Tín dụng bán lẻ chưa thoát cảnh đìu hiu, năm 2024 ngân hàng ACB và VIB làm ăn thế nào?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Các ngân hàng có tỷ trọng bán lẻ thuộc top đầu ngành như: ACB và VIB chính thức công bố báo cáo tài chính năm 2024. Trong bối cảnh tín dụng bán lẻ chưa thoát cảnh đìu hiu, phục hồi chậm, lợi nhuận của ACB tăng khiêm tốn 4,7%, trong khi VIB đi lùi, giảm 16% cùng kỳ.
aa

Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB - mã chứng khoán: ACB) vừa công bố báo cáo tài chính quý IV/2024. Trong quý cuối năm 2024, lợi nhuận trước thuế của ACB đạt 5.671,3 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế đạt 4.545,4 tỷ đồng, tăng 13,5%.

Tính cả năm 2024, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng đạt 21.006 tỷ đồng, tăng 4,7%; lợi nhuận sau thuế 16.790 tỷ đồng. Đây là mức lợi nhuận cao kỷ lục của ACB, nhưng chỉ hoàn thành 95,5% kế hoạch năm đề ra (22.000 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế).

Tín dụng bán lẻ gặp khó

Kết quả kinh doanh của ACB chủ yếu đến từ sự tăng trưởng ổn định trong thu nhập lãi thuần (11,4%) và hoạt động dịch vụ (10,8%). Cụ thể, thu nhập lãi thuần tăng 11,4% đạt 27.794,7 tỷ đồng, đóng góp 83% tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng. Còn lãi thuần từ hoạt động dịch vụ tăng 10,8%, đạt 3.238,8 tỷ đồng. Lãi thuần từ chứng khoán kinh doanh tăng 19%, đóng góp 200,4 tỷ đồng; lãi từ kinh doanh ngoại hối tăng nhẹ 5,5%, đạt 1.170,7 tỷ đồng.

Tuy nhiên, ngân hàng vẫn gặp thách thức trong hoạt động chứng khoán đầu tư khi bị thổi bay gần 2.200 tỷ đồng cùng kỳ, tương ứng giảm sâu 83% cùng kỳ, chỉ đạt 450 tỷ đồng. Tính chung, tổng thu nhập hoạt động của ACB trong năm 2024 tăng khiêm tốn 2,3%, lên mức 33.515 tỷ đồng.

ACB vẫn đáp ứng tốt các quy định về an toàn tài chính, trong khi tăng trưởng mạnh về quy mô: tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) 78%, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn 18,8%. Tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất CAR trên 12%, vượt yêu cầu tối thiểu 8%...

Bán lẻ đìu hiu, các ngân hàng thế mạnh bán lẻ
Tín dụng bán lẻ chưa thoát cảnh đìu hiu, ngân hàng ACB và VIB làm ăn thế nào năm 2024?

Việc phát triển tín dụng bán lẻ gặp khó do xu hướng tiêu dùng thắt lưng buộc bụng của người dân những năm qua dù có nhiều chương trình kích cầu. Số liệu về tăng trưởng bán lẻ hàng hóa và dịch vụ cũng cho thấy sức tiêu dùng yếu hơn trong năm 2024, với mức tăng trưởng 9,0% so với năm trước (năm 2023 tăng 9,4%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 5,9% (năm 2023 tăng 6,8%), thấp hơn nhiều so với các giai đoạn kinh tế thuận lợi trước đó.

Tăng trưởng tín dụng bán lẻ sụt giảm

Trong phân khúc bán lẻ, VIB là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao trên thị trường, có những giai đoạn nhà băng này tăng trưởng cho vay trên 30% song đang có dấu hiệu chậm dần. Điều này được đặt trong bối cảnh tín dụng bán lẻ ngày càng đìu hiu, năm 2023, tăng trưởng tín dụng bán lẻ chỉ đạt khoảng 5%, giảm mạnh so với mức 20%/năm giai đoạn 2015-2021.

Tín dụng bán lẻ chủ yếu tập trung vào các mảng như cho vay mua nhà, mua ôtô hoặc vay tiêu dùng... Phía sau sự sụt giảm của mảng tín dụng bán lẻ, một phần do dư nợ cho vay mua nhà tăng ì ạch khi nửa đầu năm 2024 vỏn vẹn hơn 1% và chỉ tăng tốc trong nửa cuối năm. Trong khi đó, khoảng 60% trong tổng số dư nợ bán lẻ là những khoản vay liên quan đến mua nhà ở.

Năm 2024, VIB đạt tổng thu nhập hoạt động 20.570 tỷ đồng, giảm 7% so với cùng kỳ.

Đi vào phân tích cụ thể những mảng kéo lùi kết quả kinh doanh của VIB có thể kể đến như: hoạt động kinh doanh cốt lõi là cho vay, với thu nhập lãi thuần từ tín dụng đạt 16.750 tỷ đồng (giảm 9,4%); lãi thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 1.765 tỷ đồng (giảm 20%); kinh doanh ngoại hối đạt 501 tỷ đồng (giảm 8,6%).

Dù thu nhập ngoài lãi vẫn duy trì đà tăng trưởng, song ở mức thấp so với toàn ngành, tăng 6% cùng kỳ và đóng góp vào 19% tổng doanh thu của ngân hàng. Cả năm 2024, lợi nhuận trước thuế của VIB năm 2024 đạt hơn 9.000 tỷ đồng, giảm 16% so với cùng kỳ. Lãnh đạo VIB cho rằng, đây là con số lợi nhuận thực chất, phản ánh đúng kết quả kinh doanh và tình hình thị trường.

Nợ xấu dềnh lên

Tính đến cuối năm 2024, tổng tài sản của ACB đạt 864.006 tỷ đồng, tăng 20% so với cuối năm trước. Dư nợ cho vay khách hàng tăng 19%, đạt 580.686 tỷ đồng. Ở chiều ngược lại, tiền gửi khách hàng tăng 11%, lên 537.305 tỷ đồng.

Tỷ lệ CASA (tiền gửi không kỳ hạn) của ngân hàng được cải thiện, từ mức 22,9% vào cuối năm 2023 lên 23,3% trong năm 2024, phản ánh chiến lược huy động vốn hiệu quả và bền vững.

ngân hàng bán lẻ
Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, ACB vẫn phải đối mặt với áp lực nợ xấu dềnh lên, trong khi bộ đệm dự phòng nợ xấu rất thấp trong gần 10 năm trở lại đây, ở mức 77,92%. Tổng số dư nợ xấu tăng gần 47% so với cuối năm 2023, đạt 8.650 tỷ đồng, đẩy tỷ lệ nợ xấu từ 1,21% lên 1,49%.

Trong đó, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) của ACB tăng mạnh nhất đạt 6.748 tỷ đồng tương ứng tăng hơn 73%, cho thấy những thách thức từ môi trường kinh doanh và chất lượng tín dụng.

Tại ngày 31/12/2024, tổng tài sản VIB đạt hơn 493.000 tỷ đồng, tăng 20% so với đầu năm. Dư nợ tín dụng VIB đạt 325.000 tỷ đồng, tăng trưởng gần 22%.

Đại diện VIB cho rằng, đây là mức tăng trưởng cao nhất trong nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân. Động lực tăng trưởng đến từ cả ở bốn mảng phân khúc trọng tâm là: bán lẻ, khách hàng doanh nghiệp, SME và định chế tài chính thông qua các sản phẩm vay có lãi suất cạnh tranh cùng quy trình đơn giản, linh hoạt và nhanh chóng.

Trong đó, dư nợ bán lẻ đạt gần 260.000 tỷ đồng, tỷ lệ bán lẻ duy trì mức 80%, cao nhất ngành. Trong đó, trên 90% khoản vay bán lẻ có tài sản đảm bảo chủ yếu là nhà ở, đất ở với đầy đủ pháp lý và có tính thanh khoản. Tiền gửi khách hàng tại VIB vẫn duy trì tăng trưởng hơn 17% so với đầu năm, nâng số dư tiền gửi khách hàng đạt 276.000 tỷ đồng.

Về chất lượng tài sản, trong khi nợ nhóm 3 và 4 giảm lần lượt 9% và 28%, tương đương giảm tổng cộng gần 1.200 tỷ đồng thì nợ nhóm 5 (nợ xấu có khả năng mất vốn) tăng gấp 3 lần, tương đương tăng gần 4.200 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu cuối quý IV/2024 của VIB là 3,51%, cao hơn cùng kỳ (3,14%).

Về trích lập dự phòng, trong bối cảnh nợ xấu có khả năng mất vốn leo dốc và tổng nợ xấu vẫn ở mức cao chưa từng có, tỷ lệ bao nợ xấu của VIB quý IV có dấu hiệu tăng nhẹ so với quý trước, ở mức 50,06%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải bảo đảm tách bạch, minh bạch thông tin, kiểm soát chặt xung đột lợi ích và không để khách hàng nhầm lẫn giữa các vai trò của ngân hàng.
Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Góp ý về quy định cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác với một số đối tượng để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, một số đại biểu Quốc hội lưu ý phải kiểm soát chặt rủi ro, tránh nguy cơ hạ chuẩn an toàn hệ thống, dễ bị lạm dụng hoặc tạo ra cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng.
AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

(TBTCO) - Diễn đàn Temenos Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 2026 - TRF’26 APAC sẽ diễn ra trong hai ngày 25 và 26/08/2026 tại khách sạn JW Marriott Hà Nội. Sự kiện dự kiến quy tụ hơn 300 lãnh đạo cấp cao, chuyên gia, khách hàng và đối tác đến từ nhiều quốc gia, thị trường và tổ chức tài chính trên khắp khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang len lỏi vào mọi "mắt xích" trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Không chỉ tạo ra những thay đổi trong vận hành và trải nghiệm khách hàng, AI, dữ liệu và chuyển đổi số còn trở thành trụ cột trong định hướng phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
SSI: Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, nhưng nợ xấu quý II lên mức cao nhất kể từ năm 2020

SSI: Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, nhưng nợ xấu quý II lên mức cao nhất kể từ năm 2020

(TBTCO) - Dù lợi nhuận ngân hàng tiếp tục vượt kỳ vọng, SSI Research vẫn giữ quan điểm thận trọng khi chất lượng tài sản suy giảm rõ nét đằng sau bức tranh lợi nhuận khả quan. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tăng lên 1,97%, cao nhất trong quý II kể từ năm 2020, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 83%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
NL 99.99 13,300 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▲200K
Trang sức 99.9 13,660 ▼50K 14,260 ▼50K
Trang sức 99.99 13,670 ▼50K 14,270 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▲1264K 14,352 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▲1264K 14,353 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1265K 1,431 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 ▼1238K 1,415 ▲1273K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 ▼495K 140,099 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 ▼375K 106,286 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 ▼34K 9,638 ▼34K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 ▼305K 86,474 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 ▼291K 82,653 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 ▲44404K 59,161 ▲53224K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cập nhật: 10/08/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17908 18182 18759
CAD 18183 18459 19077
CHF 31637 32017 32665
CNY 0 3840 3940
EUR 29542 29763 30846
GBP 34420 34812 35752
HKD 0 3199 3401
JPY 158 162 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15050 15638
SGD 19875 20157 20732
THB 706 769 822
USD (1,2) 25858 0 0
USD (5,10,20) 25898 0 0
USD (50,100) 25926 25940 26310
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,600 29,624 31,027
JPY 160.65 160.94 170.66
GBP 34,616 34,710 35,908
AUD 18,117 18,182 18,868
CAD 18,378 18,437 19,118
CHF 31,902 32,001 32,953
SGD 20,008 20,070 20,855
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,264 3,274 3,412
KRW 17.02 17.75 19.3
THB 754.32 763.64 817.59
NZD 15,035 15,175 15,629
SEK - 2,706 2,802
DKK - 3,970 4,110
NOK - 2,700 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,975.46 - 6,744.07
TWD 732.74 - 887.66
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,816 88,117
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,010 26,020 26,400
EUR 29,721 29,840 31,035
GBP 34,719 34,858 35,891
HKD 3,273 3,286 3,403
CHF 31,859 31,987 32,916
JPY 161.73 162.38 170.28
AUD 18,154 18,227 18,824
SGD 20,134 20,215 20,812
THB 774 777 814
CAD 18,444 18,518 19,107
NZD 15,171 15,717
KRW 17.70 19.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25970 25970 26380
AUD 18133 18233 19158
CAD 18407 18507 19521
CHF 31947 31977 33563
CNY 3819.9 3844.9 3980.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29787 29817 31542
GBP 34798 34848 36609
HKD 0 3355 0
JPY 161.93 162.43 172.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15197 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20075 20205 20926
THB 0 737.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14000000 14000000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,020 26,070 26,400
USD20 25,970 26,070 26,715
USD1 24,217 26,070 26,765
AUD 18,193 18,293 19,414
EUR 29,610 29,710 31,391
CAD 18,370 18,470 19,789
SGD 20,167 20,317 20,891
JPY 162.64 164.14 169.8
GBP 34,717 34,867 35,957
XAU 13,968,000 0 14,272,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 774 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/08/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80