Tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn
Công ty cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS) vừa công bố báo cáo ngành ngân hàng, đánh giá việc sửa đổi Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng sẽ giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam từng bước tiến gần hơn tới các chuẩn mực Basel III.
NSFR là tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng, được tính bằng nguồn vốn ổn định sẵn có/nguồn vốn ổn định yêu cầu (Required Stable Funding). Trong dự thảo thông tư mới, chỉ tiêu này thay thế tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn hiện hành.
Theo Điều 22 dự thảo Thông tư, nguồn vốn ổn định sẵn có (AFS - Available Stable Funding) là phần vốn và nợ phải trả được kỳ vọng là đáng tin cậy, được quy định tại Điều 23 Thông tư này và Phụ lục II kèm theo Thông tư này. Nguồn vốn ổn định yêu cầu (RFS - Required Stable Funding) là các loại tài sản nội bảng, ngoại bảng, được quy định tại Điều 24 Thông tư này và Phụ lục II kèm theo Thông tư này.
“Chúng tôi cho rằng, việc áp dụng tỷ lệ NSFR thay cho tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn giúp khung quản lý rủi ro kỳ hạn trở nên toàn diện hơn. Tỷ lệ hiện hành chủ yếu đo lường mức độ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho vay trung - dài hạn dựa trên kỳ hạn hợp đồng, trong khi NSFR đánh giá đồng thời cả độ ổn định của nguồn vốn và mức độ cần vốn ổn định của tài sản” - nhóm phân tích của VPBankS đánh giá.
| “Lộ trình yêu cầu tỷ lệ NSFR tối thiểu 90% trong năm 2028, 95% trong năm 2029 và 100% từ năm 2030 giúp giảm rủi ro điều chỉnh đột ngột, đồng thời khuyến khích các ngân hàng từng bước kéo dài kỳ hạn huy động, tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn” - nhóm phân tích của VPBankS nêu quan điểm. |
Tỷ lệ cũ chủ yếu kiểm soát chênh lệch kỳ hạn theo hợp đồng, trong khi NSFR đánh giá đồng thời tính ổn định của nguồn vốn và tính thanh khoản/rủi ro của tài sản.
Do đó, NSFR không chỉ hạn chế cho vay trung - dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn, mà còn khuyến khích ngân hàng tăng vốn ổn định, tiền gửi bán lẻ, giấy tờ có giá dài hạn và tài sản thanh khoản cao hơn.
Tỷ lệ NSFR thay thế tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn bằng khung đo lường độ ổn định của nguồn vốn so với cấu trúc tài sản.
![]() |
| Nguồn: Dự thảo sửa đổi Thông tư số 22/2019/TT-NHNN. |
Theo đó, vốn chủ sở hữu, tiền gửi bán lẻ ổn định và giấy tờ có giá dài hạn được đánh giá tích cực hơn, trong khi nguồn vốn doanh nghiệp ngắn hạn hoặc liên ngân hàng có hệ số ổn định thấp hơn.
Ở phía tài sản, cho vay trung - dài hạn, tài sản kém thanh khoản hoặc rủi ro cao sẽ yêu cầu nhiều nguồn vốn ổn định hơn so với tiền mặt, trái phiếu Chính phủ hoặc cho vay ngắn hạn.
Theo dự thảo, vốn điều lệ theo quy định và các khoản huy động có kỳ hạn từ 1 năm trở lên được tính hệ số ổn định 100%. Tiền gửi cá nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa dưới 1 năm được tính hệ số 90 - 95%, trong khi tiền gửi doanh nghiệp dưới 1 năm chỉ tính 50%; các nguồn vốn không thuộc nhóm ổn định có thể bị tính 0%.
Đối với tài sản có, các khoản cho vay và tài sản ngắn hạn dưới 1 năm có hệ số yêu cầu vốn ổn định khoảng 50%; cho vay từ 1 năm trở lên có hệ số 65% nếu rủi ro thấp và 85% nếu rủi ro cao hơn.
Ngoài ra, các cam kết ngoại bảng cũng được đưa vào tính toán nhu cầu vốn ổn định, trong đó hạn mức tín dụng chưa giải ngân không hủy ngang hoặc hủy ngang có điều kiện bị tính 5% phần chưa giải ngân, còn các cam kết ngoại bảng khác tính 1%.
Cơ chế miễn tuân thủ CDR (tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn quy định tại Điều 13 dự thảo Thông tư) đối với ngân hàng đạt tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và NSFR trên 100% cũng là động lực để các ngân hàng đẩy nhanh áp dụng chuẩn Basel III./.
| Vốn chủ sở hữu dày, huy động dài hạn sẽ dễ đáp ứng NSFR Đánh giá tác động của dự thảo Thông tư, VPBankS cho rằng, các ngân hàng có vốn chủ sở hữu dày hoặc phát hành được trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn sẽ dễ đáp ứng NSFR hơn. Các ngân hàng bán lẻ có lợi thế nhờ nguồn tiền gửi dân cư được xem là ổn định hơn, trong khi nhóm phụ thuộc nhiều vào tiền gửi doanh nghiệp lớn hoặc liên ngân hàng sẽ chịu áp lực cao hơn. “Ngân hàng có tỷ trọng cho vay trung - dài hạn lớn sẽ phải tăng thêm nguồn vốn ổn định như: tiền gửi dài hạn, trái phiếu hoặc vốn chủ sở hữu” - VPBankS đánh giá. Đồng thời, những ngân hàng có quy mô cam kết ngoại bảng lớn cũng sẽ cần duy trì thêm nguồn vốn ổn định thay vì chỉ tập trung vào tài sản nội bảng./. |
Dành cho bạn
Đọc thêm
Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế
Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất
Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế
Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại
VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
Thêm một ngân hàng phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu với hải quan


