Áp dụng tỷ lệ NSFR thay cho tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn:

Tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn

(TBTCO) - Nhóm phân tích của VPBankS cho rằng, tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) sử dụng thay thế cho tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn là chỉ tiêu đánh giá toàn diện và nhạy cảm với rủi ro hơn, đồng thời khuyến khích các ngân hàng từng bước kéo dài kỳ hạn huy động, tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn.
aa
Tín dụng trung dài hạn tăng mạnh 27%, ngân hàng trước sức ép thanh khoản gia tăng “Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng Ngân hàng “gồng mình” giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn

Công ty cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS) vừa công bố báo cáo ngành ngân hàng, đánh giá việc sửa đổi Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng sẽ giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam từng bước tiến gần hơn tới các chuẩn mực Basel III.

NSFR là tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng, được tính bằng nguồn vốn ổn định sẵn có/nguồn vốn ổn định yêu cầu (Required Stable Funding). Trong dự thảo thông tư mới, chỉ tiêu này thay thế tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn hiện hành.

Theo Điều 22 dự thảo Thông tư, nguồn vốn ổn định sẵn có (AFS - Available Stable Funding) là phần vốn và nợ phải trả được kỳ vọng là đáng tin cậy, được quy định tại Điều 23 Thông tư này và Phụ lục II kèm theo Thông tư này. Nguồn vốn ổn định yêu cầu (RFS - Required Stable Funding) là các loại tài sản nội bảng, ngoại bảng, được quy định tại Điều 24 Thông tư này và Phụ lục II kèm theo Thông tư này.

“Chúng tôi cho rằng, việc áp dụng tỷ lệ NSFR thay cho tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn giúp khung quản lý rủi ro kỳ hạn trở nên toàn diện hơn. Tỷ lệ hiện hành chủ yếu đo lường mức độ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho vay trung - dài hạn dựa trên kỳ hạn hợp đồng, trong khi NSFR đánh giá đồng thời cả độ ổn định của nguồn vốn và mức độ cần vốn ổn định của tài sản” - nhóm phân tích của VPBankS đánh giá.

“Lộ trình yêu cầu tỷ lệ NSFR tối thiểu 90% trong năm 2028, 95% trong năm 2029 và 100% từ năm 2030 giúp giảm rủi ro điều chỉnh đột ngột, đồng thời khuyến khích các ngân hàng từng bước kéo dài kỳ hạn huy động, tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn” - nhóm phân tích của VPBankS nêu quan điểm.

Tỷ lệ cũ chủ yếu kiểm soát chênh lệch kỳ hạn theo hợp đồng, trong khi NSFR đánh giá đồng thời tính ổn định của nguồn vốn và tính thanh khoản/rủi ro của tài sản.

Do đó, NSFR không chỉ hạn chế cho vay trung - dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn, mà còn khuyến khích ngân hàng tăng vốn ổn định, tiền gửi bán lẻ, giấy tờ có giá dài hạn và tài sản thanh khoản cao hơn.

Tỷ lệ NSFR thay thế tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn bằng khung đo lường độ ổn định của nguồn vốn so với cấu trúc tài sản.

VPBankS: Chuẩn NSFR sẽ thúc đẩy ngân hàng tăng vốn dài hạn
Nguồn: Dự thảo sửa đổi Thông tư số 22/2019/TT-NHNN.

Theo đó, vốn chủ sở hữu, tiền gửi bán lẻ ổn định và giấy tờ có giá dài hạn được đánh giá tích cực hơn, trong khi nguồn vốn doanh nghiệp ngắn hạn hoặc liên ngân hàng có hệ số ổn định thấp hơn.

Ở phía tài sản, cho vay trung - dài hạn, tài sản kém thanh khoản hoặc rủi ro cao sẽ yêu cầu nhiều nguồn vốn ổn định hơn so với tiền mặt, trái phiếu Chính phủ hoặc cho vay ngắn hạn.

Theo dự thảo, vốn điều lệ theo quy định và các khoản huy động có kỳ hạn từ 1 năm trở lên được tính hệ số ổn định 100%. Tiền gửi cá nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa dưới 1 năm được tính hệ số 90 - 95%, trong khi tiền gửi doanh nghiệp dưới 1 năm chỉ tính 50%; các nguồn vốn không thuộc nhóm ổn định có thể bị tính 0%.

Đối với tài sản có, các khoản cho vay và tài sản ngắn hạn dưới 1 năm có hệ số yêu cầu vốn ổn định khoảng 50%; cho vay từ 1 năm trở lên có hệ số 65% nếu rủi ro thấp và 85% nếu rủi ro cao hơn.

Ngoài ra, các cam kết ngoại bảng cũng được đưa vào tính toán nhu cầu vốn ổn định, trong đó hạn mức tín dụng chưa giải ngân không hủy ngang hoặc hủy ngang có điều kiện bị tính 5% phần chưa giải ngân, còn các cam kết ngoại bảng khác tính 1%.

Cơ chế miễn tuân thủ CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn quy định tại Điều 13 dự thảo Thông tư) đối với ngân hàng đạt tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và NSFR trên 100% cũng là động lực để các ngân hàng đẩy nhanh áp dụng chuẩn Basel III./.

Vốn chủ sở hữu dày, huy động dài hạn sẽ dễ đáp ứng NSFR

Đánh giá tác động của dự thảo Thông tư, VPBankS cho rằng, các ngân hàng có vốn chủ sở hữu dày hoặc phát hành được trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn sẽ dễ đáp ứng NSFR hơn.

Các ngân hàng bán lẻ có lợi thế nhờ nguồn tiền gửi dân cư được xem là ổn định hơn, trong khi nhóm phụ thuộc nhiều vào tiền gửi doanh nghiệp lớn hoặc liên ngân hàng sẽ chịu áp lực cao hơn.

“Ngân hàng có tỷ trọng cho vay trung - dài hạn lớn sẽ phải tăng thêm nguồn vốn ổn định như: tiền gửi dài hạn, trái phiếu hoặc vốn chủ sở hữu” - VPBankS đánh giá.

Đồng thời, những ngân hàng có quy mô cam kết ngoại bảng lớn cũng sẽ cần duy trì thêm nguồn vốn ổn định thay vì chỉ tập trung vào tài sản nội bảng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

BIC chốt quyền nhận cổ tức tiền mặt 12%, được cấp phép thêm nghiệp vụ bảo hiểm tử kỳ

BIC chốt quyền nhận cổ tức tiền mặt 12%, được cấp phép thêm nghiệp vụ bảo hiểm tử kỳ

(TBTCO) - Bảo hiểm BIDV (BIC) dự kiến chi khoảng 242,48 tỷ đồng trả cổ tức năm 2025 bằng tiền mặt, tỷ lệ 12%, tương đương 1.200 đồng/cổ phần, ngày đăng ký cuối cùng 8/10/2026.
Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.661 USD/ounce sau khi tăng hơn 15% trong một tháng. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn tiếp tục đi lên, có nơi đạt 154 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục đi lên, vượt 4.650 USD/ounce. Trong nước, sáng nay, giá vàng tiếp tục nhích tăng sau phiên tăng mạnh hôm qua, với vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng.
Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

(TBTCO) - Tính đến cuối quý II/2026, nợ nhóm 5 các ngân hàng niêm yết đạt 174.685,2 tỷ đồng, tăng 3,7%, thấp hơn đáng kể mức tăng 17,5% tổng nợ xấu. Tuy nhiên, nợ có khả năng mất vốn vẫn chiếm áp đảo 56% tổng nợ xấu, trong khi nợ nhóm 2 và nợ ngoại bảng gia tăng, cho thấy áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu.
Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

(TBTCO) - Techcombank dự kiến phát hành hơn 3,54 tỷ cổ phiếu trả cổ tức tỷ lệ 50% và gần 30 triệu cổ phiếu cho người lao động, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 106.600 tỷ đồng. Phương án mới điều chỉnh đáng kể so với kế hoạch trước, trong bối cảnh tín dụng của ngân hàng tăng mạnh và tiến sát hạn mức theo kịch bản đưa ra tại Đại hội đồng cổ đông.
Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

(TBTCO) - Tiếp và làm việc với đoàn lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn Bảo hiểm FWD, Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận khẳng định, Việt Nam luôn sẵn sàng đồng hành, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm quốc tế uy tín như FWD đầu tư lâu dài, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

(TBTCO) - Mới đây, tại Singapore đã diễn ra Lễ công bố và trao giải ASEAN Award 2026. Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) đã được vinh danh Top 10 Doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN 2026. Cùng với đó, Anh hùng Lao động Thái Hương - Tổng Giám đốc BAC A BANK được trao danh hiệu Top 10 Nhà Lãnh đạo xuất sắc ASEAN 2026. Đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của BAC A BANK và dấu ấn của đội ngũ lãnh đạo trong quá trình xây dựng nền tảng phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững.
Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam vừa có thêm hai gương mặt mới là VietSure Insurance (VSI) và ACB Insurance, nâng tổng số doanh nghiệp trong khối lên con số 34. Được đánh giá vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng, ngành bảo hiểm phi nhân thọ đang trở thành điểm đến hấp dẫn với cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, nhưng mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,200 150,200
Hà Nội - PNJ 147,200 150,200
Đà Nẵng - PNJ 147,200 150,200
Miền Tây - PNJ 147,200 150,200
Tây Nguyên - PNJ 147,200 150,200
Đông Nam Bộ - PNJ 147,200 150,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,730 15,030
Miếng SJC Nghệ An 14,730 15,030
Miếng SJC Thái Bình 14,730 15,030
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 15,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 15,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 15,150
NL 99.99 14,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,460 15,060
Trang sức 99.99 14,470 15,070
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,473 15,032
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,473 15,033
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,468 1,498
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,468 1,499
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,443 1,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,327 147,327
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,961 111,761
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,544 101,344
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,127 90,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,109 86,909
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,406 62,206
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Cập nhật: 27/08/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18206 18481 19058
CAD 18289 18565 19182
CHF 31799 32180 32833
CNY 0 3841 3937
EUR 29805 30027 31110
GBP 34744 35137 36075
HKD 0 3199 3402
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15226 15817
SGD 20004 20286 20866
THB 712 775 828
USD (1,2) 25838 0 0
USD (5,10,20) 25878 0 0
USD (50,100) 25906 25920 26290
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,900 25,900 26,280
USD(1-2-5) 24,864 - -
USD(10-20) 24,864 - -
EUR 29,858 29,882 31,298
JPY 159.61 159.9 169.57
GBP 34,931 35,026 36,236
AUD 18,397 18,463 19,162
CAD 18,471 18,530 19,214
CHF 32,086 32,186 33,136
SGD 20,122 20,185 20,974
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 17.38 18.13 19.72
THB 759.53 768.91 823.52
NZD 15,208 15,349 15,801
SEK - 2,704 2,799
DKK - 4,004 4,146
NOK - 2,744 2,844
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,057.25 - 6,841.77
TWD 740.64 - 897.27
SAR - 6,829.72 7,193.83
KWD - 82,738 88,035
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,867 29,987 31,184
GBP 34,929 35,069 36,107
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,906 32,034 32,970
JPY 159.94 160.58 168.56
AUD 18,378 18,452 19,048
SGD 20,180 20,261 20,859
THB 777 780 817
CAD 18,473 18,547 19,139
NZD 15,261 15,808
KRW 18.02 20
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25920 25920 26280
AUD 18392 18492 19417
CAD 18474 18574 19585
CHF 32074 32104 33687
CNY 3823.6 3848.6 3983.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30004 30034 31760
GBP 35071 35121 36878
HKD 0 3330 0
JPY 160.67 161.17 171.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15342 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20174 20304 21027
THB 0 741.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14750000 14750000 15050000
SBJ 13000000 13000000 15050000
Cập nhật: 27/08/2026 00:30
Ngân hàng