Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
aa

Tư nhân bứt tốc, quốc doanh nhập cuộc tăng vốn

Bước vào mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, thông tin từ các ngân hàng cho thấy xu hướng nổi bật, đó là ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu thay vì tiền mặt; một số nhà băng kết hợp cả hai hình thức, nhưng vẫn nghiêng về chia bằng cổ phiếu, nhằm giữ lại nguồn lực, củng cố vốn điều lệ.

Động thái này phản ánh nhu cầu tăng cường “sức khỏe” tài chính, để đáp ứng các chuẩn mực an toàn vốn ngày càng khắt khe; đồng thời tạo dư địa cho tăng trưởng tín dụng.

Tại Đại hội đồng cổ đông diễn ra tuần qua, Ngân hàng NCB dự kiến phát hành thêm 1 tỷ cổ phiếu riêng lẻ, nâng vốn điều lệ lên 29.279 tỷ đồng quý II - III/2026, tương ứng tăng gần 52%.

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố
MB lên kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 80.550 tỷ đồng lên tối đa 102.687 tỷ đồng. Ảnh: An Thư

Trong khi đó, một số ngân hàng tư nhân quy mô lớn thu hút sự chú ý khi đề xuất phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu với tỷ lệ cao. Điển hình, VPBank dự kiến phát hành hơn 26%, qua đó, nâng vốn điều lệ lên 100.000 tỷ đồng, top đầu hệ thống. Song song, ngân hàng vẫn lên kế hoạch chi trả cổ tức tiền mặt 5%, tương đương khoảng 4.000 tỷ đồng.

Ở diễn biến khác, MB lên kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 80.550 tỷ đồng lên tối đa 102.687 tỷ đồng, tương ứng tăng 27,5%; qua đó, có thể vượt Vietcombank (hiện 83.557 tỷ đồng), trở thành ngân hàng quy mô vốn lớn nhất hệ thống. Song song, ngân hàng vẫn dự kiến chi trả cổ tức tiền mặt 10%, tương đương khoảng 8.055 tỷ đồng, nhằm hài hòa lợi ích cổ đông.

Các ngân hàng này thuộc nhóm tăng vốn mạnh nhất khối tư nhân, khi cùng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao, vượt mặt bằng chung thị trường (15%) khi dao động 30 - 35%.

MB lên lộ trình tăng vốn mạnh mẽ giai đoạn 2026 - 2028

Trong các năm 2026 - 2028, chúng tôi có lộ trình tăng vốn mạnh mẽ, để quản trị hệ số an toàn vốn CAR trên 10,5%. Chúng tôi kỳ vọng khi có chương trình về vốn, các nhà đầu tư sẽ ủng hộ.

Bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính MB

Đáng chú ý, nhóm "big 4" cũng cho thấy sự chuyển động rõ rệt trong cuộc đua tăng vốn, không còn ở thế “chậm nhịp” như trước, đặc biệt với BIDV và VietinBank khi cùng đặt kế hoạch tăng trên 30%.

Còn nhớ tại mùa Đại hội đồng cổ đông 2025, cả ba ngân hàng lớn đều thông qua kế hoạch tăng vốn, nhưng đến cuối năm chỉ VietinBank hoàn tất khi phát hành gần 2,4 tỷ cổ phiếu, tăng 44,6%; còn Vietcombank và BIDV chưa triển khai xong.

Vietcombank đặt mục tiêu chào bán tối đa 6,5% cổ phiếu theo nghị quyết 2025 nhưng đến tháng 1/2026 mới bắt đầu triển khai. Tại đại hội 2026, ngân hàng dự kiến phát hành hơn 1 tỷ cổ phiếu, tăng vốn điều lệ thêm tối đa 10.687 tỷ đồng.

Trong khi đó, BIDV đặt kế hoạch tăng vốn khoảng 30,8% nhưng mới được chấp thuận tăng 2.641 tỷ đồng (3,8%) qua phát hành riêng lẻ, dự kiến thực hiện quý I/2026.

Còn VietinBank dự kiến tăng thêm khoảng 36,3% vốn điều lệ từ lợi nhuận giữ lại các năm 2023 - 2024, với tổng hơn 28.000 tỷ đồng, sau khi đã tăng mạnh năm 2025.

Đáng chú ý, bối cảnh năm nay có thêm "lực đẩy" chính sách từ Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết 79), cho phép các ngân hàng quốc doanh giữ lại lợi nhuận sau thuế để tăng vốn, thay vì chia cổ tức tiền mặt nộp ngân sách như trước.

Củng cố bộ đệm vốn, tăng tốc tín dụng

Chia sẻ với cổ đông tại đại hội vừa diễn ra, bà Bùi Thị Thanh Hương - Chủ tịch Hội đồng quản trị NCB cho biết, năm 2021, khi tái cơ cấu, vốn điều lệ của NCB chỉ trên 4.100 tỷ đồng. Nếu hoàn tất phương án tăng vốn năm nay, NCB sẽ nâng vốn điều lệ gần 30.000 tỷ đồng.

"Đây là "điểm tựa" vô cùng quan trọng giúp chúng ta có được nền tảng về tài chính vững chắc, đặc biệt, đảm bảo từng bước đạt hệ số an toàn vốn theo quy định" - Chủ tịch NCB nêu rõ.

Cũng theo đánh giá của lãnh đạo NCB, việc chào bán 1 tỷ cổ phiếu riêng lẻ gần như với chi phí "0 đồng", giúp NCB có "điểm tựa" vốn điều lệ 30.000 tỷ đồng, thay vì phải đi vay với lãi suất 8%/năm, điều này cho thấy lợi thế rõ rệt về chi phí vốn. Đồng thời, quy mô 30.000 tỷ đồng so với tổng dư nợ cho vay dự kiến 130.000 tỷ đồng cuối năm (tăng 35%) tạo ra “đệm” tài chính vững chắc, giúp ngân hàng tự tin hơn.

Với MB, theo bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính MB, trong nhiều năm qua, MB duy trì cơ chế chia cổ tức đều đặn, ổn định hàng năm, nhằm cân bằng lợi ích giữa ngân hàng và cổ đông, thay vì tích lũy toàn bộ lợi nhuận để tăng vốn cho ngân hàng. "Với tốc độ tăng trưởng tín dụng các năm trước khoảng 23 - 26%, các vấn đề vẫn nằm trong ngưỡng quản trị và hệ số an toàn vốn (CAR) luôn trên 11%" - bà Nga nhấn mạnh.

Tuy nhiên, giai đoạn 2025 - 2028, khi đẩy tốc độ tăng trưởng theo đề án nhận chuyển giao bắt buộc ở mức cao, MB sẽ phải tối ưu hóa tài sản có rủi ro để tiết kiệm vốn, nâng vốn điều lệ. Đồng thời, nghiên cứu triển khai Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn (Thông tư 14) và đánh giá tài sản có rủi ro theo phương pháp IRB (phương pháp xếp hạng nội bộ). Qua đó, phản ánh đúng chất lượng tín dụng của MB.

Tại VietinBank, bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cho biết, ngân hàng rất mong chờ có thể sớm hiện thực hóa các định hướng và kế hoạch tại Nghị quyết 79 thời gian tới, qua đó, tạo điều kiện tăng vốn điều lệ. Ngân hàng VietinBank hướng tới triển khai hiệu quả Nghị quyết 79 và cũng là kế hoạch của ngân hàng, đó là trở thành một trong ít nhất ba ngân hàng nằm trong top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản.

Nâng chuẩn an toàn vốn, tiến gần thông lệ quốc tế

Theo bà Phạm Thị Trung Hà - Phó Tổng giám đốc MB, tính đến hết năm 2025, tỷ lệ CAR của MB duy trì trên 11% nhờ tối ưu tổng tài sản có rủi ro, dù tăng trưởng lớn. Trong 3 năm tới, MB sẽ tiếp tục tối ưu tổng tài sản có rủi ro, để giữ hệ số CAR trên 10,5%.

Lãnh đạo MB cho biết, ngân hàng dự kiến triển khai phương pháp xếp hạng nội bộ IRB vào năm 2029, sớm hơn thời hạn năm 2030 của Ngân hàng Nhà nước. MB đang xây dựng các kịch bản để phấn đấu trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên được chấp thuận triển khai phương pháp này.

Việc áp dụng sớm Thông tư 14 được kỳ vọng giúp MB nâng cao uy tín với nhà đầu tư, cải thiện năng lực quản trị, do yêu cầu theo Basel III cao hơn nhiều so với Basel II.

"Khi ngân hàng đạt quy mô lớn và tiêu chuẩn quốc tế, sẽ giúp nhà đầu tư nước ngoài và đối tác hiểu MB trên nền tảng chung của thông lệ quốc tế. Chúng tôi sẽ xây dựng kế hoạch chi tiết để triển khai hệ thống phần mềm, quản trị hệ số an toàn vốn và tối ưu tài sản có rủi ro của MB" - bà Hà thông tin.

Cũng theo bà Nguyễn Thị Lê Mai - Phó trưởng phòng Quản lý cân đối vốn - Khối Tài chính VietinBank, tỷ lệ CAR của ngân hàng tại thời điểm cuối năm 2025 là 10%. Trong năm 2026, VietinBank sẽ điều hành tỷ lệ CAR tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước; đồng thời, duy trì bộ đệm dự phòng trong các kịch bản căng thẳng và tiến tới tuân thủ theo Thông tư 14, cũng như chuẩn mực Basel III.

"VietinBank sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ các biện pháp nâng cao năng lực vốn tự có, đồng thời, nỗ lực kiểm soát tài sản có rủi ro, nhằm cải thiện tỷ lệ an toàn vốn, nâng cao năng lực tài chính" - bà Mai nhấn mạnh.

Ngân hàng VietinBank cũng sẽ thực hiện chia cổ tức bằng tiền mặt hoặc cổ phiếu theo phê duyệt của các cơ quan có thẩm quyền, tiếp tục phương án tăng vốn điều lệ từ lợi nhuận còn lại và các quỹ theo phê duyệt; đồng thời, nghiên cứu thêm các phương án tăng vốn phù hợp với quy định pháp luật.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 - 400.000 đồng/lượng tại các thương hiệu, trong khi vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 141,500
Hà Nội - PNJ 138,500 141,500
Đà Nẵng - PNJ 138,500 141,500
Miền Tây - PNJ 138,500 141,500
Tây Nguyên - PNJ 138,500 141,500
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 141,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,960 14,260
Miếng SJC Nghệ An 13,960 14,260
Miếng SJC Thái Bình 13,960 14,260
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 14,250
NL 99.99 13,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,530 14,130
Trang sức 99.99 13,540 14,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,396 14,262
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,396 14,263
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 1,412
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 1,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 1,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 138,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 105,311
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 95,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 85,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 81,895
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 58,619
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cập nhật: 21/10/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17542 17815 18391
CAD 17880 18154 18771
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3832 3928
EUR 28370 28587 29667
GBP 33711 34100 35037
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14383 14973
SGD 19692 19973 20552
THB 684 747 800
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,479 28,502 29,862
JPY 159.14 159.43 169.08
GBP 33,922 34,014 35,194
AUD 17,752 17,816 18,503
CAD 18,030 18,088 18,757
CHF 30,960 31,056 31,977
SGD 19,816 19,878 20,661
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.96 18.73 20.38
THB 733.97 743.03 795.86
NZD 14,380 14,514 14,946
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,706 2,805
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,682.73
TWD 716.21 - 867.76
SAR - 6,778.81 7,141.45
KWD - 81,731 86,975
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,448 28,591 29,816
GBP 33,830 34,000 35,034
HKD 3,226 3,245 3,363
CHF 30,793 30,948 31,891
JPY 158.50 160.10 168.08
AUD 17,687 17,812 18,409
SGD 19,793 19,973 20,568
THB 740 755 792
CAD 17,990 18,117 18,716
NZD 14,418 14,975
KRW 18.84 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17729 17829 18759
CAD 18056 18156 19170
CHF 30975 31005 32583
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28566 28596 30321
GBP 34030 34080 35838
HKD 0 3300 0
JPY 160.12 160.62 171.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19855 19985 20709
THB 0 713.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 21/10/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30