“Nới room” có chọn lọc cho 25 ngân hàng, tín dụng được dẫn vào nhà ở xã hội và khu công nghiệp

(TBTCO) - Theo công văn Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành, trong năm 2026, có 25 ngân hàng thương mại sẽ không phải tính phần dư nợ tăng thêm đối với nhà ở xã hội và khu công nghiệp, khu chế xuất vào giới hạn tăng trưởng tín dụng bất động sản. Động thái này được xem là bước “nới room” có chọn lọc, góp phần định hướng dòng vốn các lĩnh vực ưu tiên, thay vì đầu cơ.
aa
Tăng trưởng tín dụng 2026: Giới hạn “van” bất động sản, ngân hàng “vượt rào” sẽ bị trừ room
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Công văn số 4551/NHNN-CSTT về tăng trưởng tín dụng năm 2026 gửi 25 tổ chức tín dụng.

Theo đó, để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng trong việc cấp tín dụng đối với một số loại hình bất động sản phù hợp với chủ trương, chính sách của các cấp có thẩm quyền về phát triển thị trường bất động sản và phát triển kinh tế - xã hội, Ngân hàng Nhà nước vừa có thông báo mới để các tổ chức tín dụng triển khai về tín dụng bất động sản.

“Kể từ ngày 1/1/2026 đến hết 31/12/2026, các tổ chức tín dụng không phải tính phần dư nợ tín dụng tăng thêm so với cuối năm 2025 đối với nhà ở xã hội và khu công nghiệp, khu chế xuất vào dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản, khi kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng bất động sản theo nội dung tại điểm 4 Công văn số 11686/NHNN-CSTT ngày 31/12/2025” - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Theo đó, trong danh sách 25 ngân hàng được tạo điều kiện gồm: VietinBank, Agribank, BIDV, MSB, Sacombank, ACB, OCB, VietABank, PGBank

“Nới room” có chọn lọc cho 25 ngân hàng, tín dụng được dẫn vào nhà ở xã hội và khu công nghiệp
Nguồn: Công văn số 4551/NHNN-CSTT.

Các tổ chức tín dụng khác tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước tại Công văn số 11686/NHNN-CSTT.

Được biết, ngay từ đầu năm 2026, tại Công văn số 11686/NHNN-CSTT kể trên, Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh sẽ theo dõi, đánh giá tình hình tăng trưởng tín dụng nói chung và tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của từng tổ chức tín dụng. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản trong năm 2026 không vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung. Nếu tổ chức tín dụng không tuân thủ các chỉ đạo nêu trên, Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét giảm trừ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm.

Theo giới phân tích, thị trường bất động sản hiện vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng, trong khi bản thân các ngân hàng cũng đang chịu áp lực thanh khoản và chi phí vốn do tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tốc độ huy động. Bên cạnh đó, các ngân hàng có tốc độ cho vay bất động sản tăng mạnh cũng đối mặt nguy cơ bị nhà điều hành “tuýt còi”, trừ room.

Trong bối cảnh đó, Công văn số 4551/NHNN-CSTT vừa ban hành được đánh giá là động thái “nới room” có chọn lọc đối với thị trường bất động sản. Theo đó, phần dư nợ tín dụng tăng thêm trong năm 2026 dành cho hai lĩnh vực nhà ở xã hội và bất động sản khu công nghiệp sẽ không bị tính vào giới hạn tăng trưởng tín dụng bất động sản chung của các ngân hàng.

Chính sách này tạo ra tác động phân hóa rõ nét tới các doanh nghiệp trên thị trường. Trong đó, nhóm bất động sản khu công nghiệp được xem là hưởng lợi lớn nhất, được có thêm điều kiện tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn để đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hạ tầng và đón dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Ở phân khúc nhà ở xã hội, các doanh nghiệp sở hữu quỹ đất lớn cũng có thêm cơ hội tiếp cận dòng tín dụng thuận lợi hơn.

Trong khi đó, nhóm 25 ngân hàng thương mại trong danh sách có thêm dư địa tối ưu hóa danh mục cho vay, gia tăng tài sản sinh lời mà không chịu áp lực giới hạn tăng trưởng tín dụng bất động sản./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

(TBTCO) - Việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyển sang thu phí không dùng tiền mặt đang tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động phục vụ khách hàng. Không chỉ giúp giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát hơn, phương thức này còn góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế rủi ro trong khâu thu phí. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi thực sự hiệu quả, các doanh nghiệp cần bảo đảm đa dạng kênh thanh toán và hỗ trợ kịp thời những khách hàng chưa quen với giao dịch điện tử.
Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Việc áp dụng cơ chế khởi kiện dân sự công ích đối với các trường hợp vi phạm kéo dài, cùng với đẩy mạnh thanh tra, thu hồi nợ, đang góp phần tăng hiệu quả xử lý chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Đến hết tháng 8/2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt khoảng 22,59 triệu người. Đáng chú ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm so với cùng kỳ.
Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Căn cứ Quyết định số 115/QĐ-QLGS3 ngày 24/8/2026 của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng quyết định sửa đổi Điều 2 tại Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 39/GP-NHNN ngày 18/3/2019 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội thành:
Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

(TBTCO) - Những bước chân vì sức khỏe và môi trường được chuyển hóa thành nguồn lực hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giàu nghị lực vươn lên trong học tập.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

(TBTCO) - Để tài sản số thực sự trở thành nguồn lực cho nền kinh tế, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý, phân loại tài sản theo đúng bản chất, đồng thời chuẩn hóa tài sản cơ sở, dữ liệu và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Đây là những nội dung được bà Nguyễn Vân Hiền - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam nhấn mạnh trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,600
Hà Nội - PNJ 143,200 146,600
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,600
Miền Tây - PNJ 143,200 146,600
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,600
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 14,660
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 09/09/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18200 18475 19054
CAD 18273 18549 19170
CHF 31356 31735 32375
CNY 0 3829 3925
EUR 29533 29754 30837
GBP 34334 34725 35666
HKD 0 3182 3385
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14864 15451
SGD 19978 20260 20831
THB 704 767 821
USD (1,2) 25714 0 0
USD (5,10,20) 25753 0 0
USD (50,100) 25781 25795 26165
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 29,556 29,580 30,985
JPY 163.9 164.2 174.14
GBP 34,487 34,580 35,777
AUD 18,376 18,442 19,141
CAD 18,460 18,519 19,201
CHF 31,587 31,685 32,619
SGD 20,081 20,143 20,934
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 751.43 760.71 814.53
NZD 14,837 14,975 15,420
SEK - 2,654 2,748
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,755 2,856
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,972.09 - 6,745.09
TWD 743.37 - 900.65
SAR - 6,796.45 7,159.27
KWD - 82,408 87,691
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,632 29,751 30,944
GBP 34,534 34,673 35,704
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,559 31,686 32,611
JPY 164.77 165.43 173.41
AUD 18,387 18,461 19,058
SGD 20,172 20,253 20,850
THB 769 772 809
CAD 18,495 18,569 19,165
NZD 14,973 15,516
KRW 18.46 20.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 18377 18477 19402
CAD 18468 18568 19582
CHF 31607 31637 33211
CNY 3810.3 3835.3 3970.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29714 29744 31469
GBP 34638 34688 36440
HKD 0 3330 0
JPY 165.27 165.77 176.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14977 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20140 20270 20991
THB 0 733.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 09/09/2026 04:00
Ngân hàng