VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Ánh Tuyết
Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.
aa
Tân Chủ tịch Kevin Warsh và phép thử với tính độc lập của Fed Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Fed khó tăng lãi suất cuối năm, dù thị trường vẫn đặt cược 50%

Trong báo cáo mới phát hành đánh giá về khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất trong bối cảnh hiện tại và tác động tới mặt bằng lãi suất tại Việt Nam, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, dù thị trường vẫn đang nhận định khoảng 50% khả năng Fed tăng lãi suất vào cuối năm, song kịch bản này còn nhiều điểm chưa thực sự hợp lý.

Fed khó tăng lãi suất cuối năm, lãi suất Việt Nam vẫn chưa thể sớm hạ nhiệt 3 tháng tới

Theo nhóm phân tích của VDSC, Fed đang sử dụng nhiều biện pháp để hỗ trợ thị trường trái phiếu Chính phủ Mỹ, trong bối cảnh lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ đã lên mức cao nhất kể từ năm 2007.

Ngoài việc hạ lãi suất điều hành, Fed đang cố gắng hỗ trợ Bộ Tài chính Mỹ giảm chi phí đi vay. Biên bản các cuộc họp gần đây cho thấy, Fed đang mua lại trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn ngắn nhằm gia tăng thanh khoản cho thị trường.

Đáng chú ý, bảng cân đối của Fed lại đang mở rộng với tốc độ khoảng 30 tỷ USD/tháng. Theo VDSC, điều này cho thấy, Fed vẫn sẽ tiếp tục hỗ trợ Bộ Tài chính Mỹ thông qua các động thái trên thị trường trái phiếu.

Ngoài ra, chiến sự tại Iran đã kéo dài quá lâu, ảnh hưởng tới lạm phát. Xung đột địa chính trị chưa biết tới bao giờ, nhưng các quốc gia dần thích nghi với nguồn cung dầu hạn chế và chấp nhận lạm phát tổng cung. “Nếu đã là lạm phát tổng cung, việc tăng lãi suất chẳng có ý nghĩa gì, giống như Covid - Fed thậm chí phải hạ lãi suất ngay cả khi lạm phát cao” - nhóm phân tích của Chứng khoán VDSC nêu quan điểm.

Một yếu tố khác là Nhật Bản, chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Nhật Bản sẽ rất khó tiếp tục duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ trong thời gian tới, khi lạm phát tại nước này không chỉ đến từ phía tổng cầu do duy trì chính sách bơm tiền kéo dài suốt khoảng 20 năm, mà còn chịu áp lực chi phí đẩy do giá hàng hóa tăng mạnh dưới tác động của chiến sự và căng thẳng địa chính trị toàn cầu.

Nhóm phân tích của VDSC cho rằng, nếu Fed tăng lãi suất khiến đồng USD mạnh lên, Bộ Tài chính Nhật Bản có thể buộc phải can thiệp tỷ giá bằng cách bán trái phiếu Chính phủ Mỹ và mua đồng yên Nhật. Điều này sẽ khiến lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ tăng trở lại, đi ngược mục tiêu hỗ trợ thị trường trái phiếu mà Fed đang theo đuổi.

Cũng theo nhóm phân tích của VDSC, chính sách của Chủ tịch Fed Kevin Warsh sẽ được đánh giá là "im lặng” hơn rất nhiều so với ông Jerome Powell, ít can thiệp thị trường bằng phát biểu, các biện pháp mang nặng tính kỹ thuật hơn rất nhiều.

Do đó, nhà đầu tư cần tiếp tục theo dõi thêm các tín hiệu từ Fed, đặc biệt là diễn biến bảng cân đối kế toán, tốc độ mở rộng bảng cân đối, dự trữ cân đối và chỉ số hoán đổi lãi suất qua đêm (Overnight Index Swap - OIS), thay vì chỉ tập trung vào biểu đồ dự báo lãi suất của Fed (Fed’s Dot Plot) hay công cụ dự báo lãi suất của thị trường (FedWatch Tool).

“Kết luận chung là khó có khả năng Fed tăng lãi suất cho các kỳ họp tiếp theo hoặc viễn cảnh này diễn ra vào cuối năm là rất khó” - nhóm phân tích của Chứng khoán VDSC nhìn nhận.

Tính tiền gửi Kho bạc vào tỷ lệ LDR chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất

Sau khi xem xét về khả năng lạm phát, tăng lãi suất tại Mỹ, theo VDSC, trong điều kiện hiện nay, khi không có dòng vốn USD chảy vào đáng kể, Fed chưa hạ lãi suất và lãi suất điều hành của Mỹ vẫn duy trì trong vùng 3,5 - 3,75%, thị trường đòi hỏi mức chênh lệch hoán đổi (swap) khoảng 2 - 3% để nắm giữ VND, thay vì đồng USD.

“Chắc chắn nền lãi suất không thể hạ được trong 3 tháng tới” - VDSC nhận định.

Fed khó tăng lãi suất cuối năm, lãi suất Việt Nam vẫn chưa thể sớm hạ nhiệt 3 tháng tới
Mức swap USD/VND trên thị trường ngoại hối ngày 20/5/2026 theo các kỳ hạn. Nguồn: VBMA, VDSC tổng hợp.

Về vấn đề độ trễ trong chính sách, VDSC cho rằng, trong năm 2023, sau giai đoạn lãi suất ở mức cao, thị trường cần đồng thời có nới lỏng nội sinh, tức tính lại tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào nguồn huy động với tỷ lệ cao hơn hiện tại và nới lỏng ngoại sinh, thông qua hoạt động mua đồng USD, thì phải sau khoảng 6 tháng mặt bằng lãi suất dài hạn mới giảm trở lại về mức cuối năm 2021.

VDSC phân tích, Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được sửa đổi theo hướng: tính nguồn tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), với tỷ lệ 20%. Đây được xem là hướng đi khả dĩ nhất ở thời điểm hiện tại và điều này cũng đã trở thành hiện thực. Tuy nhiên, lượng tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào tỷ lệ LDR vẫn khá hạn chế và tác động chủ yếu là hạ nhiệt tạm thời các dòng lãi suất ngắn hạn, trong khi nguồn tiền gửi Kho bạc Nhà nước không thể cân đối cho tín dụng kỳ hạn dài.

Bên cạnh đó, các nguồn huy động trung và dài hạn quan trọng như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngân hàng vẫn đang duy trì mặt bằng lãi suất cao, tác động trực tiếp tới chi phí huy động vốn của các ngân hàng, trong bối cảnh huy động trên thị trường một còn khó khăn và nhu cầu tín dụng tiếp tục gia tăng.

“Viễn cảnh khá tiến thoái lưỡng nan và đau đầu hơn cả là dù duy trì lãi suất cao nhưng tỷ giá USD/VND cũng vẫn ở mức cao. Ngay cả những ngân hàng được hưởng lợi khi sửa Thông tư 22/2019/TT-NHNN như “big 4” với chi phí vốn hiện tại, thì nguồn 20% tiền gửi Kho bạc chẳng đáng kể là bao. Có lẽ, nghiệp vụ tái cấp vốn cần được xem xét sử dụng trở lại” - VDSC đánh giá.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/6: Giá vàng trong nước duy trì quanh 156 - 159 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giữ nguyên giá, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến tiếp tục duy trì trong vùng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

Mở dư địa phát triển, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung tăng sức hút nhờ “lãi kép”

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Lê Vân - Giám đốc Ban Phát triển Kinh doanh Công ty TNHH Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) nhấn mạnh những thay đổi mang tính định hình lại “luật chơi”, phát triển bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, việc mở rộng danh mục đầu tư có thể giúp quỹ đạt lợi suất ròng dài hạn cạnh tranh hơn, tăng sức hấp dẫn nhờ hiệu ứng “lãi kép” từ đầu tư dài hạn và ưu đãi thuế.
Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.
PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa chốt ngày 10/6 là ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 7,5%, đồng thời tiếp tục triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng còn dang dở.
Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

(TBTCO) - Chiều ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã có những thông tin liên quan đến chương trình doanh nghiệp hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản.
Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

(TBTCO) - Ngày 29/5/2026, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết đã nhận được đơn đề nghị thôi đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám đốc của ông Phạm Quang Dũng kể từ ngày 1/6/2026.
Tập đoàn Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026

Tập đoàn Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026

(TBTCO) - Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực ở tất cả các phân khúc kinh doanh, đồng thời khẳng định nền tảng vốn vững chắc.
Bảo hiểm Bảo hành an toàn MIC - giải pháp tối ưu dành cho chủ xe không lo gián đoạn bảo hành chính hãng

Bảo hiểm Bảo hành an toàn MIC - giải pháp tối ưu dành cho chủ xe không lo gián đoạn bảo hành chính hãng

(TBTCO) - Hết hạn bảo hành chính hãng luôn là nỗi lo của các chủ xe, e ngại khi có sự cố thay tháo không phải phụ tùng chính hãng sẽ ảnh hưởng đến sự vận hành của xe. Hiểu được những “trăn trở” của khách hàng, Bảo hiểm Quân đội đã cho ra mắt Bảo hiểm Bảo hành an tâm MIC - giải pháp “bảo hiểm sức khỏe” giúp các chủ xe được an tâm về dịch vụ bảo hảnh, sửa chữa hoặc thay thế chữa những bộ phận/linh kiện của xe nếu hỏng hóc xuất phát từ lỗi kỹ thuật.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,550 ▼50K 15,850 ▼50K
Kim TT/AVPL 15,550 ▼50K 15,850 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,550 ▼50K 15,850 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,150 ▼50K 15,550 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,100 ▼50K 15,500 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,030 ▼50K 15,480 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,000 ▲8000K 167,000 ▲8000K
Hà Nội - PNJ 164,000 ▲8000K 167,000 ▲8000K
Đà Nẵng - PNJ 164,000 ▲8000K 167,000 ▲8000K
Miền Tây - PNJ 164,000 ▲8000K 167,000 ▲8000K
Tây Nguyên - PNJ 164,000 ▲8000K 167,000 ▲8000K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,000 ▲8000K 167,000 ▲8000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,550 15,850
Miếng SJC Nghệ An 15,550 15,850
Miếng SJC Thái Bình 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,550 15,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,550 15,850
NL 99.90 14,200 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250 ▼50K
Trang sức 99.9 15,040 15,740
Trang sức 99.99 15,050 15,750
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲1399K 1,585 ▲1426K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,555 ▲1399K 15,852 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,555 ▲1399K 15,853 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,553 ▼5K 1,583 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,553 ▼5K 1,584 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,533 ▼5K 1,568 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 148,748 ▼495K 155,248 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,862 ▼375K 117,762 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,885 ▼340K 106,785 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,908 ▼305K 95,808 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,674 ▼291K 91,574 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,642 ▼209K 65,542 ▼209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲1399K 1,585 ▲1426K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲1399K 1,585 ▲1426K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲1399K 1,585 ▲1426K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲1399K 1,585 ▲1426K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲1399K 1,585 ▲1426K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲1399K 1,585 ▲1426K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲1399K 1,585 ▲1426K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲1399K 1,585 ▲1426K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲1399K 1,585 ▲1426K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲1399K 1,585 ▲1426K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,555 ▲1399K 1,585 ▲1426K
Cập nhật: 01/06/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18370 18646 19222
CAD 18518 18795 19411
CHF 32959 33345 33982
CNY 0 3850 3942
EUR 30054 30328 31356
GBP 34650 35042 35973
HKD 0 3228 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15393 15983
SGD 20066 20349 20872
THB 723 787 840
USD (1,2) 26058 0 0
USD (5,10,20) 26099 0 0
USD (50,100) 26128 26142 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,114 26,114 26,394
USD(1-2-5) 25,070 - -
USD(10-20) 25,070 - -
EUR 30,200 30,224 31,546
JPY 160.8 161.09 170.14
GBP 34,868 34,962 36,028
AUD 18,585 18,652 19,282
CAD 18,740 18,800 19,419
CHF 33,259 33,362 34,218
SGD 20,211 20,274 20,995
CNY - 3,821 3,952
HKD 3,296 3,306 3,431
KRW 16.16 16.85 18.26
THB 772.31 781.85 833.59
NZD 15,392 15,535 15,935
SEK - 2,802 2,889
DKK - 4,041 4,167
NOK - 2,801 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,214.15 - 6,986.39
TWD 759.38 - 916.39
SAR - 6,905.92 7,245.6
KWD - 83,643 88,650
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,104 26,124 26,394
EUR 30,081 30,202 31,404
GBP 34,768 34,908 35,942
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 33,047 33,180 34,129
JPY 161.14 161.79 169.21
AUD 18,550 18,624 19,228
SGD 20,242 20,323 20,920
THB 788 791 826
CAD 18,712 18,787 19,370
NZD 15,477 16,026
KRW 16.67 18.29
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26115 26115 26394
AUD 18549 18649 19577
CAD 18702 18802 19813
CHF 33189 33219 34807
CNY 3827.7 3852.7 3988.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30190 30220 31948
GBP 34895 34945 36705
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15504 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20213 20343 21066
THB 0 752.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,197 26,394
USD20 26,147 26,197 26,394
USD1 23,882 26,197 26,394
AUD 18,598 18,698 19,799
EUR 30,357 30,357 31,767
CAD 18,662 18,762 20,069
SGD 20,300 20,450 21,013
JPY 161.99 163.49 168.05
GBP 34,815 35,165 36,031
XAU 15,598,000 0 15,902,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/06/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80