mốc dư nợ 200.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa chấp thuận cho OCB tăng vốn điều lệ tối đa thêm gần 3.994,6 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 30.625 tỷ đồng. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh OCB lần đầu vượt mốc dư nợ cho vay 200.000 tỷ đồng và đẩy mạnh chiến lược chuyển đổi số dưới sự điều hành của quyền Tổng Giám đốc mới, chuyên gia về AI.
Vietcombank đồng hành cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh vững bước chuyển đổi, hưởng ứng Ngày Tài chính số 2026

Vietcombank đồng hành cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh vững bước chuyển đổi, hưởng ứng Ngày Tài chính số 2026

(TBTCO) - Nhằm thúc đẩy nộp thuế điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt, ngày 3/6/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp cùng Cục Thuế tổ chức Lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số. Đây là hoạt động trọng điểm nhằm hưởng ứng Ngày Tài chính số năm 2026 và hiện thực hóa Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
BAC A BANK tiếp tục phát hành trái phiếu ra công chúng - thu hút khách hàng tích lũy an toàn, sinh lời tối ưu

BAC A BANK tiếp tục phát hành trái phiếu ra công chúng - thu hút khách hàng tích lũy an toàn, sinh lời tối ưu

(TBTCO) - Nhằm đa dạng hóa kênh đầu tư và tối đa lợi ích tới khách hàng, từ ngày 8/6/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - đợt 4 với tổng giá trị chào bán 1.500 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,920 15,320
Kim TT/AVPL 14,920 15,320
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,920 15,320
Nguyên Liệu 99.99 14,500 14,700
Nguyên Liệu 99.9 14,450 14,650
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,800 15,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,750 15,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,680 15,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 150,200 153,200
Hà Nội - PNJ 150,200 153,200
Đà Nẵng - PNJ 150,200 153,200
Miền Tây - PNJ 150,200 153,200
Tây Nguyên - PNJ 150,200 153,200
Đông Nam Bộ - PNJ 150,200 153,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,920 15,320
Miếng SJC Nghệ An 14,920 15,320
Miếng SJC Thái Bình 14,920 15,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,920 15,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,920 15,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,920 15,320
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,510 15,210
Trang sức 99.99 14,520 15,220
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,492 15,322
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,492 15,323
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 149 153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 149 1,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 147 1,515
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 1,435 150
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 104,886 113,786
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 9,428 10,318
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 83,674 92,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 79,583 88,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 54,432 63,332
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 1,532
Cập nhật: 06/06/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18265 18540 19117
CAD 18436 18713 19334
CHF 32772 33157 33800
CNY 0 3850 3943
EUR 30011 30284 31315
GBP 34667 35059 35997
HKD 0 3230 3433
JPY 157 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15173 15759
SGD 19974 20257 20783
THB 722 785 839
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26145 26404
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,124 26,124 26,404
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,127 30,151 31,466
JPY 160.42 160.71 169.73
GBP 34,794 34,888 35,952
AUD 18,437 18,504 19,129
CAD 18,619 18,679 19,290
CHF 33,041 33,144 33,990
SGD 20,105 20,168 20,881
CNY - 3,820 3,950
HKD 3,300 3,310 3,435
KRW 15.79 16.47 17.85
THB 770.16 779.67 831.51
NZD 15,132 15,273 15,661
SEK - 2,767 2,854
DKK - 4,031 4,157
NOK - 2,774 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,106.87 - 6,867.32
TWD 756.3 - 912.66
SAR - 6,906.56 7,246.23
KWD - 83,637 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,404
EUR 30,005 30,125 31,314
GBP 34,707 34,846 35,865
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,793 32,925 33,851
JPY 160.74 161.39 168.93
AUD 18,383 18,457 19,052
SGD 20,127 20,208 20,792
THB 785 788 823
CAD 18,584 18,659 19,228
NZD 15,179 15,717
KRW 16.38 17.95
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26404
AUD 18439 18539 19461
CAD 18620 18720 19735
CHF 33009 33039 34617
CNY 3829.7 3854.7 3990.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30186 30216 31941
GBP 34937 34987 36745
HKD 0 3355 0
JPY 161.09 161.59 172.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15274 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20130 20260 20991
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14920000 14920000 15320000
SBJ 13000000 13000000 15320000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,076 26,126 26,404
USD20 26,076 26,126 26,404
USD1 26,076 26,126 26,404
AUD 18,476 18,576 19,683
EUR 30,341 30,341 31,747
CAD 18,559 18,659 19,965
SGD 20,203 20,353 20,913
JPY 161.6 163.1 167.63
GBP 34,814 35,164 36,026
XAU 14,918,000 0 15,322,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/06/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80