Lợi nhuận PGBank bứt tốc 80%, tăng vốn điều lệ mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Trong quý IV/2025, PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế kỷ lục 271,6 tỷ đồng, qua đó đưa lũy kế cả năm lên 768,3 tỷ đồng, tăng 80,6%. Động lực tăng trưởng đến từ sự cải thiện rõ nét của thu nhập ngoài lãi, nâng tỷ trọng lên 21,8%. Dư nợ tín dụng đạt 47.165 tỷ đồng, tăng khoảng 13,6%. Ngân hàng cũng tăng vốn điều lệ lên 5.500 tỷ đồng, củng cố nền tảng tài chính.
aa
Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc sau kiện toàn, kỳ vọng lợi nhuận và vốn điều lệ tăng vọt Lợi nhuận trước thuế PGBank đạt gần 500 tỷ đồng, tăng tốc hoàn thành kế hoạch năm PGBank hoàn tất tăng vốn lên 5.500 tỷ đồng, chuẩn bị cho đợt tăng mạnh nhất

Ngân hàng TMCP Thịnh Vượng và Phát Triển (PGBank - mã Ck: PGB) vừa công bố Báo cáo tài chính quý IV/2025 và cả năm 2025.

Báo cáo tài chính do PGBank công bố cho thấy, trong quý IV/2025, PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 271,6 tỷ đồng, bật tăng mạnh 255,5% so với mức 76,4 tỷ đồng cùng kỳ 2024. Cụ thể, thu nhập lãi thuần quý IV/2025 đạt kỷ lục 575,1 tỷ đồng, tăng 147 tỷ đồng so với quý IV/2024, tương ứng mức tăng 34,4%, phản ánh tín dụng mở rộng và hiệu quả sinh lời cải thiện; động lực quyết định nằm ở các mảng ngoài lãi.

Nhờ đó, tổng thu nhập hoạt động quý IV/2025 đạt 840 tỷ đồng, tăng 52,4% so với cùng kỳ, trong khi chi phí hoạt động chỉ tăng 7,5%, lên 355,4 tỷ đồng. Kết quả là lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng đạt 484,7 tỷ đồng, tăng gần 120%.

Trong quý IV/năm 2025, PGBank duy trì hoạt động kinh doanh ổn định và hiệu quả, đóng góp tích cực vào kết quả chung của cả năm, với lợi nhuận trước thuế cao kỷ lục trong lịch sử hoạt động, đạt 271,6 tỷ đồng, góp phần đưa lợi nhuận trước thuế lũy kế năm 2025 lên 768,3 tỷ đồng, tăng 80,6% so với 2024.

Tính chung cả năm 2025, PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 768,3 tỷ đồng, tăng 80,6% so cùng kỳ năm 2024.

Trong đó, thu nhập lãi thuần đạt 1.971,2 tỷ đồng, tăng 18,8%, tiếp tục đóng vai trò nền tảng, song tỷ trọng giảm còn 78,2% so với mức trên 90% cùng kỳ.

Động lực tăng trưởng nổi bật đến từ thu nhập ngoài lãi khi tỷ trọng tăng mạnh 13% lên 21,8% tổng thu nhập hoạt động.

Cụ thể, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 132,7 tỷ đồng, tăng mạnh từ 17,9 tỷ đồng; lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối đạt 93,4 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ chỉ 0,3 tỷ đồng; lãi thuần từ hoạt động khác đạt 277,6 tỷ đồng, tăng 32,9%. Nhờ đó, tổng thu nhập hoạt động cả năm đạt 2.519,5 tỷ đồng, tăng 38,6%, cao hơn đáng kể so với mức tăng 15,7% của chi phí hoạt động (1.127 tỷ đồng).

Ở chiều ngược lại, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng lên 643,4 tỷ đồng, cao hơn 164,8 tỷ đồng so với năm 2024, cho thấy ngân hàng chủ động tăng bộ đệm an toàn.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Về quy mô hoạt động, tính đến ngày 31/12/2025, tổng tài sản của PGBank đạt 88.882 tỷ đồng, tăng khoảng 21,7% so với cuối năm 2024. Cùng với sự mở rộng quy mô tài sản, ngân hàng tiếp tục duy trì tăng trưởng tín dụng có chọn lọc, với dư nợ tín dụng đạt 47.165 tỷ đồng, tăng khoảng 13,6% phù hợp với định hướng ưu tiên chất lượng và an toàn.

Danh mục cho vay của ngân hàng tập trung chủ yếu vào một số ngành có quy mô dư nợ lớn, trong đó hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm đứng đầu với dư nợ 7.452,7 tỷ đồng, chiếm 16,1% tổng dư nợ. Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ khác cũng chiếm tỷ trọng đáng kể với 6.407,5 tỷ đồng (13,8%),

Cùng với đó, tiền gửi khách hàng đạt 48.460 tỷ đồng, tăng khoảng 11,9%, phản ánh sự cải thiện về huy động vốn và niềm tin của khách hàng đối với hoạt động của PGBank.

"Tỷ lệ cho vay khách hàng/huy động khách hàng thị trường 1 là 94,8% và tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn là 21,28%, trong khi tỷ lệ bình quân chung của toàn ngành lần lượt là 109,68% và 28,32%, phản ánh định hướng quản lý thanh khoản chặt chẽ của PGBank" - đại diện PGBank thông tin.

Bên cạnh kết quả kinh doanh, vốn điều lệ của PGBank được nâng lên 5.500 tỷ đồng, đưa vốn chủ sở hữu đạt 6.579 tỷ đồng, góp phần củng cố năng lực tài chính và tăng cường bộ đệm an toàn cho hoạt động ngân hàng.

Với những kết quả đạt được trong quý IV/2025, PGBank khẳng định tiếp tục theo đuổi chiến lược tăng trưởng an toàn, hiệu quả, bền vững; tập trung củng cố nền tảng tài chính, nâng cao chất lượng hoạt động và sẵn sàng cho giai đoạn phát triển tiếp theo./.

Năm 2025, theo kế hoạch được Đại hội đồng cổ đông thông qua, PGBank phấn đấu tổng tài sản đạt 91.226 tỷ đồng tăng 24,9%, tương đương tăng 18.211 tỷ đồng so với cuối năm 2024; tổng dư nợ tín dụng đạt 48.653 tỷ đồng tăng 17,1% so với năm 2024; tổng huy động đạt 78.449 tỷ đồng tăng 17,6% so với năm 2024. Nợ xấu trên tổng dư nợ dự kiến được kiểm soát dưới 2%. Ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 1.001 tỷ đồng, tăng 135,3% so với 2024./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm khép lại tuần ở 25.596 đồng/USD, giảm 9 đồng và là tuần giảm thứ hai liên tiếp; USD ngân hàng cũng đồng loạt đi xuống, trong khi DXY giữ mốc 99 điểm. Tại Mỹ, lạm phát cơ bản tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm nóng kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17981 18255 18828
CAD 18151 18427 19044
CHF 31123 31501 32151
CNY 0 3832 3928
EUR 29362 29583 30662
GBP 34254 34645 35580
HKD 0 3184 3386
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14643 15231
SGD 19906 20188 20755
THB 697 760 814
USD (1,2) 25737 0 0
USD (5,10,20) 25776 0 0
USD (50,100) 25804 25818 26184
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,400 29,424 30,820
JPY 163.47 163.76 173.66
GBP 34,425 34,518 35,712
AUD 18,169 18,235 18,924
CAD 18,332 18,391 19,072
CHF 31,376 31,474 32,405
SGD 20,019 20,081 20,868
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.7 18.46 20.09
THB 745.51 754.72 808.1
NZD 14,628 14,764 15,205
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,943 4,083
NOK - 2,735 2,833
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,954.87 - 6,721.37
TWD 738.48 - 894.7
SAR - 6,804 7,167.1
KWD - 82,423 87,705
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,795 25,825 26,205
EUR 29,462 29,580 30,778
GBP 34,466 34,604 35,634
HKD 3,249 3,262 3,378
CHF 31,259 31,385 32,319
JPY 164.07 164.73 172.71
AUD 18,197 18,270 18,864
SGD 20,103 20,184 20,777
THB 763 766 802
CAD 18,362 18,436 19,026
NZD 14,729 15,268
KRW 18.37 20.31
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18193 18293 19218
CAD 18340 18440 19460
CHF 31373 31403 32993
CNY 3813.4 3838.4 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29549 29579 31301
GBP 34556 34606 36377
HKD 0 3305 0
JPY 164.5 165 175.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14781 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20067 20197 20918
THB 0 726.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 15/09/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30