PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa chốt ngày 10/6 là ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 7,5%, đồng thời tiếp tục triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng còn dang dở.
aa
Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc lợi nhuận gấp đôi lên 1.400 tỷ đồng, tìm thêm “mảnh ghép” chứng khoán PGBank lãi quý I/2026 tăng gấp 3 lần nhờ thu nhập ngoài lãi bứt phá, dự phòng giảm sâu Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố “bộ đệm” đón tăng trưởng

Tăng vốn đợt 1 khi chia cổ tức 7,5%

Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank - mã Ck: PGB) vừa công bố Nghị quyết Hội đồng quản trị về việc thông qua ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu.

Theo đó, ngày đăng ký cuối cùng là 10/6/2026, PGBank chốt danh sách cổ đông nhằm thực hiện quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu. Tỷ lệ thực hiện là 1.000:75, theo đó, cổ đông sở hữu 1 cổ phiếu sẽ được hưởng 1 quyền nhận và cứ 1.000 quyền nhận sẽ được nhận 75 cổ phiếu mới phát hành thêm theo nguyên tắc làm tròn xuống đến hàng đơn vị.

Như vậy, cổ đông sở hữu 1.000 cổ phiếu sẽ nhận thêm 75 cổ phiếu mới, tương ứng tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu 7,5%.

Đồ họa: Ánh Tuyết
PGBank đưa ra kế hoạch kinh doanh giai đoạn 2026 - 2028 sau khi tăng vốn, với mục tiêu tổng tài sản đến năm 2028 đạt gần 167.943 tỷ đồng; tổng dư nợ tín dụng là 96.516 tỷ đồng; tổng huy động đạt 149.637 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt 2.833 tỷ đồng.

Trước đó, PGBank cũng công bố Nghị quyết Hội đồng quản trị về việc triển khai thực hiện phương án tăng vốn điều lệ của ngân hàng.

Theo đó, PGBank dự kiến tăng vốn điều lệ từ 6.815,9 tỷ đồng lên 10.000 tỷ đồng, tương ứng mức tăng thêm hơn 3.184 tỷ đồng.

Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ thực hiện tăng vốn thông qua hai đợt phát hành cổ phiếu. Trong đó, đợt 1 là phát hành cổ phiếu để trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 7,5%. Nguồn phát hành cổ phiếu trả cổ tức được lấy từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối căn cứ trên Báo cáo tài chính năm 2025 đã được kiểm toán của PGBank sau khi hoàn tất các nghĩa vụ thuế và trích lập các quỹ theo quy định.

Bên cạnh đó, PGBank dự kiến chào bán thêm hơn 267,2 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu qua 2 đợt phát hành, đợt 1 huy động 1.500 tỷ đồng; đợt 2 là 1.172,9 tỷ đồng. Tổng giá trị cổ phiếu dự kiến chào bán theo mệnh giá là hơn 2.672,9 tỷ đồng.

PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng
Nguồn: PGBank.

Hội đồng quản trị PGBank căn cứ vào số lượng cổ phiếu thực tế đang lưu hành của PGBank trước thời điểm triển khai của mỗi đợt để quyết định tỷ lệ phát hành của mỗi đợt cho phù hợp với thực tế, đảm bảo số lượng cổ phiếu dự kiến phát hành của cả 2 đợt không vượt quá số lượng dự kiến phát hành tối đa.

Về kế hoạch sử dụng vốn, toàn bộ số tiền thu được từ đợt chào bán thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu dự kiến được dùng để cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng.

Nhiều kỳ vọng sau đợt tăng vốn mạnh

Đầu năm 2026, PGBank đã phân phối thành công 131,59 triệu cổ phiếu trên tổng số 450 triệu cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện hữu, tương ứng tỷ lệ thành công 29,24%. Với giá chào bán 10.000 đồng/cổ phiếu, ngân hàng thu về khoảng 1.316 tỷ đồng, qua đó nâng vốn điều lệ từ 5.500 tỷ đồng lên gần 6.816 tỷ đồng.

Trong đó, lượng cổ phiếu cổ đông hiện hữu đăng ký mua đạt 4,43 triệu đơn vị, đạt gần 1% tổng lượng chào bán. Phần còn lại được phân phối cho 11 nhà đầu tư cá nhân trong giai đoạn từ ngày 22 - 27/1/2026, với tổng khối lượng khoảng 127,2 triệu cổ phiếu. Toàn bộ số cổ phiếu này bị hạn chế chuyển nhượng trong vòng 1 năm. Số lượng 318,4 triệu cổ phiếu chưa phân phối hết, tương ứng trên 70% được ngân hàng hủy bỏ.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa qua về kế hoạch tăng vốn, lãnh đạo PGBank cho biết, năm 2025, thị trường tài chính biến động rất mạnh khi Mỹ tuyên bố áp mức thuế rất cao đối với nhiều quốc gia, khiến thị trường chứng khoán toàn cầu có thời điểm giảm sâu, thậm chí một số thị trường phải tạm dừng giao dịch.

Trong bối cảnh đó, các nhà đầu tư cũng có tâm lý thận trọng hơn, còn ngân hàng phải cân nhắc lựa chọn thời điểm phù hợp để triển khai tăng vốn, đồng thời thực hiện đầy đủ các thủ tục, quy trình theo đúng quy định. Vì vậy, kế hoạch tăng vốn năm ngoái chưa hoàn thành mục tiêu nâng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng. Dù vậy, kết quả kinh doanh vẫn ghi nhận tích cực khi lợi nhuận của ngân hàng tăng gần gấp đôi so với năm trước.

Sau tăng vốn, ngoài mục tiêu mở rộng hoạt động kinh doanh, PGBank sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư công nghệ, phát triển thêm các phần mềm phục vụ ngân hàng số nhằm nâng tỷ lệ giao dịch trên nền tảng số lên trên 90%.

Ngân hàng cũng dự kiến cải tạo, thuê mới các trụ sở để xây dựng hình ảnh thương hiệu chuyên nghiệp hơn, đồng thời đầu tư vào công ty chứng khoán trong năm 2026. Việc nâng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng cũng nhằm đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và hoàn thành lộ trình ngân hàng đã đề ra./.

Dự kiến cơ cấu cổ đông lớn PGBank sau tăng vốn

Theo danh sách cổ đông sở hữu từ 5% vốn điều lệ trở lên tại thời điểm 31/3/2026 và dự kiến sau khi hoàn tất tăng vốn, cơ cấu cổ đông lớn của PGBank hầu như không biến động đáng kể.

PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng
Nguồn: PGBank.

Theo đó, Công ty cổ phần Quốc tế Cường Phát tiếp tục là cổ đông lớn nhất với tỷ lệ sở hữu duy trì ở mức 9,18% vốn điều lệ. Xếp sau là Công ty cổ phần Thương mại Vũ Anh Đức với 9,06% và Công ty TNHH Xuất nhập khẩu và Phát triển Thương mại Gia Linh với 8,88% vốn điều lệ.

Bên cạnh đó, một số cá nhân liên quan đến các nhóm cổ đông lớn cũng tiếp tục nắm giữ tỷ lệ đáng kể tại ngân hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm khép lại tuần ở 25.596 đồng/USD, giảm 9 đồng và là tuần giảm thứ hai liên tiếp; USD ngân hàng cũng đồng loạt đi xuống, trong khi DXY giữ mốc 99 điểm. Tại Mỹ, lạm phát cơ bản tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm nóng kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18020 18294 18871
CAD 18171 18447 19065
CHF 31161 31539 32183
CNY 0 3835 3930
EUR 29387 29608 30688
GBP 34279 34670 35614
HKD 0 3186 3388
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14673 15258
SGD 19918 20200 20768
THB 698 761 814
USD (1,2) 25752 0 0
USD (5,10,20) 25791 0 0
USD (50,100) 25819 25833 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,825 25,825 26,205
USD(1-2-5) 24,792 - -
USD(10-20) 24,792 - -
EUR 29,422 29,446 30,840
JPY 163.4 163.69 173.58
GBP 34,447 34,540 35,735
AUD 18,200 18,266 18,964
CAD 18,348 18,407 19,088
CHF 31,406 31,504 32,428
SGD 20,031 20,093 20,880
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,249 3,259 3,396
KRW 17.7 18.46 20.08
THB 745.73 754.94 808.32
NZD 14,657 14,793 15,235
SEK - 2,616 2,709
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,740 2,837
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,961.25 - 6,728.52
TWD 738.61 - 894.85
SAR - 6,807.95 7,171.2
KWD - 82,471 87,756
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 29,444 29,562 30,759
GBP 34,455 34,593 35,622
HKD 3,246 3,259 3,375
CHF 31,251 31,377 32,313
JPY 163.96 164.62 172.60
AUD 18,204 18,277 18,871
SGD 20,100 20,181 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,355 18,429 19,019
NZD 14,765 15,305
KRW 18.43 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18193 18293 19218
CAD 18340 18440 19460
CHF 31373 31403 32993
CNY 3813.4 3838.4 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29549 29579 31301
GBP 34556 34606 36377
HKD 0 3305 0
JPY 164.5 165 175.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14781 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20067 20197 20918
THB 0 726.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 15/09/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30