"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hiện 25/27 ngân hàng đang niêm yết và đăng ký giao dịch trên các sàn chứng khoán đều công bố báo cáo tài chính năm 2024 (ngoại trừ VietBank và Bac A Bank), giúp bức tranh lợi nhuận sau thuế các ngân hàng trong từng phân khúc được phác hoạ rõ nét. Những tên tuổi lớn trong các nhà băng có lợi nhuận cao nhất ngành chứng kiến nhiều cuộc đổi ngôi.
aa
"Ông lớn" ngân hàng đầu tiên vén màn lợi nhuận năm 2024 Vào "mùa" công bố báo cáo tài chính, ngân hàng Techcombank và LPBank báo lãi kỷ lục nhờ đâu? Những ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024? Tín dụng bán lẻ chưa thoát cảnh đìu hiu, năm 2024 ngân hàng ACB và VIB làm ăn thế nào?

Thống kê của TBTCVN cho thấy 24/25 các ngân hàng đều báo lãi, chỉ duy nhất một nhà băng có quy mô “tí hon” báo lỗ, đó là Ngân hàng TMCP Quốc dân (NCB) lỗ kỷ lục 5.129 tỷ đồng so với mức lỗ gần 670 tỷ đồng năm ngoái.

Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng

Cụ thể, trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024, Vietcombank giữ vững vị trí quán quân toàn ngành ngân hàng về lợi nhuận sau thuế. Theo báo cáo tài chính năm 2024 do Vietcombank (mã chứng khoán: VCB) vừa công bố, lãi sau thuế đạt 33.853 tỷ đồng, đây cũng là ngân hàng duy nhất đạt mức lợi nhuận trên 30.000 tỷ đồng.

Năm 2024 ngân hàng này đã hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Đại hội đồng cổ đông giao. Con số lợi nhuận của Vietcombank ghi nhận mức kỷ lục mới và tiếp tục dẫn đầu toàn ngành, song tăng trưởng của “ông lớn” quốc doanh này khá khiêm tốn, chỉ 2,42%.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh niêm yết trên sàn, Vietinbank tăng hai bậc, vươn lên vị trí á quân, với lợi nhuận sau thuế 25.475 tỷ đồng nhờ tăng trưởng mạnh hai con số 27,09%. Khoảng cách lợi nhuận sau thuế giữa hai ngân hàng top đầu đang kéo gần lại, từ mức trên 11.000 tỷ đồng năm 2023 xuống còn hơn 8.000 tỷ đồng.

Đứng top ba là BIDV với lợi nhuận sau thuế 25.122 tỷ đồng, tụt một bạc xếp hạng so với năm ngoái, với mức tăng trưởng 14,31%.

Trong nhóm ngân hàng tư nhân, MBBank vẫn đứng đầu với lợi nhuận sau thuế 22.951 tỷ đồng và chỉ đứng sau các ngân hàng quốc doanh, với vị trí thứ 4 trong bảng xếp hạng. Tuy nhiên, năm 2023, vị trí của ngân hàng MBBank cao hơn (thứ 3) do lợi nhuận (21.054 tỷ đồng) nhỉnh hơn một ngân hàng quốc doanh khác là Vietinbank (20.045 tỷ đồng).

Các ngân hàng nâng hạng

Các ngân hàng nâng thứ hạng so với năm ngoái có thể kể đến như: VPBank tăng hai bậc, ở vị trí thứ 7 với lợi nhuận sau thuế 15.987 tỷ đồng nhờ mức tăng trưởng ngoạn mục 88,21%; Sacombank tăng một bậc, ở vị trí thứ 9 với lợi nhuận sau thuế 10.088 tỷ đồng (tăng 30,69%); LPBank tăng hai bậc, ở vị trí thứ 10 với lợi nhuận sau thuế 9.720 tỷ đồng (tăng 74,45%)...

Cùng với ba ngân hàng kể trên (Vietinbank, BIDV và MBBank), Techcombank năm 2024 mới gia nhập nhóm các ngân hàng có lợi nhuận sau thuế trên 20.000 tỷ đồng.

Techcombank và ACB vẫn giữ nguyên thứ hạng, lần lượt ở vị trí thứ 5 và thứ 6, với lợi nhuận sau thuế 21.760 tỷ đồng (tăng 19,62%) và 16.790 tỷ đồng (tăng 4,64%).

Một số ngân hàng rớt bậc xếp hạng như: HDBank giảm một bậc ở vị trí thứ 8 với lợi nhuận sau thuế 13.247 tỷ đồng (tăng 28,17%); VIB hạ tới 4 bậc ở vị trí thứ 12 với lợi nhuận sau thuế 7.204 tỷ đồng (giảm 15,87%); MSB hạ 1 bậc ở vị trí 14 với lợi nhuận 5.519 tỷ đồng (tăng 18,84%)…

Các nhà băng tăng trưởng thần tốc

Về tốc độ tăng trưởng lãi sau thuế năm 2024, trong nhóm các ngân hàng quốc doanh, Vietinbank năm nay tăng trưởng ấn tượng 27,09%, giúp ngân hàng tăng hai bậc trong bảng xếp hạng.

Trong khối các ngân hàng tư nhân, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận thần tốc đến từ các tên tuổi như: VPBank (tăng 88,21%); LPBank (tăng 74,45%)...

Theo ghi nhận, các công ty con của VPBank năm nay đóng góp tích cực vào kết quả kinh doanh của tập đoàn, đặc biệt là sự trở lại mạnh mẽ của FE Credit sau quá trình tái cấu trúc toàn diện, khi báo lãi liên tiếp trong 3 quý gần nhất và đạt 500 tỷ đồng lợi nhuận cả năm 2024.

Với LPBank, nhờ ngân hàng giảm trên 64% chi phí dự phòng rủi ro, tương ứng gần 1.000 tỷ đồng xuống còn 553 tỷ đồng giúp lợi nhuận quý IV/2024 của ngân hàng xấp xỉ cùng kỳ. Luỹ kế cả năm, lợi nhuận sau thuế ngân hàng đạt 9.721 tỷ đồng, tăng 74,45% so với năm trước và vượt kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng lợi nhuận chủ yếu đến từ thu nhập lãi thuần (tăng 37,4%) và nguồn thu nhập khác (tăng 170%).

"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024.

Bốn ngân hàng sụt giảm lợi nhuận

Cũng theo thống kê của TBTCVN, trong số 25 ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính năm 2024, hiện có 21/25 ngân hàng ghi nhận tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ, có 4/25 nhà băng sụt giảm lợi nhuận.

Trái lại, năm 2024 ghi nhận 4 ngân hàng tăng trưởng đi lùi so với cùng kỳ, đó là: Saigonbank lợi nhuận sau thuế bốc hơi trên 70%; VIB giảm 15,87%; OCB giảm nhẹ 3,91%; riêng Ngân hàng TMCP Quốc dân (NCB) lỗ cao hơn cùng kỳ.

Cũng theo ghi nhận của TBTCVN, năm 2024 có 4 nhà băng tăng trưởng tín dụng trên 20%, cao hơn đáng kể mức tăng tín dụng toàn ngành (15,08%), từ đó, giúp các ngân hàng tăng trưởng khả quan.

Năm 2025, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng đạt 16%, cao nhất trong vòng nhiều năm qua. Mức giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của tổ chức tín dụng căn cứ vào kết quả chấm điểm xếp hạng năm 2023 theo quy định tại Thông tư 52/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 nhân với hệ số áp dụng chung cho các ngân hàng. NHNN cũng khẳng định sẽ duy trì lộ trình hạn chế, từng bước tiến tới chấm dứt việc áp dụng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng ngân hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng "chất" và điều hướng dòng vốn

Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng "chất" và điều hướng dòng vốn

(TBTCO) - Tín dụng/GDP của Việt Nam dự báo tiếp tục leo dốc, lên 155% năm 2026, gia tăng áp lực khi tín dụng đã ở nền cao. Trong khi dòng vốn vẫn tìm về "chỗ trũng", yêu cầu điều hướng tín dụng, nâng chất lượng tín dụng và tăng cường kiểm soát rủi ro ngày càng được đặt ra rõ nét.
VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 ▼30K 14,380 ▼30K
Trang sức 99.99 13,790 ▼30K 14,390 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17852 18126 18712
CAD 18166 18442 19061
CHF 31445 31824 32480
CNY 0 3830 3940
EUR 29436 29656 30737
GBP 34362 34754 35692
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14916 15509
SGD 19828 20109 20681
THB 702 765 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,863 25,913 26,250
USD20 25,813 25,913 26,794
USD1 25,763 25,913 26,844
AUD 18,051 18,151 19,255
EUR 29,343 29,443 31,101
CAD 18,260 18,360 19,664
SGD 20,032 20,182 20,736
JPY 160.33 161.83 167.38
GBP 34,519 34,669 35,850
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80