Những ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhóm các ngân hàng "bé hạt tiêu" với vốn điều lệ dưới 10.000 tỷ đồng và quy mô tổng tài sản nhỏ khoảng 70.000 - 100.000 tỷ đồng như: BVBank, PGBank, VietABank vừa công bố báo cáo tài chính quý IV/2024 và cả năm 2024.
aa

Theo báo cáo tài chính hợp nhất do Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank, mã chứng khoán: BVB) vừa công bố, lãi trước thuế năm 2024 của ngân hàng đạt 390,6 tỷ đồng, gấp 5,5 lần năm trước, vượt xa kế hoạch đề ra (200 tỷ đồng). Lãi sau thuế BVBank đạt 311,3 tỷ đồng, chỉ thấp hơn mức lãi kỷ lục được thiết lập năm 2022 (364 tỷ đồng); trong đó, tính riêng quý IV/2024, ngân hàng này lãi đột biến gấp 21 lần cùng kỳ.

Thu nhập ngoài lãi hẩm hiu, nhiều khoản lãi đột biến

Để tạo nên kết quả kinh doanh đầy bất ngờ này chủ yếu đến từ hoạt động kinh doanh cốt lõi là cho vay, với thu nhập lãi thuần từ tín dụng đóng góp 2.306 tỷ đồng, tăng 56% cùng kỳ. Trong khi đó, hầu hết các mảng trong hoạt động phi tín dụng đều sụt giảm, ngoại trừ hoạt động kinh doanh ngoại hối thu về gần 46 tỷ đồng, gấp đôi năm trước.

Cụ thể, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ giảm 31%, còn 38 tỷ đồng do chi phí tăng 31% không đủ bù đắp khoản gia tăng thu nhập. Cùng với đó, thu từ mua bán chứng khoán đầu tư giảm sâu 78% cùng kỳ; thu hoạt động dịch vụ khác cũng giảm 21%.

Tính chung tổng thu nhập hoạt động của BVBank cả năm 2024 đạt 2.477,6 tỷ đồng, tăng 41% cùng kỳ (1.755 tỷ đồng). BVBank vẫn trông chờ vào chủ yếu vào tín dụng do thu nhập lãi thuần chiếm áp đảo 93% thu nhập hoạt động, tỷ trọng này ở mức cao trong toàn ngành.

Đáng chú ý, tính riêng quý IV/2024, BVBank lãi đậm 166,7 tỷ đồng, gấp 21 lần cùng kỳ, cao hơn 7 lần quý liền kề. Theo đó, ngân hàng thu được gần 759 tỷ đồng thu nhập lãi thuần, tăng mạnh 77% so với cùng kỳ năm 2023, tương ứng tăng 330,8 tỷ đồng. Các mảng kinh doanh phi tín dụng đóng góp khiêm tốn chỉ 26,2 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,3% tổng thu nhập hoạt động.

Lý giải nguyên nhân lợi nhuận quý IV tăng cao so với quý trước đến từ việc tăng mạnh hoạt động cho vay, đóng góp gần 40% mức tăng cả năm, tốc độ thu nợ đẩy nhanh với mức thu gần 3 lần bình quân các quý trước, cải thiện mạnh thu lãi và giảm chi phí dự phòng.

Ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?
Những ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?

Với Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank - mã chứng khoán: PGB), theo báo cáo tài chính mới công bố, PGBank ghi nhận thu nhập lãi thuần năm 2024 đạt 1.659 tỷ đồng, tăng 27,5% cùng kỳ.

Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế theo ngân hàng công bố đạt lần lượt 421 tỷ đồng và 336,7 tỷ đồng, đều tăng 20% cùng kỳ song còn cách xa "vạch đích" (kế hoạch lợi nhuận trước thuế là 554 tỷ đồng). Nếu tính theo số liệu hậu soát xét bán niên, lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của PGBank chỉ đạt 364,5 tỷ đồng và 291,4 tỷ đồng, mức tăng trưởng chỉ còn khoảng 4%.

Tỷ trọng thu nhập lãi thuần của BVBank, PGBank và VietABank chiếm khoảng 87-90% tổng thu nhập hoạt động. Các ngân hàng quy mô nhỏ chật vật gia tăng tỷ trọng nguồn thu nhập phi tín dụng.

Thu nhập ngoài lãi của PGBank vốn đã chiếm trọng số nhỏ, năm 2024 lại kinh doanh hẩm hiu, sụt giảm mạnh từ hoạt động dịch vụ khi chỉ ghi nhận 18 tỷ đồng (giảm 48%); kinh doanh ngoại hối gần như không đáng kể do khoản lỗ 11,6 tỷ đồng quý III/2024 thổi bay lãi thuần cả năm, sụt giảm 98% cùng kỳ. Hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư lỗ đậm gần 55 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ chỉ lỗ 3,5 tỷ đồng.

Tuy nhiên, đáng chú ý, lãi thuần từ hoạt động khác lại tăng bất ngờ, gấp 5 lần cùng kỳ, ghi nhận mức lãi thuần 209 tỷ đồng. Tính riêng quý IV/2024, lãi thuần từ hoạt động khác tăng đột biến 15 lần cùng kỳ, đây cũng là một trong những nhân tố chính khiến quý cuối năm, ngân hàng này lãi gấp 13 lần cùng kỳ.

Với Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank - UPCoM: VAB), năm 2024 là năm kinh doanh không mấy sáng sủa khi tổng thu nhập hoạt động đạt 2.662 tỷ đồng, chỉ tăng 6%, đây là mức khá thấp so với toàn ngành. Trong đó, thu nhập lãi thuần đạt gần 2.328 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 87% thu nhập hoạt động và tăng 28,6% so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, chi phí hoạt động tăng 12%, cao hơn mức tăng thu nhập, lên 1.022 tỷ đồng. Dù thu nhập hoạt động không mấy cải thiện nhưng ngân hàng cắt giảm mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng gần 20%, do đó, kết quả lãi sau thuế vẫn tích cực, tăng 18% cùng kỳ, đạt 877 tỷ đồng.

Nợ nghi ngờ, rủi ro mất vốn tăng

Về quy mô tài sản, tính đến cuối năm 2024, tổng tài sản của BVBank đạt 103.536 tỷ đồng, tăng 18% so với cuối năm 2023. Hoạt động tín dụng ghi nhận kết quả tích cực với số dư nợ cho vay khách hàng hơn 68.063 tỷ đồng, tăng 17%. Trong đó, dư nợ của khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 75% tổng quy mô dư nợ.

Tổng quy mô huy động của BVBank ghi nhận 95.400 tỷ đồng, tăng 19% so với đầu năm. Trong đó, tiền gửi khách hàng đạt 67.389 tỷ đồng, tăng 18% với động lực chính đến từ các chương trình tập trung vào khách hàng nhỏ lẻ. Tổng số lượng khách hàng tăng gần 30% so với đầu năm, đạt 2,3 triệu khách hàng.

BVBank cho biết, năm 2024 cũng là năm đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động chuyển đổi số với 92% khách hàng mới đến từ kênh số, tăng 40% so với 2023. BVBank cũng là một trong những ngân hàng tiên phong triển khai giải pháp thanh toán xuyên biên giới.

Tổng nợ xấu tính đến 31/12/2024 của BVBank là 2.106 tỷ đồng, tăng 10% so với cuối năm 2023, tăng 35% so với năm 2022, đây cũng số nợ xấu ở mức đỉnh lịch sử của ngân hàng này. Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ vay cải thiện, giảm từ mức 3,31% xuống còn 3,09%. Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của ngân hàng 45,21%, cao hơn năm 2023 nhưng thấp nhất trong giai đoạn 10 năm trở lại đây và rất mỏng so với toàn ngành.

Ngoài ra, BVBank còn số dư trái phiếu VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng) tính đến cuối năm 2024 là 1.560 tỷ đồng. Đây là những khoản nợ khó đòi, được bán sang VAMC nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu nội bảng và xử lý nợ thông qua VAMC. Tuy nhiên, bán nợ cho VAMC không giúp các ngân hàng thoát khỏi gánh nặng nợ xấu, bởi các khoản nợ này vẫn có khả năng quay lại nếu sau 5 năm chưa được xử lý.

Ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?
Nguồn: TBTCVN tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng.

Với PGBank, tính đến ngày 31/12/2024, tổng tài sản của ngân hàng đạt 73.211 tỷ đồng, tăng 32% so với thời điểm đầu năm, vượt gần 10.000 tỷ đồng so với mục tiêu đề ra. Trong đó, cho vay khách hàng tăng mạnh từ 34.983 tỷ đồng lên 41.436,5 tỷ đồng, tương ứng tăng 18,4%. Tiền gửi khách hàng tăng lên 43.326 tỷ đồng, tăng 21,3%. PGBank 40,5%

Tổng nợ xấu tính đến 31/12/2024 của PGBank là 1.061 tỷ đồng, tăng 5,2% so với cuối năm 2023. Số dư trái phiếu VAMC tính đến cuối năm 2024 vẫn còn 771,2 tỷ đồng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu tính đến cuối quý IV/2024 của ngân hàng đạt 40,5%, cải thiện so với ba quý đầu năm.

Với VietABank, tổng tài sản của ngân hàng tăng 6,8% so với đầu năm lên 119.832 tỷ đồng. Trong đó, cho vay khách hàng tăng 15,7% so với hồi đầu năm lên gần 79.916 tỷ đồng. Tiền gửi khách hàng tăng 4% lên 90.289 tỷ đồng. Về chất lượng tài sản, tổng nợ xấu của ngân hàng tại thời điểm cuối năm 2024 là 1.046 tỷ đồng, giảm 5% so với mức 1.101 tỷ đồng đầu kỳ. Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay giảm từ 1,59% xuống 1,3%. Trong đó, nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4) của ngân hàng tăng gấp 23 lần, lên mức 513 tỷ đồng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu của VietABank ở mức tốt nhất trong các ngân hàng nêu trên, ở mức 72,5%./.

Bộ đệm rủi ro yếu so với toàn ngành

Trong ba ngân hàng có quy mô "bé hạt tiêu này", PGBank có tổng tài sản của ngân hàng tăng mạnh nhất 32% (lên 73.211 tỷ đồng), theo sau là BVBank tăng trưởng 18% (103.536 tỷ đồng), VietABank có mức tăng khiêm tốn hơn chỉ 6,8% (119.832 tỷ đồng). Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu của BVBank cao nhất 3,09% (2.106 tỷ đồng); tiếp đến là PGBank 2,56% (1.061 tỷ đồng); VietABank 1,31% (1.046 tỷ đồng). Tỷ lệ bao phủ nợ xấu của ngân hàng VietABank cao nhất trong các ngân hàng so sánh, ở mức 72,5%; tiếp đó là BVBank 45,21%, PGBank 40,5%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80