Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
aa

Tư nhân bứt tốc, quốc doanh nhập cuộc tăng vốn

Bước vào mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, thông tin từ các ngân hàng cho thấy xu hướng nổi bật, đó là ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu thay vì tiền mặt; một số nhà băng kết hợp cả hai hình thức, nhưng vẫn nghiêng về chia bằng cổ phiếu, nhằm giữ lại nguồn lực, củng cố vốn điều lệ.

Động thái này phản ánh nhu cầu tăng cường “sức khỏe” tài chính, để đáp ứng các chuẩn mực an toàn vốn ngày càng khắt khe; đồng thời tạo dư địa cho tăng trưởng tín dụng.

Tại Đại hội đồng cổ đông diễn ra tuần qua, Ngân hàng NCB dự kiến phát hành thêm 1 tỷ cổ phiếu riêng lẻ, nâng vốn điều lệ lên 29.279 tỷ đồng quý II - III/2026, tương ứng tăng gần 52%.

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố
MB lên kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 80.550 tỷ đồng lên tối đa 102.687 tỷ đồng. Ảnh: An Thư

Trong khi đó, một số ngân hàng tư nhân quy mô lớn thu hút sự chú ý khi đề xuất phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu với tỷ lệ cao. Điển hình, VPBank dự kiến phát hành hơn 26%, qua đó, nâng vốn điều lệ lên 100.000 tỷ đồng, top đầu hệ thống. Song song, ngân hàng vẫn lên kế hoạch chi trả cổ tức tiền mặt 5%, tương đương khoảng 4.000 tỷ đồng.

Ở diễn biến khác, MB lên kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 80.550 tỷ đồng lên tối đa 102.687 tỷ đồng, tương ứng tăng 27,5%; qua đó, có thể vượt Vietcombank (hiện 83.557 tỷ đồng), trở thành ngân hàng quy mô vốn lớn nhất hệ thống. Song song, ngân hàng vẫn dự kiến chi trả cổ tức tiền mặt 10%, tương đương khoảng 8.055 tỷ đồng, nhằm hài hòa lợi ích cổ đông.

Các ngân hàng này thuộc nhóm tăng vốn mạnh nhất khối tư nhân, khi cùng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao, vượt mặt bằng chung thị trường (15%) khi dao động 30 - 35%.

MB lên lộ trình tăng vốn mạnh mẽ giai đoạn 2026 - 2028

Trong các năm 2026 - 2028, chúng tôi có lộ trình tăng vốn mạnh mẽ, để quản trị hệ số an toàn vốn CAR trên 10,5%. Chúng tôi kỳ vọng khi có chương trình về vốn, các nhà đầu tư sẽ ủng hộ.

Bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính MB

Đáng chú ý, nhóm "big 4" cũng cho thấy sự chuyển động rõ rệt trong cuộc đua tăng vốn, không còn ở thế “chậm nhịp” như trước, đặc biệt với BIDV và VietinBank khi cùng đặt kế hoạch tăng trên 30%.

Còn nhớ tại mùa Đại hội đồng cổ đông 2025, cả ba ngân hàng lớn đều thông qua kế hoạch tăng vốn, nhưng đến cuối năm chỉ VietinBank hoàn tất khi phát hành gần 2,4 tỷ cổ phiếu, tăng 44,6%; còn Vietcombank và BIDV chưa triển khai xong.

Vietcombank đặt mục tiêu chào bán tối đa 6,5% cổ phiếu theo nghị quyết 2025 nhưng đến tháng 1/2026 mới bắt đầu triển khai. Tại đại hội 2026, ngân hàng dự kiến phát hành hơn 1 tỷ cổ phiếu, tăng vốn điều lệ thêm tối đa 10.687 tỷ đồng.

Trong khi đó, BIDV đặt kế hoạch tăng vốn khoảng 30,8% nhưng mới được chấp thuận tăng 2.641 tỷ đồng (3,8%) qua phát hành riêng lẻ, dự kiến thực hiện quý I/2026.

Còn VietinBank dự kiến tăng thêm khoảng 36,3% vốn điều lệ từ lợi nhuận giữ lại các năm 2023 - 2024, với tổng hơn 28.000 tỷ đồng, sau khi đã tăng mạnh năm 2025.

Đáng chú ý, bối cảnh năm nay có thêm "lực đẩy" chính sách từ Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết 79), cho phép các ngân hàng quốc doanh giữ lại lợi nhuận sau thuế để tăng vốn, thay vì chia cổ tức tiền mặt nộp ngân sách như trước.

Củng cố bộ đệm vốn, tăng tốc tín dụng

Chia sẻ với cổ đông tại đại hội vừa diễn ra, bà Bùi Thị Thanh Hương - Chủ tịch Hội đồng quản trị NCB cho biết, năm 2021, khi tái cơ cấu, vốn điều lệ của NCB chỉ trên 4.100 tỷ đồng. Nếu hoàn tất phương án tăng vốn năm nay, NCB sẽ nâng vốn điều lệ gần 30.000 tỷ đồng.

"Đây là "điểm tựa" vô cùng quan trọng giúp chúng ta có được nền tảng về tài chính vững chắc, đặc biệt, đảm bảo từng bước đạt hệ số an toàn vốn theo quy định" - Chủ tịch NCB nêu rõ.

Cũng theo đánh giá của lãnh đạo NCB, việc chào bán 1 tỷ cổ phiếu riêng lẻ gần như với chi phí "0 đồng", giúp NCB có "điểm tựa" vốn điều lệ 30.000 tỷ đồng, thay vì phải đi vay với lãi suất 8%/năm, điều này cho thấy lợi thế rõ rệt về chi phí vốn. Đồng thời, quy mô 30.000 tỷ đồng so với tổng dư nợ cho vay dự kiến 130.000 tỷ đồng cuối năm (tăng 35%) tạo ra “đệm” tài chính vững chắc, giúp ngân hàng tự tin hơn.

Với MB, theo bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính MB, trong nhiều năm qua, MB duy trì cơ chế chia cổ tức đều đặn, ổn định hàng năm, nhằm cân bằng lợi ích giữa ngân hàng và cổ đông, thay vì tích lũy toàn bộ lợi nhuận để tăng vốn cho ngân hàng. "Với tốc độ tăng trưởng tín dụng các năm trước khoảng 23 - 26%, các vấn đề vẫn nằm trong ngưỡng quản trị và hệ số an toàn vốn (CAR) luôn trên 11%" - bà Nga nhấn mạnh.

Tuy nhiên, giai đoạn 2025 - 2028, khi đẩy tốc độ tăng trưởng theo đề án nhận chuyển giao bắt buộc ở mức cao, MB sẽ phải tối ưu hóa tài sản có rủi ro để tiết kiệm vốn, nâng vốn điều lệ. Đồng thời, nghiên cứu triển khai Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn (Thông tư 14) và đánh giá tài sản có rủi ro theo phương pháp IRB (phương pháp xếp hạng nội bộ). Qua đó, phản ánh đúng chất lượng tín dụng của MB.

Tại VietinBank, bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cho biết, ngân hàng rất mong chờ có thể sớm hiện thực hóa các định hướng và kế hoạch tại Nghị quyết 79 thời gian tới, qua đó, tạo điều kiện tăng vốn điều lệ. Ngân hàng VietinBank hướng tới triển khai hiệu quả Nghị quyết 79 và cũng là kế hoạch của ngân hàng, đó là trở thành một trong ít nhất ba ngân hàng nằm trong top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản.

Nâng chuẩn an toàn vốn, tiến gần thông lệ quốc tế

Theo bà Phạm Thị Trung Hà - Phó Tổng giám đốc MB, tính đến hết năm 2025, tỷ lệ CAR của MB duy trì trên 11% nhờ tối ưu tổng tài sản có rủi ro, dù tăng trưởng lớn. Trong 3 năm tới, MB sẽ tiếp tục tối ưu tổng tài sản có rủi ro, để giữ hệ số CAR trên 10,5%.

Lãnh đạo MB cho biết, ngân hàng dự kiến triển khai phương pháp xếp hạng nội bộ IRB vào năm 2029, sớm hơn thời hạn năm 2030 của Ngân hàng Nhà nước. MB đang xây dựng các kịch bản để phấn đấu trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên được chấp thuận triển khai phương pháp này.

Việc áp dụng sớm Thông tư 14 được kỳ vọng giúp MB nâng cao uy tín với nhà đầu tư, cải thiện năng lực quản trị, do yêu cầu theo Basel III cao hơn nhiều so với Basel II.

"Khi ngân hàng đạt quy mô lớn và tiêu chuẩn quốc tế, sẽ giúp nhà đầu tư nước ngoài và đối tác hiểu MB trên nền tảng chung của thông lệ quốc tế. Chúng tôi sẽ xây dựng kế hoạch chi tiết để triển khai hệ thống phần mềm, quản trị hệ số an toàn vốn và tối ưu tài sản có rủi ro của MB" - bà Hà thông tin.

Cũng theo bà Nguyễn Thị Lê Mai - Phó trưởng phòng Quản lý cân đối vốn - Khối Tài chính VietinBank, tỷ lệ CAR của ngân hàng tại thời điểm cuối năm 2025 là 10%. Trong năm 2026, VietinBank sẽ điều hành tỷ lệ CAR tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước; đồng thời, duy trì bộ đệm dự phòng trong các kịch bản căng thẳng và tiến tới tuân thủ theo Thông tư 14, cũng như chuẩn mực Basel III.

"VietinBank sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ các biện pháp nâng cao năng lực vốn tự có, đồng thời, nỗ lực kiểm soát tài sản có rủi ro, nhằm cải thiện tỷ lệ an toàn vốn, nâng cao năng lực tài chính" - bà Mai nhấn mạnh.

Ngân hàng VietinBank cũng sẽ thực hiện chia cổ tức bằng tiền mặt hoặc cổ phiếu theo phê duyệt của các cơ quan có thẩm quyền, tiếp tục phương án tăng vốn điều lệ từ lợi nhuận còn lại và các quỹ theo phê duyệt; đồng thời, nghiên cứu thêm các phương án tăng vốn phù hợp với quy định pháp luật.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

(TBTCO) - Sáng 18/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.254 đồng, tăng 40 đồng so với cuối tuần trước và nối dài chuỗi tăng sang tuần thứ 10, lên mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2025. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng chỉ biến động nhẹ. Chỉ số DXY giảm 0,18%, Fed vẫn giữ lập trường "diều hâu", phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao hơn để cân bằng rủi ro.
ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ với Luật Xây dựng, bổ sung quy định về mức phí, mức khấu trừ nhiều công trình. Nhiều nội dung được làm rõ, góp phần tăng trách nhiệm, tính tự chủ của doanh nghiệp, chuyển mạnh sang hậu kiểm và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 ▼150K 14,600 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,300 ▼150K 14,600 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,300 ▼150K 14,600 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼140K 14,550 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼140K 14,550 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼140K 14,550 ▼140K
NL 99.99 12,880 ▼120K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,830 ▼120K
Trang sức 99.9 13,740 ▼140K 14,440 ▼140K
Trang sức 99.99 13,750 ▼140K 14,450 ▼140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 ▼1302K 14,602 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 ▼1302K 14,603 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,415 ▲1272K 145 ▼1320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,415 ▲1272K 1,451 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,385 ▲1245K 143 ▼1302K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 ▼1485K 141,584 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 ▼1125K 107,411 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 ▼7986K 974 ▼8868K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 ▼915K 87,389 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 ▼875K 83,527 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 ▼626K 59,787 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Cập nhật: 20/07/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17867 18141 18716
CAD 18214 18490 19105
CHF 31897 32278 32920
CNY 0 3845 3937
EUR 29427 29648 30725
GBP 34589 34981 35911
HKD 0 3223 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15077 15662
SGD 19830 20112 20688
THB 697 760 813
USD (1,2) 26032 0 0
USD (5,10,20) 26073 0 0
USD (50,100) 26102 26116 26475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,110 26,110 26,490
USD(1-2-5) 25,066 - -
USD(10-20) 25,066 - -
EUR 29,566 29,590 30,999
JPY 157.52 157.8 167.34
GBP 34,763 34,857 36,067
AUD 18,043 18,108 18,789
CAD 18,425 18,484 19,161
CHF 32,178 32,278 33,223
SGD 19,949 20,011 20,796
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,287 3,297 3,434
KRW 16.4 17.1 18.6
THB 744.78 753.98 807.16
NZD 15,045 15,185 15,638
SEK - 2,678 2,772
DKK - 3,955 4,094
NOK - 2,683 2,777
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.96 - 6,776.76
TWD 733.05 - 887.95
SAR - 6,883.63 7,249.77
KWD - 83,192 88,508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,513 29,632 30,825
GBP 34,752 34,892 35,926
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,997 32,125 33,057
JPY 157.93 158.56 166.48
AUD 18,034 18,106 18,702
SGD 20,019 20,099 20,689
THB 762 765 801
CAD 18,434 18,508 19,090
NZD 15,118 15,663
KRW 16.95 18.77
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26480
AUD 18065 18165 19088
CAD 18419 18519 19533
CHF 32205 32235 33813
CNY 3825.6 3850.6 3986
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29648 29678 31404
GBP 34929 34979 36747
HKD 0 3355 0
JPY 158.46 158.96 169.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15207 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20000 20130 20862
THB 0 726.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,118 26,168 26,490
USD20 26,118 26,168 26,490
USD1 26,118 26,168 26,490
AUD 18,067 18,167 19,275
EUR 29,416 29,516 31,172
CAD 18,365 18,465 19,770
SGD 20,056 20,206 20,830
JPY 158.85 160.35 165.9
GBP 34,778 34,928 36,001
XAU 14,388,000 0 14,692,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/07/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80