PGBank chào bán cổ phiếu với giá 10.000 đồng, nâng vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - PGBank dự kiến phát hành thêm 80 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, với giá chào bán 10.000 đồng/cổ phiếu. Ngân hàng dự thu về 800 tỷ đồng từ đợt phát hành này và nâng vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng.
aa
Những ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024? "Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank - mã chứng khoán: PGB) vừa công bố nghị quyết hội đồng quản trị thông qua ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền mua cổ phiếu chào bán thêm cho cổ đông hiện hữu.

Hai năm liên tiếp tăng vốn điều lệ

Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký chào bán số 43/GCN-UBCK ngày 28/2/2025 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Hội đồng quản trị PGBank thông qua ngày đăng ký cuối cùng thực hiện quyền mua cổ phiếu chào bán thêm cho đổ đông hiện hữu là ngày 19/3/2025. Thời gian đăng ký đặt mua và nộp tiền mua cổ phiếu là từ 24/3 - 14/4/2025. Chứng khoán đặt mua là loại tự do chuyển nhượng.

PGBank chào bán cổ phiếu với giá 10.000 đồng, nâng vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng
PGBank chào bán cổ phiếu với giá 10.000 đồng, nâng vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng. Ảnh tư liệu.

Trong đợt phát hành này, PGBank dự kiến chào bán 80 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, với tỷ lệ thực hiện là 21:4. Theo đó, cổ đông sở hữu mỗi 01 cổ phiếu tại thời điểm chốt danh sách cổ đông sẽ được nhận 01 quyền mua cổ phiếu chào bán thêm, cứ 21 quyền mua sẽ được mua 04 cổ phiếu mới.

Dự kiến thu về 800 tỷ đồng

PGBank chào bán giá 10.000 đồng/cổ phiếu, thấp hơn thị giá giao dịch chốt phiên ngày 6/3 (15.500 đồng/cổ phiếu). Ngân hàng dự kiến thu về 800 tỷ đồng từ đợt phát hành trên. Sau khi hoàn tất đợt chào bán, PGBank sẽ nâng vốn điều lệ từ 4.200 tỷ đồng lên 5.000 tỷ đồng.

Trong thông báo mới phát đi, PGBank nêu rõ mục đích chào bán nhằm bổ sung nguồn vốn để mua sắm tài sản cố định, công cụ lao động; xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị nội thất điểm giao dịch, bảng biểu, kho tiền theo nhận diện thương hiệu của PGBank.

Đồng thời, đầu tư nâng cấp phần mềm, đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin và trang thiết bị tin học; dự án chuyển đổi ngân hàng; nâng cao năng lực tài chính, mở rộng quy mô, tăng nguồn vốn trung dài hạn để cho vay trung dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn dài hạn của khách hàng; mở rộng hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, cải thiện tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng; bổ sung nguồn vốn lưu động trong hoạt động của ngân hàng.

Trước đó, đầu năm 2024, PGBank lần đầu tăng vốn sau 10 năm giữ vị trí ngân hàng có vốn điều lệ thấp nhất hệ thống, với đợt phát hành thành công 120 triệu cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu, tăng vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng lên 4.200 tỷ đồng.

Lãi gấp 10 lần quý cuối năm, vẫn hụt kế hoạch

PGBank được thành lập năm 1993 dưới tên Ngân hàng TMCP Nông thôn Đồng Tháp Mười vi s vốn điều l ban đầu 700 triu đồng. Sau khi đi vào hoạt động 12 năm, đến năm 2005, Tổng Công ty Xăng dầu Vit Nam (PLX) tham gia góp vn vào ngân hàng, chính thc tr thành c đông chiến lược ln và đổi tên thành Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (PGBank).

PGBank chào bán cổ phiếu với giá 10.000 đồng, nâng vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng
Nguồn: Chứng khoán Vietcap.
Hiện PGBank vẫn là một ngân hàng quy mô nhỏ với tổng tài sản cuối năm 2024 chỉ 73 nghìn tỷ đồng, tăng 32% so với thời điểm đầu năm và vượt gần 10.000 tỷ đồng so với mục tiêu đề ra tại đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2024.

Sau hành trình truân chuyên tìm đối tác mới khi cổ đông sáng lập là Tập đoàn Petrolimex tiến hành thoái vốn vào năm 2023, Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex đổi tên thành Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển, đồng thời thay đổi nhận diện thương hiệu.

Trong quý IV/2024, cho vay khách hàng tăng 17%, lên trên 41 nghìn tỷ đồng. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh đạt gần 221 tỷ đồng, gấp 2,6 lần cùng kỳ. Ngân hàng trích hơn 144 tỷ đồng để dự phòng rủi ro tín dụng, tăng 58% cùng kỳ, PGBank vẫn lãi hơn 76 tỷ đồng trước thuế, gấp 10 lần cùng kỳ.

Lũy kế cả năm 2024, thu nhập lãi thuần của PGBank đạt 1.659 tỷ đồng, tăng gần 28%. PGBank lãi trước thuế gần 421 tỷ đồng, tăng 20% so với năm trước. Ngân hàng lên kế hoạch kinh doanh với lợi nhuận trước thuế là 554 tỷ đồng, như vậy, PGBank mới hoàn thành 76% kế hoạch kinh doanh đề ra.

V cht lưng tài sn, quy mô nợ xấu của PGBank tăng 5% so với đầu năm, lên mức 1.060 tỷ đồng. Đáng chú ý, cơ cấu nợ dịch chuyển sang nhóm có khả năng mất vốn khi chiếm đến 58% nợ xấu./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

InsuranceAsia News công bố kết quả Country Awards for Excellence - Vietnam 2026 và hệ sinh thái PVI đã có một kỳ vinh danh đáng nhớ

InsuranceAsia News công bố kết quả Country Awards for Excellence - Vietnam 2026 và hệ sinh thái PVI đã có một kỳ vinh danh đáng nhớ

(TBTCO) - InsuranceAsia News đã công bố kết quả Country Awards for Excellence - Vietnam 2026 vào ngày 20/7/2026 và hệ sinh thái PVI đã có một kỳ vinh danh đáng nhớ khi giành 5 trong tổng số 10 hạng mục giải thưởng, tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu trên thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam.
Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

(TBTCO) - Sáng 22/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên ở mức 25.260 đồng, song tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục nhích tăng. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,2% lên 101,19 điểm khi nhu cầu nắm giữ đồng bạc xanh gia tăng trước căng thẳng địa chính trị.
Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
Hơn 640 triệu cổ phiếu BVB chính thức giao dịch trên HOSE

Hơn 640 triệu cổ phiếu BVB chính thức giao dịch trên HOSE

(TBTCO) - Hơn 640 triệu cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVB) chính thức được đưa vào giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) từ ngày 21/7, với giá tham chiếu 13.100 đồng/cổ phiếu.
Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm từ hơn 12.000 xuống còn 695, song quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn vẫn còn nhiều "điểm nghẽn". Nhiều ý kiến cho rằng mục tiêu không phải chỉ sắp xếp, "dọn dẹp" hay bán vốn, mà là nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và vai trò dẫn dắt tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,200 ▼140K 14,600 ▼40K
Miếng SJC Nghệ An 14,200 ▼140K 14,600 ▼40K
Miếng SJC Thái Bình 14,200 ▼140K 14,600 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,600
NL 99.99 13,200 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲200K
Trang sức 99.9 13,790 14,490
Trang sức 99.99 13,800 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 142 ▼1292K 14,602 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 142 ▼1292K 14,603 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 141 ▼1278K 145 ▼1309K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 141 ▼1278K 1,451 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 138 ▼1251K 143 ▼1291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 ▲121086K 141,584 ▲127386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 ▼300K 107,411 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 ▼86996K 974 ▼96698K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 ▼244K 87,389 ▼244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 ▼234K 83,527 ▼234K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 ▼167K 59,787 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Cập nhật: 22/07/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17884 18158 18733
CAD 18143 18419 19037
CHF 31771 32152 32786
CNY 0 3845 3938
EUR 29402 29623 30698
GBP 34401 34792 35723
HKD 0 3226 3428
JPY 154 158 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15005 15587
SGD 19853 20135 20703
THB 694 757 810
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,533 29,557 30,966
JPY 157.02 157.3 166.79
GBP 34,603 34,697 35,891
AUD 18,087 18,152 18,837
CAD 18,339 18,398 19,074
CHF 32,020 32,120 33,060
SGD 19,980 20,042 20,823
CNY - 3,813 3,958
HKD 3,291 3,301 3,438
KRW 16.41 17.11 18.61
THB 743.43 752.61 805.68
NZD 14,993 15,132 15,581
SEK - 2,665 2,759
DKK - 3,951 4,089
NOK - 2,689 2,783
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,017.74 - 6,792.73
TWD 734.82 - 889.54
SAR - 6,895.4 7,262.43
KWD - 83,233 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,464 29,582 30,774
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,845 31,973 32,898
JPY 157.29 157.92 165.78
AUD 18,108 18,181 18,779
SGD 20,029 20,109 20,699
THB 761 764 800
CAD 18,333 18,407 18,984
NZD 15,102 15,647
KRW 17.03 18.87
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26510
AUD 18066 18166 19089
CAD 18333 18433 19447
CHF 32015 32045 33627
CNY 3826.2 3851.2 3986.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29587 29617 31342
GBP 34723 34773 36531
HKD 0 3355 0
JPY 158.07 158.57 169.11
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15109 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20868
THB 0 723.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14200000 14200000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,163 26,213 26,523
USD20 26,163 26,213 26,523
USD1 26,163 26,213 26,523
AUD 18,123 18,223 19,327
EUR 29,399 29,499 31,155
CAD 18,272 18,372 19,679
SGD 20,097 20,247 20,806
JPY 158.44 159.94 165.47
GBP 34,631 34,781 35,845
XAU 14,338,000 0 14,702,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 760 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/07/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80