Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 1 - 5/6 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm áp sát 11%, doanh số vay mượn "nóng" vượt 1 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước nhanh chóng kích hoạt nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ trị giá 1 tỷ USD, bơm mạnh hỗ trợ thanh khoản. Khi áp lực hạ nhiệt, cơ quan điều hành quay lại hút ròng 26.372,11 tỷ đồng, trong bối cảnh tỷ giá vẫn tương đối ổn định.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8% Việt Nam và Hoa Kỳ ra tuyên bố chung về tiền tệ VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Lãi suất qua đêm sát 11%, vay mượn “nóng” liên ngân hàng vượt 1 triệu tỷ đồng

Tuần từ ngày 1/6 - 5/6, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết thanh khoản linh hoạt trên kênh thị trường mở (OMO).

Theo đó, nhà điều hành đã phát hành tổng cộng 62.657,31 tỷ đồng trên kênh cầm cố, ở kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, trong khi lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Trong cùng thời gian, khối lượng đáo hạn lên tới 89.029,42 tỷ đồng, cao hơn đáng kể lượng bơm mới. Khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở đạt 305.939,55 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng
Nguồn: Chứng khoán SHS.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng 26.372,11 tỷ đồng khỏi hệ thống ngân hàng thông qua kênh OMO. Diễn biến này trái ngược với tuần trước, khi cơ quan điều hành bơm ròng hơn 30.700 tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh.

Việc Ngân hàng Nhà nước chuyển từ bơm ròng mạnh sang hút ròng trong tuần qua cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn phần nào giải tỏa sau cú sốc lãi suất đầu tuần, giúp mặt bằng lãi suất liên ngân hàng nhanh chóng hạ nhiệt.

Đáng chú ý, ngay đầu tuần, lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 10,66%/năm, mức cao nhất trong nhiều tháng, khiến Ngân hàng Nhà nước phải bơm ròng 13.619,46 tỷ đồng trong ngày 1/6.

Tuy nhiên, sau khi thanh khoản được cải thiện, cơ quan điều hành nhanh chóng chuyển sang trạng thái hút ròng trở lại trong các phiên tiếp theo, với lượng hút ròng lần lượt 18.620 tỷ đồng, 3.371 tỷ đồng, 10.000 tỷ đồng và 8.000 tỷ đồng từ ngày 2/6 đến 5/6.

Thanh khoản hệ thống nhờ đó cũng dần ổn định hơn. Chốt ngày 4/6, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm giảm xuống 5,3%/năm, giảm 1,67 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Các kỳ hạn dài hơn cũng đồng loạt hạ nhiệt, với lãi suất 1 tuần ở mức 6,2%/năm, giảm 0,94 điểm phần trăm; 2 tuần ở mức 6,5%/năm, giảm 0,84 điểm phần trăm.

Các kỳ hạn dài, lãi suất vẫn neo trên 7%. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở mức 7,1%/năm, giảm 0,06 điểm phần trăm, trong khi kỳ hạn 3 tháng giữ nguyên 7,45%/năm.

Doanh số vay mượn “nóng” trên thị trường liên ngân hàng có phiên vượt 1 triệu tỷ đồng. Chốt ngày 3/6, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng chủ yếu tập trung ở kỳ hạn qua đêm với giá trị 829,4 nghìn tỷ đồng, giảm 261,2 nghìn tỷ đồng so với cuối tuần trước. Doanh số giao dịch kỳ hạn 1 tuần đạt 20,1 nghìn tỷ đồng, giảm 12,3 nghìn tỷ đồng.

Kích hoạt hoán đổi ngoại tệ, bơm khẩn cấp trị giá 1 tỷ USD

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), lãi suất VND tiếp tục neo ở vùng cao, dù có hạ nhẹ về cuối tuần, do nhu cầu nguồn vốn tăng cao vào dịp cuối tháng. Việc lãi suất giảm không đáng kể sau khi Ngân hàng Nhà nước tăng khối lượng OMO lưu hành lên trên 330 nghìn tỷ đồng cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn và nhu cầu phòng thủ thanh khoản của các ngân hàng vẫn ở mức cao.

Cũng theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành cơ chế mới nhằm nới room tín dụng cho vay bất động sản, theo đó dư nợ cho vay nhà ở xã hội và khu công nghiệp sẽ không tính vào room tín dụng dụng bất động sản khi kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng bất động sản.

“Điều này sẽ tạo cơ hội cho tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ hơn sau những động thái thắt chặt tín dụng bất động sản gần đây, song sẽ tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất trung hạn, trong bối cảnh tăng trưởng huy động vẫn đang cách xa so với tăng trưởng tín dụng” - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng
Nguồn: Chứng khoán SHS.

Trong báo cáo mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) lưu ý, phiên giao dịch ngày 01/06 là lời nhắc nhở rằng thanh khoản hệ thống chưa thực sự ổn định.

“Nhà điều hành đã có biện pháp kịp thời can thiệp trong phiên tiếp theo bằng giao dịch hoán đổi khi mua vào 1 tỷ USD, kỳ hạn 02/06 - 16/06 với tỷ lệ trúng thầu 3,96% và lãi suất qua đêm trở về nền bình thường ngay sau đó” - SHS thông tin.

Lãi suất hoán đổi kỳ hạn qua đêm tăng đột ngột lên 7,03% và lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng vọt lên trên 10%, dù tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại “big 4” vẫn duy trì ở nền cao khoảng 650 nghìn tỷ đồng. Đây là áp lực kỹ thuật mang tính cuối kỳ, không phản ánh tình trạng thiếu hụt tiền đồng về cơ bản.

Bên cạnh đó, theo SHS, biến động bất thường xảy ra trong phiên 01/06 một phần xuất phát từ sự cố kỹ thuật trên hệ thống giao dịch nghiệp vụ thị trường mở, khiến một số tổ chức tín dụng không thể thực hiện giao dịch trong phiên đó.

“Nhìn rộng hơn, dư lưu hành nghiệp vụ thị trường mở đã giảm từ đỉnh khoảng 450 nghìn tỷ xuống còn khoảng 330 nghìn tỷ đồng, phản ánh việc một bộ phận ngân hàng đã sử dụng gần hết hạn mức cầm cố tài sản trong các giao dịch này, trong khi dư địa tham gia theo hình thức tín chấp bị thu hẹp bởi các tỷ lệ an toàn vốn theo quy định” - nhóm phân tích SHS đánh giá.

Ngay sau đó, Ngân hàng Nhà nước phản ứng kịp thời và lãi suất qua đêm nhanh chóng trở về nền bình thường trong phiên tiếp theo.

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 4 liên tiếp, USD tự do đứng hình

Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VND trên thị trường chính thức tiếp tục xu hướng tăng nhẹ. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng lên 25.147 đồng, tương đương tăng 9 đồng trong tuần, nối tiếp đà tăng 4 tuần liên tiếp.

Trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại biến động tăng nhẹ. Tại Vietcombank ngày 5/6, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.094 - 26.404 VND/USD (mua vào - bán ra), cùng tăng 9 đồng ở cả hai chiều so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.124 - 26.404 VND/USD, trong đó giá mua vào giảm 1 đồng còn giá bán ra tăng 9 đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

Trên thị trường quốc tế, đồng USD suy yếu nhẹ trong phiên giao dịch mới nhất khi chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - giảm 0,21% xuống 99,21 điểm. Dù điều chỉnh giảm trong phiên, DXY vẫn dao động quanh vùng cao nhất trong hơn hai tháng gần đây.

Thị trường tự do diễn biến theo chiều hướng ổn định hơn. Tỷ giá USD tự do giao dịch quanh 26.380 - 26.410 VND/USD, tương đương chiều mua vào và giảm 10 đồng chiều bán ra so với tuần trước. Điều này cho thấy chênh lệch cung cầu USD trên thị trường tự do dần hạ nhiệt.

Chỉ rõ hai yếu tố giúp giảm bớt sức ép tỷ giá, Chứng khoán SHS cho rằng, chỉ số DXY hạ về quanh 99 điểm so với mức 100,5 điểm cuối tháng 3 và giá dầu Brent giảm gần 20% trong tháng về vùng 90 USD/thùng.

“Dòng ngoại tệ chảy ra để nhập khẩu dầu vốn là áp lực âm thầm suốt quý I nhờ đó giảm đáng kể, tháo bớt căng thẳng cung cầu ngoại tệ” - Chứng khoán SHS nhận định./.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, thông tin Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính Mỹ công bố tuyên bố chung về tiền tệ và chính sách tỷ giá là tín hiệu tích cực đối với thị trường ngoại hối trong nước. Theo đó, giúp tăng tính minh bạch và niềm tin từ nhà đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, tác động ngắn hạn tới USD/VND có thể không lớn khi diễn biến tỷ giá hiện tại vẫn chủ yếu phụ thuộc vào xu hướng đồng USD toàn cầu, chênh lệch lãi suất VND - USD và trạng thái thanh khoản của hệ thống ngân hàng./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mở rộng điều tra vụ buôn lậu kim cương liên quan SJC, khởi tố thêm 4 bị can

Mở rộng điều tra vụ buôn lậu kim cương liên quan SJC, khởi tố thêm 4 bị can

(TBTCO) - Mở rộng điều tra Chuyên án 268V, Công an tỉnh Thanh Hóa khởi tố thêm 4 bị can, thu giữ thêm 354 viên kim cương và tiếp tục làm rõ đường dây buôn lậu đưa kim cương vào hệ thống SJC để tiêu thụ.
Bảo hiểm PVI được vinh danh tại 4 hạng mục của InsuranceAsia News Country Awards for Excellence 2026

Bảo hiểm PVI được vinh danh tại 4 hạng mục của InsuranceAsia News Country Awards for Excellence 2026

(TBTCO) - InsuranceAsia News vừa công bố kết quả Country Awards for Excellence 2026 dành cho thị trường Việt Nam. Với 4 giải thưởng trải rộng trên các lĩnh vực kinh doanh, chuyển đổi số, quản trị bồi thường và điều hành doanh nghiệp, Bảo hiểm PVI tiếp tục cho thấy năng lực phát triển toàn diện và sự hiện diện ngày càng rõ nét trên bản đồ bảo hiểm khu vực.
Thu ngoài lãi dẫn nhịp, cho vay tiến sát kế hoạch, ABBank báo lãi tăng hơn 80%

Thu ngoài lãi dẫn nhịp, cho vay tiến sát kế hoạch, ABBank báo lãi tăng hơn 80%

(TBTCO) - ABBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 3.016 tỷ đồng, tăng 80,7% cùng kỳ, với động lực từ các nguồn thu ngoài lãi khiến tỷ trọng thu nhập lãi thuần giảm còn 35%. Trong bối cảnh dư nợ cho vay tăng 18,5%, tiến sát kế hoạch cả năm, ngân hàng đồng thời nâng vốn điều lệ vượt 16.000 tỷ đồng và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp.
InsuranceAsia News công bố kết quả Country Awards for Excellence - Vietnam 2026 và hệ sinh thái PVI đã có một kỳ vinh danh đáng nhớ

InsuranceAsia News công bố kết quả Country Awards for Excellence - Vietnam 2026 và hệ sinh thái PVI đã có một kỳ vinh danh đáng nhớ

(TBTCO) - InsuranceAsia News đã công bố kết quả Country Awards for Excellence - Vietnam 2026 vào ngày 20/7/2026 và hệ sinh thái PVI đã có một kỳ vinh danh đáng nhớ khi giành 5 trong tổng số 10 hạng mục giải thưởng, tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu trên thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam.
Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

(TBTCO) - Sáng 22/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên ở mức 25.260 đồng, song tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục nhích tăng. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,2% lên 101,19 điểm khi nhu cầu nắm giữ đồng bạc xanh gia tăng trước căng thẳng địa chính trị.
Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
Hơn 640 triệu cổ phiếu BVB chính thức giao dịch trên HOSE

Hơn 640 triệu cổ phiếu BVB chính thức giao dịch trên HOSE

(TBTCO) - Hơn 640 triệu cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVB) chính thức được đưa vào giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) từ ngày 21/7, với giá tham chiếu 13.100 đồng/cổ phiếu.
Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm từ hơn 12.000 xuống còn 695, song quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn vẫn còn nhiều "điểm nghẽn". Nhiều ý kiến cho rằng mục tiêu không phải chỉ sắp xếp, "dọn dẹp" hay bán vốn, mà là nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và vai trò dẫn dắt tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 145,000
Hà Nội - PNJ 140,000 145,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 145,000
Miền Tây - PNJ 140,000 145,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 145,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 145,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,200 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,200 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,200 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 14,600
NL 99.99 13,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 13,790 14,490
Trang sức 99.99 13,800 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 142 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 142 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 141 145
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 141 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 138 143
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 141,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 107,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 974
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 87,389
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 83,527
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 59,787
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 146
Cập nhật: 23/07/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17861 18135 18714
CAD 18127 18402 19019
CHF 31731 32112 32756
CNY 0 3844 3937
EUR 29372 29593 30674
GBP 34374 34765 35703
HKD 0 3225 3428
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14994 15584
SGD 19835 20116 20691
THB 694 757 810
USD (1,2) 26046 0 0
USD (5,10,20) 26087 0 0
USD (50,100) 26116 26130 26495
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,533 29,557 30,966
JPY 157.02 157.3 166.79
GBP 34,603 34,697 35,891
AUD 18,087 18,152 18,837
CAD 18,339 18,398 19,074
CHF 32,020 32,120 33,060
SGD 19,980 20,042 20,823
CNY - 3,813 3,958
HKD 3,291 3,301 3,438
KRW 16.41 17.11 18.61
THB 743.43 752.61 805.68
NZD 14,993 15,132 15,581
SEK - 2,665 2,759
DKK - 3,951 4,089
NOK - 2,689 2,783
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,017.74 - 6,792.73
TWD 734.82 - 889.54
SAR - 6,895.4 7,262.43
KWD - 83,233 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,464 29,582 30,774
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,845 31,973 32,898
JPY 157.29 157.92 165.78
AUD 18,108 18,181 18,779
SGD 20,029 20,109 20,699
THB 761 764 800
CAD 18,333 18,407 18,984
NZD 15,102 15,647
KRW 17.03 18.87
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26490
AUD 18043 18143 19074
CAD 18312 18412 19426
CHF 31974 32004 33582
CNY 3824.5 3849.5 3984.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29559 29589 31312
GBP 34669 34719 36476
HKD 0 3355 0
JPY 157.86 158.36 168.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15097 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19989 20119 20851
THB 0 722.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14200000 14200000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,163 26,213 26,523
USD20 26,163 26,213 26,523
USD1 26,163 26,213 26,523
AUD 18,123 18,223 19,327
EUR 29,399 29,499 31,155
CAD 18,272 18,372 19,679
SGD 20,097 20,247 20,806
JPY 158.44 159.94 165.47
GBP 34,631 34,781 35,845
XAU 14,338,000 0 14,702,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 760 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/07/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80