Những ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhóm các ngân hàng "bé hạt tiêu" với vốn điều lệ dưới 10.000 tỷ đồng và quy mô tổng tài sản nhỏ khoảng 70.000 - 100.000 tỷ đồng như: BVBank, PGBank, VietABank vừa công bố báo cáo tài chính quý IV/2024 và cả năm 2024.
aa

Theo báo cáo tài chính hợp nhất do Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank, mã chứng khoán: BVB) vừa công bố, lãi trước thuế năm 2024 của ngân hàng đạt 390,6 tỷ đồng, gấp 5,5 lần năm trước, vượt xa kế hoạch đề ra (200 tỷ đồng). Lãi sau thuế BVBank đạt 311,3 tỷ đồng, chỉ thấp hơn mức lãi kỷ lục được thiết lập năm 2022 (364 tỷ đồng); trong đó, tính riêng quý IV/2024, ngân hàng này lãi đột biến gấp 21 lần cùng kỳ.

Thu nhập ngoài lãi hẩm hiu, nhiều khoản lãi đột biến

Để tạo nên kết quả kinh doanh đầy bất ngờ này chủ yếu đến từ hoạt động kinh doanh cốt lõi là cho vay, với thu nhập lãi thuần từ tín dụng đóng góp 2.306 tỷ đồng, tăng 56% cùng kỳ. Trong khi đó, hầu hết các mảng trong hoạt động phi tín dụng đều sụt giảm, ngoại trừ hoạt động kinh doanh ngoại hối thu về gần 46 tỷ đồng, gấp đôi năm trước.

Cụ thể, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ giảm 31%, còn 38 tỷ đồng do chi phí tăng 31% không đủ bù đắp khoản gia tăng thu nhập. Cùng với đó, thu từ mua bán chứng khoán đầu tư giảm sâu 78% cùng kỳ; thu hoạt động dịch vụ khác cũng giảm 21%.

Tính chung tổng thu nhập hoạt động của BVBank cả năm 2024 đạt 2.477,6 tỷ đồng, tăng 41% cùng kỳ (1.755 tỷ đồng). BVBank vẫn trông chờ vào chủ yếu vào tín dụng do thu nhập lãi thuần chiếm áp đảo 93% thu nhập hoạt động, tỷ trọng này ở mức cao trong toàn ngành.

Đáng chú ý, tính riêng quý IV/2024, BVBank lãi đậm 166,7 tỷ đồng, gấp 21 lần cùng kỳ, cao hơn 7 lần quý liền kề. Theo đó, ngân hàng thu được gần 759 tỷ đồng thu nhập lãi thuần, tăng mạnh 77% so với cùng kỳ năm 2023, tương ứng tăng 330,8 tỷ đồng. Các mảng kinh doanh phi tín dụng đóng góp khiêm tốn chỉ 26,2 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,3% tổng thu nhập hoạt động.

Lý giải nguyên nhân lợi nhuận quý IV tăng cao so với quý trước đến từ việc tăng mạnh hoạt động cho vay, đóng góp gần 40% mức tăng cả năm, tốc độ thu nợ đẩy nhanh với mức thu gần 3 lần bình quân các quý trước, cải thiện mạnh thu lãi và giảm chi phí dự phòng.

Ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?
Những ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?

Với Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank - mã chứng khoán: PGB), theo báo cáo tài chính mới công bố, PGBank ghi nhận thu nhập lãi thuần năm 2024 đạt 1.659 tỷ đồng, tăng 27,5% cùng kỳ.

Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế theo ngân hàng công bố đạt lần lượt 421 tỷ đồng và 336,7 tỷ đồng, đều tăng 20% cùng kỳ song còn cách xa "vạch đích" (kế hoạch lợi nhuận trước thuế là 554 tỷ đồng). Nếu tính theo số liệu hậu soát xét bán niên, lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của PGBank chỉ đạt 364,5 tỷ đồng và 291,4 tỷ đồng, mức tăng trưởng chỉ còn khoảng 4%.

Tỷ trọng thu nhập lãi thuần của BVBank, PGBank và VietABank chiếm khoảng 87-90% tổng thu nhập hoạt động. Các ngân hàng quy mô nhỏ chật vật gia tăng tỷ trọng nguồn thu nhập phi tín dụng.

Thu nhập ngoài lãi của PGBank vốn đã chiếm trọng số nhỏ, năm 2024 lại kinh doanh hẩm hiu, sụt giảm mạnh từ hoạt động dịch vụ khi chỉ ghi nhận 18 tỷ đồng (giảm 48%); kinh doanh ngoại hối gần như không đáng kể do khoản lỗ 11,6 tỷ đồng quý III/2024 thổi bay lãi thuần cả năm, sụt giảm 98% cùng kỳ. Hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư lỗ đậm gần 55 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ chỉ lỗ 3,5 tỷ đồng.

Tuy nhiên, đáng chú ý, lãi thuần từ hoạt động khác lại tăng bất ngờ, gấp 5 lần cùng kỳ, ghi nhận mức lãi thuần 209 tỷ đồng. Tính riêng quý IV/2024, lãi thuần từ hoạt động khác tăng đột biến 15 lần cùng kỳ, đây cũng là một trong những nhân tố chính khiến quý cuối năm, ngân hàng này lãi gấp 13 lần cùng kỳ.

Với Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank - UPCoM: VAB), năm 2024 là năm kinh doanh không mấy sáng sủa khi tổng thu nhập hoạt động đạt 2.662 tỷ đồng, chỉ tăng 6%, đây là mức khá thấp so với toàn ngành. Trong đó, thu nhập lãi thuần đạt gần 2.328 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 87% thu nhập hoạt động và tăng 28,6% so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, chi phí hoạt động tăng 12%, cao hơn mức tăng thu nhập, lên 1.022 tỷ đồng. Dù thu nhập hoạt động không mấy cải thiện nhưng ngân hàng cắt giảm mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng gần 20%, do đó, kết quả lãi sau thuế vẫn tích cực, tăng 18% cùng kỳ, đạt 877 tỷ đồng.

Nợ nghi ngờ, rủi ro mất vốn tăng

Về quy mô tài sản, tính đến cuối năm 2024, tổng tài sản của BVBank đạt 103.536 tỷ đồng, tăng 18% so với cuối năm 2023. Hoạt động tín dụng ghi nhận kết quả tích cực với số dư nợ cho vay khách hàng hơn 68.063 tỷ đồng, tăng 17%. Trong đó, dư nợ của khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 75% tổng quy mô dư nợ.

Tổng quy mô huy động của BVBank ghi nhận 95.400 tỷ đồng, tăng 19% so với đầu năm. Trong đó, tiền gửi khách hàng đạt 67.389 tỷ đồng, tăng 18% với động lực chính đến từ các chương trình tập trung vào khách hàng nhỏ lẻ. Tổng số lượng khách hàng tăng gần 30% so với đầu năm, đạt 2,3 triệu khách hàng.

BVBank cho biết, năm 2024 cũng là năm đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động chuyển đổi số với 92% khách hàng mới đến từ kênh số, tăng 40% so với 2023. BVBank cũng là một trong những ngân hàng tiên phong triển khai giải pháp thanh toán xuyên biên giới.

Tổng nợ xấu tính đến 31/12/2024 của BVBank là 2.106 tỷ đồng, tăng 10% so với cuối năm 2023, tăng 35% so với năm 2022, đây cũng số nợ xấu ở mức đỉnh lịch sử của ngân hàng này. Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ vay cải thiện, giảm từ mức 3,31% xuống còn 3,09%. Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của ngân hàng 45,21%, cao hơn năm 2023 nhưng thấp nhất trong giai đoạn 10 năm trở lại đây và rất mỏng so với toàn ngành.

Ngoài ra, BVBank còn số dư trái phiếu VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng) tính đến cuối năm 2024 là 1.560 tỷ đồng. Đây là những khoản nợ khó đòi, được bán sang VAMC nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu nội bảng và xử lý nợ thông qua VAMC. Tuy nhiên, bán nợ cho VAMC không giúp các ngân hàng thoát khỏi gánh nặng nợ xấu, bởi các khoản nợ này vẫn có khả năng quay lại nếu sau 5 năm chưa được xử lý.

Ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?
Nguồn: TBTCVN tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng.

Với PGBank, tính đến ngày 31/12/2024, tổng tài sản của ngân hàng đạt 73.211 tỷ đồng, tăng 32% so với thời điểm đầu năm, vượt gần 10.000 tỷ đồng so với mục tiêu đề ra. Trong đó, cho vay khách hàng tăng mạnh từ 34.983 tỷ đồng lên 41.436,5 tỷ đồng, tương ứng tăng 18,4%. Tiền gửi khách hàng tăng lên 43.326 tỷ đồng, tăng 21,3%. PGBank 40,5%

Tổng nợ xấu tính đến 31/12/2024 của PGBank là 1.061 tỷ đồng, tăng 5,2% so với cuối năm 2023. Số dư trái phiếu VAMC tính đến cuối năm 2024 vẫn còn 771,2 tỷ đồng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu tính đến cuối quý IV/2024 của ngân hàng đạt 40,5%, cải thiện so với ba quý đầu năm.

Với VietABank, tổng tài sản của ngân hàng tăng 6,8% so với đầu năm lên 119.832 tỷ đồng. Trong đó, cho vay khách hàng tăng 15,7% so với hồi đầu năm lên gần 79.916 tỷ đồng. Tiền gửi khách hàng tăng 4% lên 90.289 tỷ đồng. Về chất lượng tài sản, tổng nợ xấu của ngân hàng tại thời điểm cuối năm 2024 là 1.046 tỷ đồng, giảm 5% so với mức 1.101 tỷ đồng đầu kỳ. Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay giảm từ 1,59% xuống 1,3%. Trong đó, nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4) của ngân hàng tăng gấp 23 lần, lên mức 513 tỷ đồng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu của VietABank ở mức tốt nhất trong các ngân hàng nêu trên, ở mức 72,5%./.

Bộ đệm rủi ro yếu so với toàn ngành

Trong ba ngân hàng có quy mô "bé hạt tiêu này", PGBank có tổng tài sản của ngân hàng tăng mạnh nhất 32% (lên 73.211 tỷ đồng), theo sau là BVBank tăng trưởng 18% (103.536 tỷ đồng), VietABank có mức tăng khiêm tốn hơn chỉ 6,8% (119.832 tỷ đồng). Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu của BVBank cao nhất 3,09% (2.106 tỷ đồng); tiếp đến là PGBank 2,56% (1.061 tỷ đồng); VietABank 1,31% (1.046 tỷ đồng). Tỷ lệ bao phủ nợ xấu của ngân hàng VietABank cao nhất trong các ngân hàng so sánh, ở mức 72,5%; tiếp đó là BVBank 45,21%, PGBank 40,5%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

InsuranceAsia News công bố kết quả Country Awards for Excellence - Vietnam 2026 và hệ sinh thái PVI đã có một kỳ vinh danh đáng nhớ

InsuranceAsia News công bố kết quả Country Awards for Excellence - Vietnam 2026 và hệ sinh thái PVI đã có một kỳ vinh danh đáng nhớ

(TBTCO) - InsuranceAsia News đã công bố kết quả Country Awards for Excellence - Vietnam 2026 vào ngày 20/7/2026 và hệ sinh thái PVI đã có một kỳ vinh danh đáng nhớ khi giành 5 trong tổng số 10 hạng mục giải thưởng, tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu trên thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam.
Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

(TBTCO) - Sáng 22/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên ở mức 25.260 đồng, song tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục nhích tăng. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,2% lên 101,19 điểm khi nhu cầu nắm giữ đồng bạc xanh gia tăng trước căng thẳng địa chính trị.
Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
Hơn 640 triệu cổ phiếu BVB chính thức giao dịch trên HOSE

Hơn 640 triệu cổ phiếu BVB chính thức giao dịch trên HOSE

(TBTCO) - Hơn 640 triệu cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVB) chính thức được đưa vào giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) từ ngày 21/7, với giá tham chiếu 13.100 đồng/cổ phiếu.
Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm từ hơn 12.000 xuống còn 695, song quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn vẫn còn nhiều "điểm nghẽn". Nhiều ý kiến cho rằng mục tiêu không phải chỉ sắp xếp, "dọn dẹp" hay bán vốn, mà là nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và vai trò dẫn dắt tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▼200K 145,000 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,200 ▼140K 14,600 ▼40K
Miếng SJC Nghệ An 14,200 ▼140K 14,600 ▼40K
Miếng SJC Thái Bình 14,200 ▼140K 14,600 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,600
NL 99.99 13,200 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲200K
Trang sức 99.9 13,790 14,490
Trang sức 99.99 13,800 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 142 ▼1292K 14,602 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 142 ▼1292K 14,603 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 141 ▼1278K 145 ▼1309K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 141 ▼1278K 1,451 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 138 ▼1251K 143 ▼1291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 ▲121086K 141,584 ▲127386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 ▼300K 107,411 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 ▼86996K 974 ▼96698K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 ▼244K 87,389 ▼244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 ▼234K 83,527 ▼234K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 ▼167K 59,787 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Cập nhật: 22/07/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17868 18142 18715
CAD 18134 18409 19027
CHF 31734 32115 32753
CNY 0 3844 3937
EUR 29384 29604 30679
GBP 34373 34764 35696
HKD 0 3225 3427
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14990 15578
SGD 19840 20122 20688
THB 693 757 810
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26133 26493
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,533 29,557 30,966
JPY 157.02 157.3 166.79
GBP 34,603 34,697 35,891
AUD 18,087 18,152 18,837
CAD 18,339 18,398 19,074
CHF 32,020 32,120 33,060
SGD 19,980 20,042 20,823
CNY - 3,813 3,958
HKD 3,291 3,301 3,438
KRW 16.41 17.11 18.61
THB 743.43 752.61 805.68
NZD 14,993 15,132 15,581
SEK - 2,665 2,759
DKK - 3,951 4,089
NOK - 2,689 2,783
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,017.74 - 6,792.73
TWD 734.82 - 889.54
SAR - 6,895.4 7,262.43
KWD - 83,233 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,464 29,582 30,774
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,845 31,973 32,898
JPY 157.29 157.92 165.78
AUD 18,108 18,181 18,779
SGD 20,029 20,109 20,699
THB 761 764 800
CAD 18,333 18,407 18,984
NZD 15,102 15,647
KRW 17.03 18.87
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26135 26135 26495
AUD 18065 18165 19088
CAD 18321 18421 19432
CHF 32020 32050 33624
CNY 3825.6 3850.6 3986
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29575 29605 31331
GBP 34683 34733 36504
HKD 0 3355 0
JPY 157.97 158.47 168.98
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15110 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20003 20133 20866
THB 0 723.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14200000 14200000 14800000
SBJ 13000000 13000000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,163 26,213 26,523
USD20 26,163 26,213 26,523
USD1 26,163 26,213 26,523
AUD 18,123 18,223 19,327
EUR 29,399 29,499 31,155
CAD 18,272 18,372 19,679
SGD 20,097 20,247 20,806
JPY 158.44 159.94 165.47
GBP 34,631 34,781 35,845
XAU 14,338,000 0 14,702,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 760 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/07/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80