Những ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhóm các ngân hàng "bé hạt tiêu" với vốn điều lệ dưới 10.000 tỷ đồng và quy mô tổng tài sản nhỏ khoảng 70.000 - 100.000 tỷ đồng như: BVBank, PGBank, VietABank vừa công bố báo cáo tài chính quý IV/2024 và cả năm 2024.
aa

Theo báo cáo tài chính hợp nhất do Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank, mã chứng khoán: BVB) vừa công bố, lãi trước thuế năm 2024 của ngân hàng đạt 390,6 tỷ đồng, gấp 5,5 lần năm trước, vượt xa kế hoạch đề ra (200 tỷ đồng). Lãi sau thuế BVBank đạt 311,3 tỷ đồng, chỉ thấp hơn mức lãi kỷ lục được thiết lập năm 2022 (364 tỷ đồng); trong đó, tính riêng quý IV/2024, ngân hàng này lãi đột biến gấp 21 lần cùng kỳ.

Thu nhập ngoài lãi hẩm hiu, nhiều khoản lãi đột biến

Để tạo nên kết quả kinh doanh đầy bất ngờ này chủ yếu đến từ hoạt động kinh doanh cốt lõi là cho vay, với thu nhập lãi thuần từ tín dụng đóng góp 2.306 tỷ đồng, tăng 56% cùng kỳ. Trong khi đó, hầu hết các mảng trong hoạt động phi tín dụng đều sụt giảm, ngoại trừ hoạt động kinh doanh ngoại hối thu về gần 46 tỷ đồng, gấp đôi năm trước.

Cụ thể, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ giảm 31%, còn 38 tỷ đồng do chi phí tăng 31% không đủ bù đắp khoản gia tăng thu nhập. Cùng với đó, thu từ mua bán chứng khoán đầu tư giảm sâu 78% cùng kỳ; thu hoạt động dịch vụ khác cũng giảm 21%.

Tính chung tổng thu nhập hoạt động của BVBank cả năm 2024 đạt 2.477,6 tỷ đồng, tăng 41% cùng kỳ (1.755 tỷ đồng). BVBank vẫn trông chờ vào chủ yếu vào tín dụng do thu nhập lãi thuần chiếm áp đảo 93% thu nhập hoạt động, tỷ trọng này ở mức cao trong toàn ngành.

Đáng chú ý, tính riêng quý IV/2024, BVBank lãi đậm 166,7 tỷ đồng, gấp 21 lần cùng kỳ, cao hơn 7 lần quý liền kề. Theo đó, ngân hàng thu được gần 759 tỷ đồng thu nhập lãi thuần, tăng mạnh 77% so với cùng kỳ năm 2023, tương ứng tăng 330,8 tỷ đồng. Các mảng kinh doanh phi tín dụng đóng góp khiêm tốn chỉ 26,2 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,3% tổng thu nhập hoạt động.

Lý giải nguyên nhân lợi nhuận quý IV tăng cao so với quý trước đến từ việc tăng mạnh hoạt động cho vay, đóng góp gần 40% mức tăng cả năm, tốc độ thu nợ đẩy nhanh với mức thu gần 3 lần bình quân các quý trước, cải thiện mạnh thu lãi và giảm chi phí dự phòng.

Ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?
Những ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?

Với Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank - mã chứng khoán: PGB), theo báo cáo tài chính mới công bố, PGBank ghi nhận thu nhập lãi thuần năm 2024 đạt 1.659 tỷ đồng, tăng 27,5% cùng kỳ.

Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế theo ngân hàng công bố đạt lần lượt 421 tỷ đồng và 336,7 tỷ đồng, đều tăng 20% cùng kỳ song còn cách xa "vạch đích" (kế hoạch lợi nhuận trước thuế là 554 tỷ đồng). Nếu tính theo số liệu hậu soát xét bán niên, lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của PGBank chỉ đạt 364,5 tỷ đồng và 291,4 tỷ đồng, mức tăng trưởng chỉ còn khoảng 4%.

Tỷ trọng thu nhập lãi thuần của BVBank, PGBank và VietABank chiếm khoảng 87-90% tổng thu nhập hoạt động. Các ngân hàng quy mô nhỏ chật vật gia tăng tỷ trọng nguồn thu nhập phi tín dụng.

Thu nhập ngoài lãi của PGBank vốn đã chiếm trọng số nhỏ, năm 2024 lại kinh doanh hẩm hiu, sụt giảm mạnh từ hoạt động dịch vụ khi chỉ ghi nhận 18 tỷ đồng (giảm 48%); kinh doanh ngoại hối gần như không đáng kể do khoản lỗ 11,6 tỷ đồng quý III/2024 thổi bay lãi thuần cả năm, sụt giảm 98% cùng kỳ. Hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư lỗ đậm gần 55 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ chỉ lỗ 3,5 tỷ đồng.

Tuy nhiên, đáng chú ý, lãi thuần từ hoạt động khác lại tăng bất ngờ, gấp 5 lần cùng kỳ, ghi nhận mức lãi thuần 209 tỷ đồng. Tính riêng quý IV/2024, lãi thuần từ hoạt động khác tăng đột biến 15 lần cùng kỳ, đây cũng là một trong những nhân tố chính khiến quý cuối năm, ngân hàng này lãi gấp 13 lần cùng kỳ.

Với Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank - UPCoM: VAB), năm 2024 là năm kinh doanh không mấy sáng sủa khi tổng thu nhập hoạt động đạt 2.662 tỷ đồng, chỉ tăng 6%, đây là mức khá thấp so với toàn ngành. Trong đó, thu nhập lãi thuần đạt gần 2.328 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 87% thu nhập hoạt động và tăng 28,6% so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, chi phí hoạt động tăng 12%, cao hơn mức tăng thu nhập, lên 1.022 tỷ đồng. Dù thu nhập hoạt động không mấy cải thiện nhưng ngân hàng cắt giảm mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng gần 20%, do đó, kết quả lãi sau thuế vẫn tích cực, tăng 18% cùng kỳ, đạt 877 tỷ đồng.

Nợ nghi ngờ, rủi ro mất vốn tăng

Về quy mô tài sản, tính đến cuối năm 2024, tổng tài sản của BVBank đạt 103.536 tỷ đồng, tăng 18% so với cuối năm 2023. Hoạt động tín dụng ghi nhận kết quả tích cực với số dư nợ cho vay khách hàng hơn 68.063 tỷ đồng, tăng 17%. Trong đó, dư nợ của khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 75% tổng quy mô dư nợ.

Tổng quy mô huy động của BVBank ghi nhận 95.400 tỷ đồng, tăng 19% so với đầu năm. Trong đó, tiền gửi khách hàng đạt 67.389 tỷ đồng, tăng 18% với động lực chính đến từ các chương trình tập trung vào khách hàng nhỏ lẻ. Tổng số lượng khách hàng tăng gần 30% so với đầu năm, đạt 2,3 triệu khách hàng.

BVBank cho biết, năm 2024 cũng là năm đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động chuyển đổi số với 92% khách hàng mới đến từ kênh số, tăng 40% so với 2023. BVBank cũng là một trong những ngân hàng tiên phong triển khai giải pháp thanh toán xuyên biên giới.

Tổng nợ xấu tính đến 31/12/2024 của BVBank là 2.106 tỷ đồng, tăng 10% so với cuối năm 2023, tăng 35% so với năm 2022, đây cũng số nợ xấu ở mức đỉnh lịch sử của ngân hàng này. Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ vay cải thiện, giảm từ mức 3,31% xuống còn 3,09%. Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của ngân hàng 45,21%, cao hơn năm 2023 nhưng thấp nhất trong giai đoạn 10 năm trở lại đây và rất mỏng so với toàn ngành.

Ngoài ra, BVBank còn số dư trái phiếu VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng) tính đến cuối năm 2024 là 1.560 tỷ đồng. Đây là những khoản nợ khó đòi, được bán sang VAMC nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu nội bảng và xử lý nợ thông qua VAMC. Tuy nhiên, bán nợ cho VAMC không giúp các ngân hàng thoát khỏi gánh nặng nợ xấu, bởi các khoản nợ này vẫn có khả năng quay lại nếu sau 5 năm chưa được xử lý.

Ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?
Nguồn: TBTCVN tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng.

Với PGBank, tính đến ngày 31/12/2024, tổng tài sản của ngân hàng đạt 73.211 tỷ đồng, tăng 32% so với thời điểm đầu năm, vượt gần 10.000 tỷ đồng so với mục tiêu đề ra. Trong đó, cho vay khách hàng tăng mạnh từ 34.983 tỷ đồng lên 41.436,5 tỷ đồng, tương ứng tăng 18,4%. Tiền gửi khách hàng tăng lên 43.326 tỷ đồng, tăng 21,3%. PGBank 40,5%

Tổng nợ xấu tính đến 31/12/2024 của PGBank là 1.061 tỷ đồng, tăng 5,2% so với cuối năm 2023. Số dư trái phiếu VAMC tính đến cuối năm 2024 vẫn còn 771,2 tỷ đồng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu tính đến cuối quý IV/2024 của ngân hàng đạt 40,5%, cải thiện so với ba quý đầu năm.

Với VietABank, tổng tài sản của ngân hàng tăng 6,8% so với đầu năm lên 119.832 tỷ đồng. Trong đó, cho vay khách hàng tăng 15,7% so với hồi đầu năm lên gần 79.916 tỷ đồng. Tiền gửi khách hàng tăng 4% lên 90.289 tỷ đồng. Về chất lượng tài sản, tổng nợ xấu của ngân hàng tại thời điểm cuối năm 2024 là 1.046 tỷ đồng, giảm 5% so với mức 1.101 tỷ đồng đầu kỳ. Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay giảm từ 1,59% xuống 1,3%. Trong đó, nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4) của ngân hàng tăng gấp 23 lần, lên mức 513 tỷ đồng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu của VietABank ở mức tốt nhất trong các ngân hàng nêu trên, ở mức 72,5%./.

Bộ đệm rủi ro yếu so với toàn ngành

Trong ba ngân hàng có quy mô "bé hạt tiêu này", PGBank có tổng tài sản của ngân hàng tăng mạnh nhất 32% (lên 73.211 tỷ đồng), theo sau là BVBank tăng trưởng 18% (103.536 tỷ đồng), VietABank có mức tăng khiêm tốn hơn chỉ 6,8% (119.832 tỷ đồng). Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu của BVBank cao nhất 3,09% (2.106 tỷ đồng); tiếp đến là PGBank 2,56% (1.061 tỷ đồng); VietABank 1,31% (1.046 tỷ đồng). Tỷ lệ bao phủ nợ xấu của ngân hàng VietABank cao nhất trong các ngân hàng so sánh, ở mức 72,5%; tiếp đó là BVBank 45,21%, PGBank 40,5%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80