Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc lợi nhuận gấp đôi lên 1.400 tỷ đồng, tìm thêm “mảnh ghép” chứng khoán

Ánh Tuyết
(TBTCO) - PGBank đặt mục tiêu bứt phá mạnh năm 2026 với lợi nhuận trước thuế 1.438 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi và tiếp tục theo đuổi kế hoạch nâng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng. Ngân hàng cũng dự kiến đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng ở mức 31% và tìm “mảnh ghép” từ lĩnh vực chứng khoán nhằm hoàn thiện hệ sinh thái, tạo động lực tăng trưởng mới.
aa
Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc sau kiện toàn, kỳ vọng lợi nhuận và vốn điều lệ tăng vọt
Lợi nhuận PGBank bứt tốc 80%, tăng vốn điều lệ mở rộng dư địa tăng trưởng PGBank đặt mục tiêu bứt phá năm 2026, đưa lợi nhuận tăng vọt 87%

Tăng tốc lợi nhuận gấp đôi hơn 1.400 tỷ đồng

Ngày 21/4, Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank - mã Ck: PGB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026, thông qua kế hoạch kinh doanh đầy tham vọng cùng phương án tăng vốn điều lệ và chia cổ tức quan trọng. Tổng số cổ đông tham dự trực tiếp và ủy quyền là 45 người, đại diện cho 664,4 triệu cổ phần, tương ứng 97,491% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

Đại hội đồng cổ đông PGBank:
Ban lãnh đạo PGBank điều hành Đại hội đồng cổ đông.

Tại đại hội, ông Nguyễn Văn Hương - Tổng Giám đốc PGBank nêu rõ định hướng kế hoạch kinh doanh năm 2026. Theo đó, năm 2026, PGBank đặt mục tiêu bứt phá mạnh mẽ về quy mô với tổng tài sản dự kiến tăng 32,2% so với cuối năm 2025, vượt 100 nghìn tỷ đồng lên 117.419 tỷ đồng.

Đáng chú ý, năm 2026, PGBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 1.438 tỷ đồng, gần gấp đôi so với mức thực hiện năm 2025 (727 tỷ đồng). Cùng với đó, ngân hàng tiếp tục theo đuổi kế hoạch nâng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 81,8%. Tính đến hết quý I/2026, vốn điều lệ PGBank đã đạt 6.816 tỷ đồng, đồng nghĩa vẫn cần bổ sung thêm khoảng gần 3.200 tỷ đồng để hoàn thành mục tiêu.

Song song đó, dư nợ tín dụng cũng được kỳ vọng tăng trưởng 31%, đạt 61.770 tỷ đồng, số tăng thực tế theo phê duyệt room tín dụng được Ngân hàng Nhà nước giao. Huy động thị trường 1 tăng 27,7%, lên 103.593 tỷ đồng; tỷ lệ CASA 18%.

Những con số này phản ánh nỗ lực tăng tốc của nhà băng sau một năm 2025 kinh doanh bùng nổ với mức lãi kỷ lục trong lịch sử hoạt động, với lợi nhuận tăng trưởng 72,6% so với năm 2024.

Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc lợi nhuận gấp đôi lên 1.400 tỷ đồng, tìm thêm “mảnh ghép” chứng khoán
Nguồn: PGBank.

Để tối ưu hóa hiệu quả hoạt động, PGBank phấn đấu đưa tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) đạt trên 12%, duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) trên 11%, đồng thời nỗ lực tiết giảm tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) từ 45,5% xuống còn 39,5%.

Một số giải pháp trọng tâm được Tổng giám đốc PGBank đề cập, đó là tăng trưởng tín dụng có chọn lọc, kiểm soát rủi ro: tập trung vào các ngành/lĩnh vực ưu tiên như sản xuất bền vững, xuất nhập khẩu... và khách hàng có lịch sử tín dụng tốt. Xây dựng mô hình chấm điểm tín dụng tự động, rút ngắn thời gian phê duyệt nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tài sản... Cùng với đó, tăng hạn mức liên ngân hàng các tổ chức tín dụng cấp cho PGBank thêm 20.000 tỷ đồng. Tăng số lượng ngân hàng quốc tế cấp hạn mức tín chấp cho PGBank lên 04.

Về phương án phân phối lợi nhuận, ngân hàng trình đại hội chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 7,5% vốn điều lệ, phát hành thành 2 đợt. Cùng với việc chia cổ tức bằng cổ phiếu, PGBank còn lên kế hoạch tăng mạnh vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu.

Tiếp nối chủ trương từ kỳ họp bất thường năm 2025, PGBank tiếp tục trình cổ đông thông qua việc góp vốn, mua lại hoặc thành lập mới các công ty con trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm và quản lý quỹ.

Tìm “mảnh ghép” từ chứng khoán, nỗ lực bứt phá vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng

Tại đại hội của PGBank, cổ đông tập trung chất vấn về tính khả thi của kế hoạch kinh doanh và chiến lược phát triển dài hạn, đặc biệt liên quan đến mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao (31%), định hướng phân bổ vốn theo từng phân khúc khách hàng và khả năng hoàn thành kế hoạch trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, cùng yêu cầu cân bằng giữa tăng trưởng, quản trị rủi ro và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, mục tiêu tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng ảnh hưởng thế nào đến kế hoạch lợi nhuận 1.438 tỷ đồng năm 2026.

Cổ đông cũng dành sự quan tâm lớn tới chiến lược xây dựng hệ sinh thái tài chính, nhất là kế hoạch M&A công ty chứng khoán và định hướng phát triển.

Đại hội đồng cổ đông PGBank:
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Trả lời cổ đông, ông Nguyễn Văn Hương - Tổng giám đốc PGBank nhấn mạnh, mặc dù đạt mức tăng trưởng cao, song PGBank vẫn chưa hoàn thành kế hoạch lợi nhuận năm 2025 đã đề ra.

Về tăng trưởng tín dụng, ông Nguyễn Văn Hương - Tổng giám đốc PGBank cho biết, tốc độ tăng thực tế phụ thuộc lớn vào hạn mức được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Trong trường hợp được cấp room 31%, tương ứng tăng gần 15.000 tỷ đồng, ngân hàng sẽ ưu tiên cấp tín dụng cho nhóm doanh nghiệp xuất nhập khẩu, khu vực tạo nguồn ngoại tệ và có vòng quay vốn lưu động tốt. "Thực tế, PGBank hiện nay đang xây dựng rất nhiều các gói ưu đãi cũng như chính sách, cũng như mở rộng các kênh tìm kiếm để tăng trưởng tín dụng vào nhóm xuất nhập khẩu này" - ông Hưng nêu rõ.

Tổng giám đốc PGBank chỉ rõ, nguyên nhân chủ yếu đến từ yếu tố thị trường với nhiều rủi ro, đặc biệt giai đoạn cuối năm 2025 xuất hiện các diễn biến bất lợi từ kinh tế thế giới, biến động tỷ giá và thị trường tiền tệ.

Bên cạnh đó, sự tăng nóng của thị trường bất động sản cũng đặt ra lựa chọn giữa rủi ro và lợi nhuận; tuy nhiên, ngân hàng chủ động phân tán danh mục sang các lĩnh vực có tính bền vững hơn như: xuất nhập khẩu, sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp FDI..., dù biên lợi nhuận thấp hơn so với các lĩnh vực rủi ro cao.

Đồng thời, ngân hàng cũng tăng cường trích lập dự phòng đối với các khoản rủi ro phát sinh, nhằm tuân thủ quy định và đảm bảo an toàn hệ thống, đây là những nguyên nhân chính khiến kế hoạch lợi nhuận chưa đạt. Tuy vậy, kết quả đạt được vẫn phản ánh xu hướng tăng trưởng có kiểm soát và tạo nền tảng ổn định cho các năm tiếp theo, đồng thời là điểm cần cải thiện trong năm 2026.

Bật mí kết quả kinh doanh quý I/2026, Tổng giám đốc PGBank nêu rõ, lãi trước thuế đạt 275 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 2,8 lần so với cùng kỳ năm trước (96 tỷ đồng), hoàn thành 19,2% kế hoạch năm. So với cùng kỳ 2025, mức thực hiện này cho thấy tín hiệu tích cực, tạo cơ sở để ngân hàng tự tin hướng tới hoàn thành mục tiêu cả năm nếu được đại hội thông qua. Tuy nhiên, với kế hoạch lợi nhuận 1.438 tỷ đồng, tương ứng tăng trưởng 97,9% so với năm 2025, đây vẫn là mục tiêu rất thách thức, đòi hỏi ngân hàng phải nỗ lực lớn, tận dụng cơ hội và vượt qua nhiều biến động để đạt được.

Nhấn mạnh về nỗ lực tìm kiếm các công ty con trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm và quản lý quỹ, bà Cao Thị Thuý Nga - Chủ tịch HĐQT PGBank nêu rõ, ban lãnh đạo PGBank đã dành cả năm qua để nghiên cứu, kiểm tra, rà soát thông tin các doanh nghiệp trong lĩnh vực này, qua đó, từng bước lựa chọn mục tiêu phù hợp.

"Chiến lược phát triển PGBank sẽ thành một hệ sinh thái tăng trải nghiệm toàn diện cho khách hàng. Nhưng chúng ta là ngân hàng nhỏ và các bước đi về quản trị cũng phải cần phải được nâng cao" - bà Nga nêu rõ.

Trong đó, kế hoạch đầu tư vào công ty chứng khoán trong năm 2026 là một trong những định hướng trọng tâm. Bởi việc nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ ngoại tiếp tục đổ vào thị trường chứng khoán sẽ trở thành "mảnh đất" để các công ty chứng khoán có kết quả kinh doanh tốt.

Việc tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng cũng nhằm đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời là mục tiêu mang tính bắt buộc trong lộ trình tái cơ cấu của ngân hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

LPBank đạt gần 2.900 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, tăng cường bộ đệm dự phòng ngay từ đầu năm

LPBank đạt gần 2.900 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, tăng cường bộ đệm dự phòng ngay từ đầu năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa công bố Báo cáo tài chính quý I/2026 ghi nhận những điểm sáng tích cực trong hoạt động kinh doanh cốt lõi với lợi nhuận trước thuế đạt 2.826 tỷ đồng. Bất chấp những thách thức chung của thị trường, LPBank tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tín dụng tốt, đa dạng hóa nguồn thu hiệu quả và đặc biệt ghi dấu ấn bằng chiến lược quản trị rủi ro chủ động, an toàn.
Tỷ giá USD hôm nay (21/4): USD tự do nhích nhẹ, thị trường chờ tín hiệu từ đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (21/4): USD tự do nhích nhẹ, thị trường chờ tín hiệu từ đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 21/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.102 VND/USD, trong khi USD tự do nhích lên quanh 26.630 - 26.670 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lùi nhẹ về 98,09 điểm nhưng vẫn duy trì nền ổn định. Tâm điểm chú ý dồn vào đàm phán Mỹ - Iran cuối tuần, yếu tố có thể định hướng xu hướng thị trường ngắn hạn, dù kỳ vọng tích cực đang chiếm ưu thế.
Giá vàng hôm nay ngày 21/4: Giá vàng trong nước tăng từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 21/4: Giá vàng trong nước tăng từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 21/4, giá vàng trong nước tăng từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 168,5 - 171,5 triệu đồng/lượng.
Giải oan cho “Bảng minh họa” trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Giải oan cho “Bảng minh họa” trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong nhiều tranh luận gần đây về bảo hiểm nhân thọ, “bảng minh họa quyền lợi” trở thành một trong những khái niệm gây tranh cãi. Không ít trường hợp khách hàng kỳ vọng mức lợi nhuận cao dựa trên các con số minh họa, để rồi thất vọng khi giá trị thực tế không đạt như mong muốn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia tài chính và pháp lý, bảng minh họa chưa bao giờ được thiết kế như một cam kết lợi nhuận, mà chỉ là một công cụ giúp khách hàng hình dung các kịch bản tài chính có thể xảy ra trong tương lai.
Lãi suất "dịu nhiệt" nhưng không nhiều dư địa

Lãi suất "dịu nhiệt" nhưng không nhiều dư địa

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động bắt đầu “dịu nhiệt” khi nhiều ngân hàng đồng loạt điều chỉnh giảm từ 2 - 50 điểm cơ bản ở các kỳ hạn, riêng nhóm “Big 4” chủ yếu hạ lãi suất ở kỳ hạn 24 tháng, qua đó, phát tín hiệu hỗ trợ nền kinh tế. Tuy nhiên, xu hướng giảm vẫn chịu áp lực đa chiều, đa biến số, khiến việc điều hành lãi suất trở nên phức tạp hơn.
Giá vàng ngày 20/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm về vùng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng

Giá vàng ngày 20/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm về vùng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 20/4 đảo chiều giảm từ 200.000 đồng - 700.000 đồng, đưa giá giao dịch về ngưỡng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/4): USD nhích nhẹ, DXY mạnh lên giữa căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tuần thứ 8

Tỷ giá USD hôm nay (20/4): USD nhích nhẹ, DXY mạnh lên giữa căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tuần thứ 8

(TBTCO) - Sáng ngày 20/4, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần 25.103 đồng, tăng 1 đồng so với trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do nhích lên quanh 26.610 - 26.660 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,2% phản ánh USD mạnh lên so với các đồng tiền chủ chốt. Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh giá dầu bật tăng mạnh khi căng thẳng Mỹ - Iran leo thang, xung đột khu vực kéo dài sang tuần thứ 8 và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt rõ ràng.
Bài 2: Tiền mặt có quay trở lại?

Bài 2: Tiền mặt có quay trở lại?

(TBTCO) - Từ kết quả thống kê của cơ quan thuế cho thấy, đa phần hộ kinh doanh đã và đang dần thích nghi với quy định mới. Tuy nhiên, thời gian gần đây, xuất hiện một hiện tượng đáng chú ý đó là ở một số lĩnh vực, người bán có xu hướng ưu tiên nhận tiền mặt, thậm chí từ chối hoặc hạn chế nhận thanh toán bằng chuyển khoản. Vậy “tiền mặt có quay trở lại”, theo chuyên gia, câu trả lời là cần nhìn sâu vào dữ liệu và cấu trúc của dòng tiền trong nền kinh tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,810 ▼20K 17,060 ▼70K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼20K 17,060 ▼70K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,760 ▼70K 17,060 ▼70K
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,450 ▼50K 16,850 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,400 ▼50K 16,800 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,330 ▼50K 16,780 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,400 ▼600K 170,400 ▼600K
Hà Nội - PNJ 167,400 ▼600K 170,400 ▼600K
Đà Nẵng - PNJ 167,400 ▼600K 170,400 ▼600K
Miền Tây - PNJ 167,400 ▼600K 170,400 ▼600K
Tây Nguyên - PNJ 167,400 ▼600K 170,400 ▼600K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,400 ▼600K 170,400 ▼600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,810 ▼20K 17,060 ▼70K
Miếng SJC Nghệ An 16,810 ▼20K 17,060 ▼70K
Miếng SJC Thái Bình 16,810 ▼20K 17,060 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,760 ▼40K 17,060 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,760 ▼40K 17,060 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,760 ▼40K 17,060 ▼40K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,250 ▼40K 16,950 ▼40K
Trang sức 99.99 16,260 ▼40K 16,960 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 ▼2K 1,706 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,681 ▼2K 17,062 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,681 ▼2K 17,063 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,679 ▲1K 1,704 ▼4K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,679 ▲1K 1,705 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,659 ▲1K 1,689 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,728 ▼396K 167,228 ▼396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,938 ▼300K 126,838 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,113 ▼273K 115,013 ▼273K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,289 ▼244K 103,189 ▼244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,729 ▼233K 98,629 ▼233K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,688 ▼167K 70,588 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 ▼2K 1,706 ▼7K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 ▼2K 1,706 ▼7K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 ▼2K 1,706 ▼7K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 ▼2K 1,706 ▼7K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 ▼2K 1,706 ▼7K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 ▼2K 1,706 ▼7K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 ▼2K 1,706 ▼7K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 ▼2K 1,706 ▼7K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 ▼2K 1,706 ▼7K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 ▼2K 1,706 ▼7K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 ▼2K 1,706 ▼7K
Cập nhật: 21/04/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18327 18603 19176
CAD 18758 19036 19653
CHF 33143 33529 34170
CNY 0 3800 3870
EUR 30364 30638 31666
GBP 34794 35187 36113
HKD 0 3231 3433
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15260 15847
SGD 20166 20449 20974
THB 736 800 853
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26149 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,588 30,612 31,889
JPY 161.6 161.89 170.66
GBP 35,072 35,167 36,173
AUD 18,597 18,664 19,258
CAD 18,991 19,052 19,641
CHF 33,493 33,597 34,389
SGD 20,353 20,416 21,102
CNY - 3,799 3,922
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.54 17.25 18.66
THB 786.14 795.85 847.17
NZD 15,273 15,415 15,782
SEK - 2,843 2,927
DKK - 4,093 4,213
NOK - 2,784 2,867
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,247.98 - 7,011.08
TWD 758.38 - 913.43
SAR - 6,920.4 7,246.96
KWD - 83,890 88,743
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,456 30,578 31,762
GBP 34,979 35,119 36,129
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,220 33,353 34,301
JPY 161.75 162.40 169.72
AUD 18,536 18,610 19,205
SGD 20,368 20,450 21,036
THB 802 805 840
CAD 18,944 19,020 19,598
NZD 15,320 15,855
KRW 17.14 18.84
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26357
AUD 18507 18607 19532
CAD 18936 19036 20050
CHF 33389 33419 35002
CNY 3802.7 3827.7 3962.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30545 30575 32300
GBP 35099 35149 36902
HKD 0 3355 0
JPY 162.19 162.69 173.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15353 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20329 20459 21190
THB 0 765.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16870000 16870000 17120000
SBJ 15000000 15000000 17120000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,357
USD20 26,155 26,205 26,357
USD1 26,155 26,205 26,357
AUD 18,591 18,691 19,800
EUR 30,719 30,719 32,130
CAD 18,893 18,993 20,301
SGD 20,417 20,567 21,400
JPY 162.62 164.12 168.67
GBP 35,007 35,357 36,530
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,712 0
THB 0 802 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/04/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80