Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

Tú Anh
(TBTCO) - Dù tín dụng tiếp đà tăng trưởng, nhiều ngân hàng đang chịu áp lực từ chi phí vốn leo thang, khiến thu nhập lãi thuần bị thu hẹp, thậm chí "đi lùi". Trong bối cảnh đó, nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành "trụ đỡ" quan trọng, song không phải ngân hàng nào cũng xây dựng được mô hình nguồn thu bền vững.
aa

Thu nhập lãi thuần chịu áp lực tại nhiều ngân hàng

Dù tăng trưởng tín dụng tiếp tục duy trì tích cực, áp lực chi phí vốn đang ngày càng rõ nét trong hoạt động cốt lõi của các ngân hàng.

Theo dữ liệu của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, tính đến cuối quý II/2026, dư nợ cho vay khách hàng của 27 ngân hàng niêm yết tăng 8,9% so với cuối năm 2025, kéo thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự tăng 33,6%. Tuy nhiên, chi phí lãi và các chi phí tương tự tăng tới 49%, vượt đáng kể tốc độ tăng của thu nhập lãi, khiến thu nhập lãi thuần chỉ tăng 17,6%.

Lãi thuần
Nguồn: SSI Research. Đồ họa tư liệu

Diễn biến này cho thấy cuộc đua huy động vốn và mặt bằng lãi suất đầu vào tăng cao đang thu hẹp biên lãi của một số ngân hàng. Hệ quả là, dù dư nợ cho vay tăng trưởng, nhiều nhà băng vẫn ghi nhận thu nhập lãi thuần “đi lùi”. Bởi chi phí huy động vốn, chủ yếu là chi trả lãi tiền gửi, lãi vay và lãi giấy tờ có giá, tăng nhanh hơn và làm suy giảm hiệu quả từ hoạt động tín dụng.

Trong đó, Saigonbank giảm mạnh nhất khi dư nợ chỉ tăng 1,1%, nhưng thu nhập lãi thuần giảm 18% xuống còn 370,2 tỷ đồng, do chi phí lãi tăng 24%, nhanh hơn nhiều mức tăng của thu nhập lãi.

Tại ABBank, dù dư nợ cho vay tăng 18,5% và thu nhập lãi tăng 34,6%, chi phí lãi tăng tới 66,1%, khiến thu nhập lãi thuần giảm hai chữ số, còn trên 1.900 tỷ đồng.

Tương tự, Sacombank ghi nhận dư nợ tăng 1,5%, thu nhập lãi tăng 15%, song chi phí lãi tăng 37,6%, kéo thu nhập lãi thuần giảm 8,6%, xuống dưới 12.900 tỷ đồng.

Ngoài nhóm suy giảm, nhiều ngân hàng cũng chỉ ghi nhận thu nhập lãi thuần tăng ở mức thấp.

Nguồn thu ngoài lãi trở thành “trụ đỡ”, nhưng phân hóa rõ

Trong bối cảnh thu nhập lãi thuần chịu áp lực, nguồn thu ngoài lãi tiếp tục đóng vai trò trụ đỡ, góp phần bù đắp sự suy giảm từ hoạt động tín dụng.

Theo ghi nhận từ Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư Công ty cổ phần Chứng khoán SSI (SSI Research), thu nhập ngoài lãi phục hồi mạnh quý II/2026, đạt 22,5 nghìn tỷ đồng, tăng 54,3% so với cùng kỳ và 27,9% so với quý trước. Tuy nhiên, mức tăng trưởng không diễn ra đồng đều mà tập trung ở một số ngân hàng nhất định.

Đáng chú ý là Sacombank, khi thu nhập từ phí tăng hơn 4 lần so với quý trước và tăng 248% so với cùng kỳ, dự kiến nhờ ghi nhận một nguồn thu phí mới từ cho vay hệ sinh thái như: phí từ thư tín dụng, thu hộ, chi hộ và quản lý dòng tiền. Nhờ đó, dù dư nợ cho vay Sacombank không tăng đáng kể như phân tích ở trên, nhưng tổng thu nhập hoạt động vẫn giữ đà tăng 12,3% so cùng kỳ.

Nguồn thu ngoài lãi thiếu bền vững, kết quả kinh doanh dễ biến động

Theo đánh giá của TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, dù nhiều ngân hàng đang đẩy mạnh “bán chéo” sản phẩm và phát triển dịch vụ, mô hình tạo nguồn thu ngoài lãi ổn định vẫn chưa thực sự hoàn thiện. Nhiều ngân hàng vẫn chủ yếu dựa vào các nguồn thu ngắn hạn, khiến kết quả kinh doanh dễ biến động theo từng giai đoạn.

ABBank cũng từng bước chuyển dịch cơ cấu thu nhập, giảm dần sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và đẩy mạnh phát triển các nguồn thu bền vững. Ngân hàng tập trung đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ để mở rộng dư địa tăng trưởng thu nhập phí, đặc biệt từ các mảng phi tín dụng như: bancassurance (phân phối bảo hiểm qua ngân hàng), giấy tờ có giá, dịch vụ QR, thẻ...

Bên cạnh nguồn “lương khô” từ xử lý nợ xấu, các nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành động lực tăng trưởng của ABBank. Nhờ đó, tổng thu ngoài lãi của ngân hàng tăng gấp đôi so với cùng kỳ, nâng tỷ trọng trong tổng thu nhập hoạt động lên xấp xỉ 65%.

Cũng theo SSI Research, VIB ghi nhận mức tăng mạnh 168% so với cùng kỳ; VPBank (tăng 160%), Techcombank (tăng 74%), VietinBank (tăng 58%) và ACB (tăng 41%), được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố như: phí liên quan đến thư tín dụng (L/C), các dịch vụ tài chính gồm bảo lãnh phát hành và phân phối trái phiếu, bancassurance và phí thẻ.

Đối với nhóm ngân hàng tư nhân quy mô lớn, bà Lê Hoàng Khánh An - Giám đốc Khối Tài chính VPBank cũng cho biết, thu nhập phí dịch vụ của ngân hàng trong 6 tháng đầu năm ghi nhận mức tăng trưởng 82% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này đến từ sự tăng trưởng đồng đều ở hầu hết các mảng dịch vụ, cùng với các khoản thu phí phát sinh từ một số khách hàng lớn.

“Đây đều là các nguồn thu phí có tính thường xuyên, gắn với các giao dịch quy mô lớn của ngân hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng chủ động rà soát, tối ưu các khoản chi liên quan đến hoạt động dịch vụ, qua đó tiết giảm chi phí” - bà An nêu rõ.

Đa dạng hóa nguồn thu, tạo lợi thế riêng

Ngành ngân hàng Việt Nam đang bước vào giai đoạn cạnh tranh ngày càng gay gắt, với khoảng cách giữa nhóm ngân hàng quy mô lớn và nhóm quy mô trung bình ngày càng rõ nét. Lợi thế về quy mô, chi phí vốn và năng lực quản trị rủi ro giúp các ngân hàng lớn tiếp tục mở rộng thị phần và gia tăng lợi nhuận, trong khi các ngân hàng tầm trung buộc phải tìm kiếm hướng đi riêng thay vì cạnh tranh trực diện.

Theo đánh giá của bà Tô Hạnh Trang - Chuyên viên phân tích ngành ngân hàng thuộc Trung tâm Phân tích của Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), các ngân hàng quy mô trung bình đang định hình chiến lược phát triển dựa trên bốn trụ cột chính.

Theo đó, nhiều ngân hàng khai thác hệ sinh thái đặc thù bằng cách tận dụng mạng lưới sẵn có của tập đoàn mẹ để tạo nguồn vốn ổn định với chi phí thấp, đồng thời đa dạng hóa nguồn thu ngoài lãi. Tuy nhiên, chiến lược này cũng làm gia tăng rủi ro do tập trung vào một nhóm khách hàng hoặc doanh nghiệp liên quan.

Bên cạnh đó, theo chuyên viên phân tích VDSC, nhiều ngân hàng như: TPBank, VIB... lựa chọn chiến lược số hóa có trọng tâm, tận dụng mức độ am hiểu đối với nhóm khách hàng mục tiêu để thiết kế các sản phẩm và hành trình số hóa phù hợp, qua đó, nâng cao trải nghiệm người dùng và tối ưu chi phí vận hành.

Ở hướng đi khác, một số ngân hàng phát triển tín dụng xanh thông qua việc am hiểu sâu về các khách hàng và dự án đáp ứng tiêu chí ESG, từ đó, nâng cao khả năng thẩm định, lựa chọn danh mục tín dụng chất lượng, đồng thời tiếp cận nguồn vốn quốc tế với chi phí thấp và cải thiện hình ảnh thương hiệu theo xu hướng phát triển bền vững. Tuy nhiên, chiến lược này vẫn tiềm ẩn rủi ro nếu việc triển khai không thực chất, quy mô danh mục tín dụng xanh còn hạn chế.

Ngoài ra, có ngân hàng theo đuổi chiến lược chuyên biệt hóa theo ngành hoặc phân khúc, phát huy tính linh hoạt và khả năng tập trung nguồn lực để xây dựng hiểu biết chuyên sâu về từng nhóm khách hàng, hoặc từng ngành nghề, từ đó nâng cao hiệu quả định giá, cải thiện biên lãi ròng (NIM) và hiệu quả kinh doanh.

VIB là một ví dụ với chiến lược tập trung vào tín dụng bán lẻ, cơ cấu thu nhập ngày càng cải thiện với đóng góp gia tăng từ nguồn thu ngoài lãi đạt 18% trong tổng thu nhập hoạt động bình quân 5 năm. Tuy nhiên, mức độ tập trung lớn vào phân khúc bán lẻ cũng khiến ngân hàng trở nên nhạy cảm hơn với biến động của chu kỳ tiêu dùng, đặc biệt ở các lĩnh vực như ô tô và nhà ở...

Bình luận về tính bền vững các nguồn thu ngoài lãi của ngân hàng, theo TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, thực tế, chỉ một số ít ngân hàng xây dựng được nguồn thu ngoài lãi mang tính bền vững.

Điểm khác biệt nằm ở việc các ngân hàng nào có thể duy trì nguồn thu ngoài lãi ổn định và từng bước gia tăng tỷ trọng đóng góp vào tổng thu nhập hoạt động qua các năm. Trong khi đó, phần lớn ngân hàng vẫn chủ yếu dựa vào các khoản thu mang tính ngắn hạn hoặc phát sinh đơn lẻ, khiến nguồn thu ngoài lãi thiếu tính ổn định và khó trở thành động lực tăng trưởng lâu dài.

Tú Anh

Đọc thêm

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 ▲70K 14,560 ▲70K
Trang sức 99.99 13,970 ▲70K 14,570 ▲70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 ▲12K 14,652 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 ▲12K 14,653 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1275K 146 ▼1302K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1275K 1,461 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 ▲12K 145 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▲1188K 143,564 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▲900K 108,911 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼79248K 9,876 ▼88068K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▲732K 88,609 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▲699K 84,693 ▲699K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▲500K 60,621 ▲500K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cập nhật: 16/09/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18001 18275 18856
CAD 18134 18409 19025
CHF 31103 31481 32123
CNY 0 3833 3929
EUR 29372 29592 30668
GBP 34211 34602 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14650 15238
SGD 19875 20157 20733
THB 696 759 813
USD (1,2) 25736 0 0
USD (5,10,20) 25775 0 0
USD (50,100) 25803 25817 26183
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 18191 18291 19214
CAD 18300 18400 19411
CHF 31342 31372 32945
CNY 3815.2 3840.2 3975.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29571 29601 31331
GBP 34532 34582 36342
HKD 0 3305 0
JPY 164.2 164.7 175.21
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14752 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20040 20170 20901
THB 0 726.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,684 25,724 26,180
USD20 25,654 25,724 26,180
USD1 25,634 25,724 26,180
AUD 18,217 18,317 19,422
EUR 29,347 29,447 31,106
CAD 18,251 18,351 19,655
SGD 20,102 20,252 20,816
JPY 164.48 165.98 171.53
GBP 34,423 34,573 35,630
XAU 14,288,000 0 14,592,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/09/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30