Thu nhập hoạt động quý I/2025 tiến sát đỉnh, vì sao lãi PGBank tạm chững?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong quý I/2025, PGBank ghi nhận kết quả kinh doanh khởi sắc, nhờ cả nguồn thu từ hoạt động tín dụng và thu nhập ngoài lãi chuyển biến tích cực, đảo chiều so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế lại sụt giảm, đạt 95,9 tỷ đồng do chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh.
aa
PGBank chào bán cổ phiếu với giá 10.000 đồng, nâng vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng Ghế nóng ngân hàng PGBank sắp đổi chủ, lộ diện những cái tên đáng chú ý Một ngân hàng "bé hạt tiêu" đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 70%

Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank - Mã ck: PGB) vừa công bố báo cáo tài chính quý I/2025.

Theo đó, tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng tăng trưởng tích cực 34,4%, đạt 505,7 tỷ đồng và chỉ xếp sau mức cao kỷ lục trong quý trước đó (565,5 tỷ đồng). Mức tăng này vượt trội so với mức tăng 20,7% của chi phí hoạt động, nhờ đó, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh đạt 242,5 tỷ đồng, tăng mạnh 53,4% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế của PGBank lại sụt giảm do chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng đột biến, gấp 3,5 lần, từ 42 tỷ đồng lên 147 tỷ đồng.

PGBank giảm lãi dù hoạt động kinh doanh khởi sắc

Trong quý I/2025, PGBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 95,9 tỷ đồng, giảm 17,3% so với cùng kỳ năm 2024 và hoàn thành 13,4% kế hoạch tạm giao năm nay. Giải trình về kết quả này, lãnh đạo PGBank cho biết, nguyên nhân chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng so với cùng kỳ năm 2024 mặc dù kết quả kinh doanh từ các hoạt động của ngân hàng tăng trưởng tốt so với cùng kỳ năm trước.

Về cơ cấu thu nhập hoạt động, thu nhập lãi thuần của PGBank tăng 21,4% cùng kỳ, tương ứng tăng 80,7 tỷ đồng, đạt 458,3 tỷ đồng, cao nhất trong nhiều năm qua, nhờ ngân hàng đẩy mạnh tăng trưởng khách hàng và đa dạng hóa nguồn thu. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn, chiếm đến 90,6% tổng thu nhập của ngân hàng.

Bên cạnh đó, thu nhập ngoài lãi trong quý cũng ghi nhận chuyển biến tích cực, đạt 47,4 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước ghi nhận lỗ 1,3 tỷ đồng.

Trong đó, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ báo lãi 13,5 tỷ đồng, trái chiều với số lỗ 8,9 tỷ đồng cùng kỳ. Mảng chứng khoán đầu tư ghi nhận lãi 2,6 tỷ đồng, thay vì lỗ như quý I/2024. Mảng ngoại hối đem về 13 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ chỉ đạt 26 triệu đồng. Ngoài ra, hoạt động kinh doanh khác ghi nhận lãi 17,8 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần cùng kỳ.

Thu nhập hoạt động quý I/2025 tiến sát đỉnh, vì sao lãi PGBank tạm chững?
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp.

Tính đến hết quý I/2025, tổng tài sản của PGBank đạt 73.552 tỷ đồng, gần như không thay đổi so với đầu năm. Dư nợ cho vay khách hàng đạt 45.349 tỷ đồng, tăng 10%.

Về chất lượng tài sản, tổng dư nợ xấu (nhóm 3-5) tính đến cuối tháng 3 tăng 15,9% so với đầu năm, lên mức 1.229 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu tăng từ 2,57% lên 2,71%. Ngoài ra, tính đến cuối tháng 3/2025, PGBank còn 771 tỷ đồng trái phiếu đặc biệt VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam).

Ngày 24/4 tới đây, PGBank sẽ tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên tại Ninh Bình. Đại hội dự kiến thông qua bầu cử Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát nhiệm kỳ mới, kế hoạch kinh doanh 2025, phân phối lợi nhuận và phương án tăng vốn.

Trước đó, Hội đồng quản trị ngân hàng thông qua kế hoạch kinh doanh (tạm giao) năm 2025 với mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 716 tỷ đồng, tăng hơn 70% so với năm 2024. Ngân hàng kỳ vọng tổng tài sản sẽ tăng trưởng từ 15 - 20%.

PGBank đặt mục tiêu tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ tín dụng dưới 2%, hạn chế nợ xấu phát sinh, cải thiện chất lượng tài sản, đặc biệt là chất lượng tín dụng, phấn đấu hoàn thành mục tiêu xử lý nợ theo đúng kế hoạch và lộ trình tại Phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu tại PGBank giai đoạn 2021 - 2025.

Ngay đầu năm 2025, PGBank triển khai chào bán 80 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ thực hiện quyền là 21:4, tức mỗi cổ đông sở hữu 21 cổ phiếu sẽ được quyền mua thêm 4 cổ phiếu mới. Qua đợt phát hành này, ngân hàng dự kiến huy động được 800 tỷ đồng. Sau khi hoàn tất chào bán, vốn điều lệ của PGBank sẽ tăng từ 4.200 tỷ đồng lên 5.000 tỷ đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

(TBTCO) - Sáng 24/7, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng mạnh 11 đồng lên 25.283 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt đi lên. Chỉ số DXY tăng lên 101,44 điểm, tiến sát đỉnh một năm. Cùng lúc, Mỹ áp thuế nhập khẩu mới 10 - 12,5% với hơn 60 đối tác thương mại, trong đó có Việt Nam; còn Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) giữ nguyên lãi suất.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 75 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt lao dốc, nhiều thương hiệu điều chỉnh giảm tới 7 triệu đồng/lượng chỉ sau một phiên giao dịch.
Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

(TBTCO) - Các chuyên gia đánh giá, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng sẽ đi ngang hoặc tăng nhẹ trong nửa cuối năm. Dù thanh khoản được kỳ vọng cải thiện nhờ các chính sách hỗ trợ, rủi ro về nguồn vốn và thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn hiện hữu.
Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

(TBTCO) - Trong bối cảnh "độ chênh" khoảng 2 điểm phần trăm giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn duy trì, nhiều ngân hàng đẩy mạnh mở rộng các kênh huy động ngoài tiền gửi truyền thống. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất trên các kênh huy động đồng loạt neo ở mức cao, khiến chi phí vốn gia tăng và dư địa giảm thêm lãi suất không dễ dàng.
Mở rộng điều tra vụ buôn lậu kim cương liên quan SJC, khởi tố thêm 4 bị can

Mở rộng điều tra vụ buôn lậu kim cương liên quan SJC, khởi tố thêm 4 bị can

(TBTCO) - Mở rộng điều tra Chuyên án 268V, Công an tỉnh Thanh Hóa khởi tố thêm 4 bị can, thu giữ thêm 354 viên kim cương và tiếp tục làm rõ đường dây buôn lậu đưa kim cương vào hệ thống SJC để tiêu thụ.
Bảo hiểm PVI được vinh danh tại 4 hạng mục của InsuranceAsia News Country Awards for Excellence 2026

Bảo hiểm PVI được vinh danh tại 4 hạng mục của InsuranceAsia News Country Awards for Excellence 2026

(TBTCO) - InsuranceAsia News vừa công bố kết quả Country Awards for Excellence 2026 dành cho thị trường Việt Nam. Với 4 giải thưởng trải rộng trên các lĩnh vực kinh doanh, chuyển đổi số, quản trị bồi thường và điều hành doanh nghiệp, Bảo hiểm PVI tiếp tục cho thấy năng lực phát triển toàn diện và sự hiện diện ngày càng rõ nét trên bản đồ bảo hiểm khu vực.
Eximbank sắp bầu bổ sung dàn lãnh đạo mới tại Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank sắp bầu bổ sung dàn lãnh đạo mới tại Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Eximbank dự kiến trình Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 24/7 bầu 5 thành viên độc lập Hội đồng Quản trị và 1 thành viên Ban Kiểm soát. Danh sách ứng viên đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận, trong đó có ông Quocanh Nguyenle - nguyên Tổng Giám đốc Techcombank; ông Nguyễn Quốc Hùng - nguyên Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, cùng 4 chuyên gia quốc tế.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 135,000 140,000
Hà Nội - PNJ 135,000 140,000
Đà Nẵng - PNJ 135,000 140,000
Miền Tây - PNJ 135,000 140,000
Tây Nguyên - PNJ 135,000 140,000
Đông Nam Bộ - PNJ 135,000 140,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,500 14,000
Miếng SJC Nghệ An 13,500 14,000
Miếng SJC Thái Bình 13,500 14,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,500 14,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,500 14,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,500 14,000
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900
Trang sức 99.9 13,190 13,890
Trang sức 99.99 13,200 13,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 135 14,002
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 135 14,003
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 134 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 134 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 131 137
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,644 135,644
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,311 10,291
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,519 93,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,928 83,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,229 80,029
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,485 57,285
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 140
Cập nhật: 24/07/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17853 18127 18700
CAD 18168 18444 19060
CHF 31603 31983 32624
CNY 0 3844 3936
EUR 29355 29576 30651
GBP 34288 34679 35607
HKD 0 3225 3428
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14922 15509
SGD 19845 20127 20695
THB 695 758 812
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26498
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26500
AUD 18007 18107 19032
CAD 18347 18447 19460
CHF 31810 31840 33422
CNY 3824.4 3849.4 3984.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29507 29537 31262
GBP 34542 34592 36353
HKD 0 3355 0
JPY 157.18 157.68 168.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15006 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19988 20118 20841
THB 0 723.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13400000 13400000 13900000
SBJ 12500000 12500000 13900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,197 26,510
USD20 26,147 26,197 26,510
USD1 26,147 26,197 26,510
AUD 18,064 18,164 19,277
EUR 29,309 29,409 31,068
CAD 18,291 18,391 19,698
SGD 20,068 20,218 20,783
JPY 157.69 159.19 164.72
GBP 34,446 34,596 35,669
XAU 13,450,000 0 13,952,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 759 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/07/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80