Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc sau kiện toàn, kỳ vọng lợi nhuận và vốn điều lệ tăng vọt

(TBTCO) - Sau khi kiện toàn đội ngũ lãnh đạo cấp cao, PGBank bước vào năm 2025 với những mục tiêu tăng trưởng ấn tượng và dẫn đầu ngành như: lợi nhuận trước thuế đạt 1.001 tỷ đồng, tăng 135,3%; vốn điều lệ nâng lên 10.000 tỷ đồng, tăng 138%. Với chiến lược tối ưu hóa tài sản sinh lời và kiểm soát rủi ro, PGBank tự tin đạt các mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng.
aa
Ghế nóng ngân hàng PGBank sắp đổi chủ, lộ diện những cái tên đáng chú ý Thu nhập hoạt động quý I/2025 tiến sát đỉnh, vì sao lãi PGBank tạm chững? Một ngân hàng "bé hạt tiêu" đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 70%

Ngày 24/4, Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank - Mã ck: PGB) tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025. Toàn bộ các tờ trình và kế hoạch chiến lược của Hội đồng Quản trị được các cổ đông thông qua với đa số phiếu tán thành.

Lên kế hoạch tăng tốc, nâng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ

Năm 2025, PGBank phấn đấu tổng tài sản đạt 91.226 tỷ đồng tăng 24,9%, tương đương tăng 18.211 tỷ đồng so với cuối năm 2024; tổng dư nợ tín dụng đạt 48.653 tỷ đồng tăng 17,1% so với năm 2024; tổng huy động đạt 78.449 tỷ đồng tăng 17,6% so với năm 2024. Nợ xấu trên tổng dư nợ dự kiến được kiểm soát dưới 2% theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước đưa ra.

Mục tiêu lãi trước thuế vượt 1.000 tỷ đồng

Về kế hoạch kinh doanh 2025, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 1.001 tỷ đồng, tăng 135,3% so với 2024 và vượt xa mục tiêu lợi nhuận trước thuế 716 tỷ đồng mà Hội đồng Quản trị PGBank đã tạm giao tại nghị quyết trước đó.

Để đạt được những mục tiêu này, PGBank đặt ra 04 nhiệm vụ trọng tâm, đó là tiếp tục tinh gọn hiệu quả bộ máy tổ chức để nâng cao năng suất lao động; chuyển đổi số mạnh mẽ để gia tăng trải nghiệm khách hàng; cải tiến quy trình vận hành, tối ưu hóa hiệu suất toàn hệ thống; quản trị rủi ro và kiểm soát tốt tỷ lệ nợ xấu.

Đồng thời, ngân hàng chú trọng kiểm soát chi phí hiệu quả, giảm tỷ lệ chi phí trên thu nhập hoạt động.

Trước đó, tại báo cáo tài chính quý I/2025 mới công bố, PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 95,9 tỷ đồng, giảm 17,3% cùng kỳ. Giải trình về kết quả này, lãnh đạo PGBank cho biết, nguyên nhân chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng so với cùng kỳ năm 2024, mặc dù kết quả kinh doanh từ các hoạt động của ngân hàng tăng trưởng tích cực.

Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc sau kiện toàn, kỳ vọng lợi nhuận và vốn điều lệ tăng vọt
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Đáng chú ý, PGBank đặt mục tiêu tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng trong năm 2025. Trước mắt, ngân hàng sẽ hoàn tất phương án tăng vốn thêm 800 tỷ đồng thông qua chào bán cổ phiếu ra công chúng cho cổ đông hiện hữu. Cùng với đó, PGBank trình cổ đông thông qua phương án tăng vốn điều lệ thêm từ 5.000 tỷ đồng qua hai hình thức. Một là, trả cổ tức với tỷ lệ 10%, tương ứng phát hành thêm 50 triệu cổ phiếu. Hai là, chào bán ra công chúng theo tỷ lệ 9:11 với giá bán 10.000 đồng/cổ phiếu, tương ứng phát hành thêm 450 triệu cổ phiếu.

Tại tờ trình phương án tăng vốn điều lệ, lãnh đạo PGBank nhận định, với sự phát triển của thị trường chứng khoán như hiện nay và uy tín của PGBank, việc tăng vốn điều lệ thêm 4.500 tỷ đồng thông qua chào bán cổ phiếu ra công chúng với giá chào bán thấp hơn giá thị trường là hoàn toàn khả thi.

Kiện toàn đội ngũ, vươn tới các chỉ tiêu tăng trưởng mới

Tại đại hội, nhiều cổ đông quan tâm đến các vấn đề chiến lược của PGBank như: tác động từ chính sách thuế quan mới của Mỹ, lộ trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng, tác động của việc xem xét bỏ room tín dụng. Cổ đông cũng đặt câu hỏi về tính khả thi trong mục tiêu lợi nhuận trước thuế 1.001 tỷ đồng, bởi kết quả quý I đạt gần 96 tỷ đồng.

Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc sau kiện toàn, kỳ vọng lợi nhuận và vốn điều lệ tăng vọt
Toàn cảnh Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 của PGBank. Ảnh: PGBank.

Chủ động kiểm soát rủi ro, tự tin mục tiêu lợi nhuận

"Lợi nhuận quý I giảm bởi chúng tôi chủ động rà soát các khoản nợ, khoản phải thu, trích lập dự phòng theo đúng quy định và tối ưu hoá tài sản sinh lời. Trong hoạt động kinh doanh, quan trọng nhất đến từ doanh thu và kiểm soát các hoạt động, chất lượng nợ. Vì vậy, dù quý I chỉ đạt 96 tỷ đồng lợi nhuận, nhưng chúng tôi hoàn toàn tự tin nhờ tăng trưởng về quy mô, các nguồn thu cũng như kiểm soát chi phí, chất lượng nợ, PGBank sẽ hoàn thành mục tiêu lợi nhuận trước thuế 1.001 tỷ đồng năm 2025" - ông Nguyễn Văn Hương - Tổng Giám đốc PGBank khẳng định.

Tính chung 5 năm qua 2020 - 2024, PGBank tăng trưởng ấn tượng ở hầu hết các chỉ tiêu tài chính quan trọng. Theo đó, tổng tài sản tăng gấp đôi, từ 36.153 tỷ đồng năm 2020 lên 73.015 tỷ đồng. Dư nợ cho vay khách hàng tăng gần 62%, từ 25.675 tỷ lên 41.533 tỷ đồng.

Cùng với đó, vốn chủ sở hữu đạt 5.166 tỷ đồng, tăng 32% so với năm 2020. Lợi nhuận trước thuế năm 2024 đạt 425 tỷ đồng, gấp đôi so với năm 2020. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ổn định dưới 3%, trong khi hệ số an toàn vốn (CAR) duy trì ở mức cao, từ 10 - 12%, vượt yêu cầu.

Không chỉ chú trọng vào các chỉ tiêu tài chính, PGBank còn triển khai loạt chiến lược mang tính nền tảng và dài hạn nhằm tái định vị thương hiệu và củng cố nội lực, đặc biệt là tăng vốn điều lệ. Cùng với đó, PGBank ra mắt diện mạo thương hiệu mới năm 2024; đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa hệ thống ngân hàng lõi, phát triển ngân hàng số toàn diện.

Đại hội cũng thông qua cơ cấu thành viên Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát nhiệm kỳ 2025 - 2030. Theo đó, bà Cao Thị Thúy Nga - Thành viên độc lập Hội đồng Quản trị PGBank nhiệm kỳ 2020 - 2025 sẽ trở thành tân Chủ tịch Hội đồng Quản trị PGBank nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Bà Nga có hơn 40 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng và từng giữ nhiều vị trí quan trọng tại BIDV và là một trong những cán bộ cao cấp được BIDV cử sang đặt nền móng ngân hàng liên doanh VID Public Bank (nay là Public Bank). Năm 2005, bà gia nhập MB giữ vai trò Phó Tổng Giám đốc, từng giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quản trị MBS và trở thành Thành viên độc lập Hội đồng Quản trị PGBank từ tháng 8/2024.

Còn ông Trần Ngọc Dũng tiếp tục được bầu là Trưởng Ban kiểm soát PGBank. PGBank sẽ bổ sung thêm Thành viên Hội đồng Quản trị và Ban kiểm soát theo quy định Luật Các tổ chức tín dụng 2024 vào kỳ họp Đại hội đồng cổ đông bất thường trong thời gian quy định.

Tầm nhìn năm 2030

Giai đoạn 2025 - 2030, Hội đồng Quản trị đặt mục tiêu đưa PGBank vào top 15 ngân hàng thương mại cổ phần có thu nhập hoạt động (TOI) tăng trưởng cao nhất. Đến năm 2030, ngân hàng đặt kế hoạch nâng vốn điều lệ lên tối thiểu 20.000 tỷ đồng, duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu thường niên từ 25 - 30%.

Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động cũng được kiểm soát chặt chẽ, với tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) duy trì dưới 40%, tỷ lệ nợ xấu dưới 2%. PGBank đồng thời tích cực tìm kiếm cổ đông chiến lược trong và ngoài nước, cam kết tuân thủ nghiêm các giới hạn và tỷ lệ an toàn theo quy định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 145,500
Hà Nội - PNJ 142,400 145,500
Đà Nẵng - PNJ 142,400 145,500
Miền Tây - PNJ 142,400 145,500
Tây Nguyên - PNJ 142,400 145,500
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 145,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,260 14,560
Miếng SJC Nghệ An 14,260 14,560
Miếng SJC Thái Bình 14,260 14,560
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,260 14,610
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,920 14,520
Trang sức 99.99 13,930 14,530
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,426 14,562
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,426 14,563
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 1,451
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,396 1,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,673 142,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,436 108,236
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,348 98,148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,826 8,806
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,369 84,169
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,446 60,246
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cập nhật: 15/09/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17986 18260 18837
CAD 18163 18439 19061
CHF 31136 31514 32158
CNY 0 3830 3927
EUR 29352 29573 30653
GBP 34232 34623 35564
HKD 0 3182 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14687 15275
SGD 19900 20182 20762
THB 697 760 813
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,431 29,455 30,851
JPY 163.75 164.05 173.96
GBP 34,432 34,525 35,719
AUD 18,208 18,274 18,967
CAD 18,377 18,436 19,114
CHF 31,346 31,443 32,373
SGD 20,034 20,096 20,893
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,694 14,830 15,273
SEK - 2,621 2,713
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,749 2,846
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,956.94 - 6,723.75
TWD 738.75 - 894.47
SAR - 6,801 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,454 29,572 30,769
GBP 34,423 34,561 35,590
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,182 31,307 32,240
JPY 164.26 164.92 172.88
AUD 18,202 18,275 18,869
SGD 20,099 20,180 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,377 18,451 19,043
NZD 14,773 15,313
KRW 18.44 20.41
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25802 25802 26162
AUD 18165 18265 19187
CAD 18350 18450 19464
CHF 31398 31428 33010
CNY 3812.8 3837.8 3973
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29541 29571 31294
GBP 34545 34595 36352
HKD 0 3305 0
JPY 164.62 165.12 175.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14794 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20062 20192 20923
THB 0 725.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Cập nhật: 15/09/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30