Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
aa

Tư nhân bứt tốc, quốc doanh nhập cuộc tăng vốn

Bước vào mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, thông tin từ các ngân hàng cho thấy xu hướng nổi bật, đó là ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu thay vì tiền mặt; một số nhà băng kết hợp cả hai hình thức, nhưng vẫn nghiêng về chia bằng cổ phiếu, nhằm giữ lại nguồn lực, củng cố vốn điều lệ.

Động thái này phản ánh nhu cầu tăng cường “sức khỏe” tài chính, để đáp ứng các chuẩn mực an toàn vốn ngày càng khắt khe; đồng thời tạo dư địa cho tăng trưởng tín dụng.

Tại Đại hội đồng cổ đông diễn ra tuần qua, Ngân hàng NCB dự kiến phát hành thêm 1 tỷ cổ phiếu riêng lẻ, nâng vốn điều lệ lên 29.279 tỷ đồng quý II - III/2026, tương ứng tăng gần 52%.

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố
MB lên kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 80.550 tỷ đồng lên tối đa 102.687 tỷ đồng. Ảnh: An Thư

Trong khi đó, một số ngân hàng tư nhân quy mô lớn thu hút sự chú ý khi đề xuất phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu với tỷ lệ cao. Điển hình, VPBank dự kiến phát hành hơn 26%, qua đó, nâng vốn điều lệ lên 100.000 tỷ đồng, top đầu hệ thống. Song song, ngân hàng vẫn lên kế hoạch chi trả cổ tức tiền mặt 5%, tương đương khoảng 4.000 tỷ đồng.

Ở diễn biến khác, MB lên kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 80.550 tỷ đồng lên tối đa 102.687 tỷ đồng, tương ứng tăng 27,5%; qua đó, có thể vượt Vietcombank (hiện 83.557 tỷ đồng), trở thành ngân hàng quy mô vốn lớn nhất hệ thống. Song song, ngân hàng vẫn dự kiến chi trả cổ tức tiền mặt 10%, tương đương khoảng 8.055 tỷ đồng, nhằm hài hòa lợi ích cổ đông.

Các ngân hàng này thuộc nhóm tăng vốn mạnh nhất khối tư nhân, khi cùng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao, vượt mặt bằng chung thị trường (15%) khi dao động 30 - 35%.

MB lên lộ trình tăng vốn mạnh mẽ giai đoạn 2026 - 2028

Trong các năm 2026 - 2028, chúng tôi có lộ trình tăng vốn mạnh mẽ, để quản trị hệ số an toàn vốn CAR trên 10,5%. Chúng tôi kỳ vọng khi có chương trình về vốn, các nhà đầu tư sẽ ủng hộ.

Bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính MB

Đáng chú ý, nhóm "big 4" cũng cho thấy sự chuyển động rõ rệt trong cuộc đua tăng vốn, không còn ở thế “chậm nhịp” như trước, đặc biệt với BIDV và VietinBank khi cùng đặt kế hoạch tăng trên 30%.

Còn nhớ tại mùa Đại hội đồng cổ đông 2025, cả ba ngân hàng lớn đều thông qua kế hoạch tăng vốn, nhưng đến cuối năm chỉ VietinBank hoàn tất khi phát hành gần 2,4 tỷ cổ phiếu, tăng 44,6%; còn Vietcombank và BIDV chưa triển khai xong.

Vietcombank đặt mục tiêu chào bán tối đa 6,5% cổ phiếu theo nghị quyết 2025 nhưng đến tháng 1/2026 mới bắt đầu triển khai. Tại đại hội 2026, ngân hàng dự kiến phát hành hơn 1 tỷ cổ phiếu, tăng vốn điều lệ thêm tối đa 10.687 tỷ đồng.

Trong khi đó, BIDV đặt kế hoạch tăng vốn khoảng 30,8% nhưng mới được chấp thuận tăng 2.641 tỷ đồng (3,8%) qua phát hành riêng lẻ, dự kiến thực hiện quý I/2026.

Còn VietinBank dự kiến tăng thêm khoảng 36,3% vốn điều lệ từ lợi nhuận giữ lại các năm 2023 - 2024, với tổng hơn 28.000 tỷ đồng, sau khi đã tăng mạnh năm 2025.

Đáng chú ý, bối cảnh năm nay có thêm "lực đẩy" chính sách từ Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết 79), cho phép các ngân hàng quốc doanh giữ lại lợi nhuận sau thuế để tăng vốn, thay vì chia cổ tức tiền mặt nộp ngân sách như trước.

Củng cố bộ đệm vốn, tăng tốc tín dụng

Chia sẻ với cổ đông tại đại hội vừa diễn ra, bà Bùi Thị Thanh Hương - Chủ tịch Hội đồng quản trị NCB cho biết, năm 2021, khi tái cơ cấu, vốn điều lệ của NCB chỉ trên 4.100 tỷ đồng. Nếu hoàn tất phương án tăng vốn năm nay, NCB sẽ nâng vốn điều lệ gần 30.000 tỷ đồng.

"Đây là "điểm tựa" vô cùng quan trọng giúp chúng ta có được nền tảng về tài chính vững chắc, đặc biệt, đảm bảo từng bước đạt hệ số an toàn vốn theo quy định" - Chủ tịch NCB nêu rõ.

Cũng theo đánh giá của lãnh đạo NCB, việc chào bán 1 tỷ cổ phiếu riêng lẻ gần như với chi phí "0 đồng", giúp NCB có "điểm tựa" vốn điều lệ 30.000 tỷ đồng, thay vì phải đi vay với lãi suất 8%/năm, điều này cho thấy lợi thế rõ rệt về chi phí vốn. Đồng thời, quy mô 30.000 tỷ đồng so với tổng dư nợ cho vay dự kiến 130.000 tỷ đồng cuối năm (tăng 35%) tạo ra “đệm” tài chính vững chắc, giúp ngân hàng tự tin hơn.

Với MB, theo bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính MB, trong nhiều năm qua, MB duy trì cơ chế chia cổ tức đều đặn, ổn định hàng năm, nhằm cân bằng lợi ích giữa ngân hàng và cổ đông, thay vì tích lũy toàn bộ lợi nhuận để tăng vốn cho ngân hàng. "Với tốc độ tăng trưởng tín dụng các năm trước khoảng 23 - 26%, các vấn đề vẫn nằm trong ngưỡng quản trị và hệ số an toàn vốn (CAR) luôn trên 11%" - bà Nga nhấn mạnh.

Tuy nhiên, giai đoạn 2025 - 2028, khi đẩy tốc độ tăng trưởng theo đề án nhận chuyển giao bắt buộc ở mức cao, MB sẽ phải tối ưu hóa tài sản có rủi ro để tiết kiệm vốn, nâng vốn điều lệ. Đồng thời, nghiên cứu triển khai Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn (Thông tư 14) và đánh giá tài sản có rủi ro theo phương pháp IRB (phương pháp xếp hạng nội bộ). Qua đó, phản ánh đúng chất lượng tín dụng của MB.

Tại VietinBank, bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cho biết, ngân hàng rất mong chờ có thể sớm hiện thực hóa các định hướng và kế hoạch tại Nghị quyết 79 thời gian tới, qua đó, tạo điều kiện tăng vốn điều lệ. Ngân hàng VietinBank hướng tới triển khai hiệu quả Nghị quyết 79 và cũng là kế hoạch của ngân hàng, đó là trở thành một trong ít nhất ba ngân hàng nằm trong top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản.

Nâng chuẩn an toàn vốn, tiến gần thông lệ quốc tế

Theo bà Phạm Thị Trung Hà - Phó Tổng giám đốc MB, tính đến hết năm 2025, tỷ lệ CAR của MB duy trì trên 11% nhờ tối ưu tổng tài sản có rủi ro, dù tăng trưởng lớn. Trong 3 năm tới, MB sẽ tiếp tục tối ưu tổng tài sản có rủi ro, để giữ hệ số CAR trên 10,5%.

Lãnh đạo MB cho biết, ngân hàng dự kiến triển khai phương pháp xếp hạng nội bộ IRB vào năm 2029, sớm hơn thời hạn năm 2030 của Ngân hàng Nhà nước. MB đang xây dựng các kịch bản để phấn đấu trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên được chấp thuận triển khai phương pháp này.

Việc áp dụng sớm Thông tư 14 được kỳ vọng giúp MB nâng cao uy tín với nhà đầu tư, cải thiện năng lực quản trị, do yêu cầu theo Basel III cao hơn nhiều so với Basel II.

"Khi ngân hàng đạt quy mô lớn và tiêu chuẩn quốc tế, sẽ giúp nhà đầu tư nước ngoài và đối tác hiểu MB trên nền tảng chung của thông lệ quốc tế. Chúng tôi sẽ xây dựng kế hoạch chi tiết để triển khai hệ thống phần mềm, quản trị hệ số an toàn vốn và tối ưu tài sản có rủi ro của MB" - bà Hà thông tin.

Cũng theo bà Nguyễn Thị Lê Mai - Phó trưởng phòng Quản lý cân đối vốn - Khối Tài chính VietinBank, tỷ lệ CAR của ngân hàng tại thời điểm cuối năm 2025 là 10%. Trong năm 2026, VietinBank sẽ điều hành tỷ lệ CAR tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước; đồng thời, duy trì bộ đệm dự phòng trong các kịch bản căng thẳng và tiến tới tuân thủ theo Thông tư 14, cũng như chuẩn mực Basel III.

"VietinBank sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ các biện pháp nâng cao năng lực vốn tự có, đồng thời, nỗ lực kiểm soát tài sản có rủi ro, nhằm cải thiện tỷ lệ an toàn vốn, nâng cao năng lực tài chính" - bà Mai nhấn mạnh.

Ngân hàng VietinBank cũng sẽ thực hiện chia cổ tức bằng tiền mặt hoặc cổ phiếu theo phê duyệt của các cơ quan có thẩm quyền, tiếp tục phương án tăng vốn điều lệ từ lợi nhuận còn lại và các quỹ theo phê duyệt; đồng thời, nghiên cứu thêm các phương án tăng vốn phù hợp với quy định pháp luật.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lãi trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18%; dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 55% lên 12.688 tỷ đồng thông qua ba phương án phát hành cổ phiếu, tiếp nối tiến độ tăng vốn năm 2025. Ngân hàng cũng chủ động mở rộng sang các lĩnh vực như: chứng khoán, bảo hiểm..., hướng tới đa dạng hóa hoạt động.
SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

(TBTCO) - Từ ngày 6/4, SJC tạm dừng kênh đăng ký mua vàng trực tuyến, áp dụng bán trực tiếp theo lượng thực tế và giới hạn mỗi khách tối đa 1 lượng vàng miếng.
Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re) đặt kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 3.968 tỷ đồng, tăng 7,5%; lợi nhuận trước thuế đi lùi 1,8%, còn 296 tỷ đồng, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh mạnh, dư cung khiến giá tái bảo hiểm đi xuống. Thực tế, lợi nhuận gộp bảo hiểm Hanoi Re “trồi sụt” qua các năm, trong khi hoạt động tài chính chiếm tới 74% lãi trước thuế năm 2025.
Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

(TBTCO) - Báo cáo tài chính năm 2025 của Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh; mã Ck: BMI) ghi nhận ý kiến kiểm toán ngoại trừ, trong đó đáng chú ý khoản “tài sản thiếu chờ xử lý” có giá trị hơn 155,9 tỷ đồng.
Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 795/QĐ-BTC về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính. Qua đó, chuẩn hóa quy trình, tăng tính minh bạch và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia, hoạt động trên thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 5/4 không thay đổi so với phiên trước đó, với mức giá phổ biến quanh vùng 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
Kim TT/AVPL 16,940 ▼80K 17,250 ▼70K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,930 ▼70K 17,240 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 15,500 ▼400K 15,700 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,450 ▼400K 15,650 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,440 ▼310K 16,840 ▼310K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,390 ▼310K 16,790 ▼310K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,320 ▼310K 16,770 ▼310K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,900 ▼90K 17,200 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,900 ▼90K 17,200 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,900 ▼90K 17,200 ▼90K
NL 99.90 15,500 ▼70K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,530 ▼70K
Trang sức 99.9 16,390 ▼90K 17,090 ▼90K
Trang sức 99.99 16,400 ▼90K 17,100 ▼90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,695 ▼6K 17,252 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,695 ▼6K 17,253 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 169 ▼1527K 172 ▼1554K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 169 ▼1527K 1,721 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 167 ▼1509K 1,705 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,312 ▼594K 168,812 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,138 ▼450K 128,038 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,202 ▲96441K 116,102 ▲104451K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,265 ▼366K 104,165 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,661 ▼350K 99,561 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,356 ▼250K 71,256 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Cập nhật: 07/04/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17732 18006 18578
CAD 18387 18664 19281
CHF 32332 32715 33349
CNY 0 3470 3830
EUR 29824 30097 31123
GBP 34149 34539 35475
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19980 20262 20787
THB 725 789 842
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26363
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,143 26,143 26,363
USD(1-2-5) 25,098 - -
USD(10-20) 25,098 - -
EUR 29,975 29,999 31,239
JPY 160.82 161.11 169.81
GBP 34,362 34,455 35,427
AUD 17,943 18,008 18,574
CAD 18,624 18,684 19,255
CHF 32,668 32,770 33,529
SGD 20,131 20,194 20,865
CNY - 3,770 3,890
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 773.52 783.07 833.75
NZD 14,738 14,875 15,224
SEK - 2,743 2,823
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,677 2,755
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,119.7 - 6,864.35
TWD 746.03 - 897.63
SAR - 6,916.72 7,241.88
KWD - 83,771 88,583
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,143 26,363
EUR 29,818 29,938 31,112
GBP 34,220 34,357 35,355
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,390 32,520 33,434
JPY 160.93 161.58 168.82
AUD 17,849 17,921 18,506
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 787 790 825
CAD 18,577 18,652 19,212
NZD 14,773 15,299
KRW 16.75 18.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26363
AUD 17845 17945 18870
CAD 18564 18664 19680
CHF 32532 32562 34153
CNY 3768.2 3793.2 3928.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29922 29952 31677
GBP 34312 34362 36125
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.28
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14803 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20092 20222 20955
THB 0 751.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16950000 16950000 17250000
SBJ 16000000 16000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,363
USD20 26,169 26,219 26,363
USD1 26,169 26,219 26,363
AUD 17,919 18,019 19,127
EUR 30,103 30,103 31,514
CAD 18,515 18,615 19,924
SGD 20,192 20,342 21,365
JPY 161.84 163.34 167.89
GBP 34,281 34,631 35,498
XAU 16,948,000 0 17,252,000
CNY 0 3,682 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/04/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80