Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

Tú Anh
(TBTCO) - Dù tín dụng tiếp đà tăng trưởng, nhiều ngân hàng đang chịu áp lực từ chi phí vốn leo thang, khiến thu nhập lãi thuần bị thu hẹp, thậm chí "đi lùi". Trong bối cảnh đó, nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành "trụ đỡ" quan trọng, song không phải ngân hàng nào cũng xây dựng được mô hình nguồn thu bền vững.
aa

Thu nhập lãi thuần chịu áp lực tại nhiều ngân hàng

Dù tăng trưởng tín dụng tiếp tục duy trì tích cực, áp lực chi phí vốn đang ngày càng rõ nét trong hoạt động cốt lõi của các ngân hàng.

Theo dữ liệu của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, tính đến cuối quý II/2026, dư nợ cho vay khách hàng của 27 ngân hàng niêm yết tăng 8,9% so với cuối năm 2025, kéo thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự tăng 33,6%. Tuy nhiên, chi phí lãi và các chi phí tương tự tăng tới 49%, vượt đáng kể tốc độ tăng của thu nhập lãi, khiến thu nhập lãi thuần chỉ tăng 17,6%.

Lãi thuần
Nguồn: SSI Research. Đồ họa tư liệu

Diễn biến này cho thấy cuộc đua huy động vốn và mặt bằng lãi suất đầu vào tăng cao đang thu hẹp biên lãi của một số ngân hàng. Hệ quả là, dù dư nợ cho vay tăng trưởng, nhiều nhà băng vẫn ghi nhận thu nhập lãi thuần “đi lùi”. Bởi chi phí huy động vốn, chủ yếu là chi trả lãi tiền gửi, lãi vay và lãi giấy tờ có giá, tăng nhanh hơn và làm suy giảm hiệu quả từ hoạt động tín dụng.

Trong đó, Saigonbank giảm mạnh nhất khi dư nợ chỉ tăng 1,1%, nhưng thu nhập lãi thuần giảm 18% xuống còn 370,2 tỷ đồng, do chi phí lãi tăng 24%, nhanh hơn nhiều mức tăng của thu nhập lãi.

Tại ABBank, dù dư nợ cho vay tăng 18,5% và thu nhập lãi tăng 34,6%, chi phí lãi tăng tới 66,1%, khiến thu nhập lãi thuần giảm hai chữ số, còn trên 1.900 tỷ đồng.

Tương tự, Sacombank ghi nhận dư nợ tăng 1,5%, thu nhập lãi tăng 15%, song chi phí lãi tăng 37,6%, kéo thu nhập lãi thuần giảm 8,6%, xuống dưới 12.900 tỷ đồng.

Ngoài nhóm suy giảm, nhiều ngân hàng cũng chỉ ghi nhận thu nhập lãi thuần tăng ở mức thấp.

Nguồn thu ngoài lãi trở thành “trụ đỡ”, nhưng phân hóa rõ

Trong bối cảnh thu nhập lãi thuần chịu áp lực, nguồn thu ngoài lãi tiếp tục đóng vai trò trụ đỡ, góp phần bù đắp sự suy giảm từ hoạt động tín dụng.

Theo ghi nhận từ Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư Công ty cổ phần Chứng khoán SSI (SSI Research), thu nhập ngoài lãi phục hồi mạnh quý II/2026, đạt 22,5 nghìn tỷ đồng, tăng 54,3% so với cùng kỳ và 27,9% so với quý trước. Tuy nhiên, mức tăng trưởng không diễn ra đồng đều mà tập trung ở một số ngân hàng nhất định.

Đáng chú ý là Sacombank, khi thu nhập từ phí tăng hơn 4 lần so với quý trước và tăng 248% so với cùng kỳ, dự kiến nhờ ghi nhận một nguồn thu phí mới từ cho vay hệ sinh thái như: phí từ thư tín dụng, thu hộ, chi hộ và quản lý dòng tiền. Nhờ đó, dù dư nợ cho vay Sacombank không tăng đáng kể như phân tích ở trên, nhưng tổng thu nhập hoạt động vẫn giữ đà tăng 12,3% so cùng kỳ.

Nguồn thu ngoài lãi thiếu bền vững, kết quả kinh doanh dễ biến động

Theo đánh giá của TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, dù nhiều ngân hàng đang đẩy mạnh “bán chéo” sản phẩm và phát triển dịch vụ, mô hình tạo nguồn thu ngoài lãi ổn định vẫn chưa thực sự hoàn thiện. Nhiều ngân hàng vẫn chủ yếu dựa vào các nguồn thu ngắn hạn, khiến kết quả kinh doanh dễ biến động theo từng giai đoạn.

ABBank cũng từng bước chuyển dịch cơ cấu thu nhập, giảm dần sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và đẩy mạnh phát triển các nguồn thu bền vững. Ngân hàng tập trung đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ để mở rộng dư địa tăng trưởng thu nhập phí, đặc biệt từ các mảng phi tín dụng như: bancassurance (phân phối bảo hiểm qua ngân hàng), giấy tờ có giá, dịch vụ QR, thẻ...

Bên cạnh nguồn “lương khô” từ xử lý nợ xấu, các nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành động lực tăng trưởng của ABBank. Nhờ đó, tổng thu ngoài lãi của ngân hàng tăng gấp đôi so với cùng kỳ, nâng tỷ trọng trong tổng thu nhập hoạt động lên xấp xỉ 65%.

Cũng theo SSI Research, VIB ghi nhận mức tăng mạnh 168% so với cùng kỳ; VPBank (tăng 160%), Techcombank (tăng 74%), VietinBank (tăng 58%) và ACB (tăng 41%), được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố như: phí liên quan đến thư tín dụng (L/C), các dịch vụ tài chính gồm bảo lãnh phát hành và phân phối trái phiếu, bancassurance và phí thẻ.

Đối với nhóm ngân hàng tư nhân quy mô lớn, bà Lê Hoàng Khánh An - Giám đốc Khối Tài chính VPBank cũng cho biết, thu nhập phí dịch vụ của ngân hàng trong 6 tháng đầu năm ghi nhận mức tăng trưởng 82% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này đến từ sự tăng trưởng đồng đều ở hầu hết các mảng dịch vụ, cùng với các khoản thu phí phát sinh từ một số khách hàng lớn.

“Đây đều là các nguồn thu phí có tính thường xuyên, gắn với các giao dịch quy mô lớn của ngân hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng chủ động rà soát, tối ưu các khoản chi liên quan đến hoạt động dịch vụ, qua đó tiết giảm chi phí” - bà An nêu rõ.

Đa dạng hóa nguồn thu, tạo lợi thế riêng

Ngành ngân hàng Việt Nam đang bước vào giai đoạn cạnh tranh ngày càng gay gắt, với khoảng cách giữa nhóm ngân hàng quy mô lớn và nhóm quy mô trung bình ngày càng rõ nét. Lợi thế về quy mô, chi phí vốn và năng lực quản trị rủi ro giúp các ngân hàng lớn tiếp tục mở rộng thị phần và gia tăng lợi nhuận, trong khi các ngân hàng tầm trung buộc phải tìm kiếm hướng đi riêng thay vì cạnh tranh trực diện.

Theo đánh giá của bà Tô Hạnh Trang - Chuyên viên phân tích ngành ngân hàng thuộc Trung tâm Phân tích của Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), các ngân hàng quy mô trung bình đang định hình chiến lược phát triển dựa trên bốn trụ cột chính.

Theo đó, nhiều ngân hàng khai thác hệ sinh thái đặc thù bằng cách tận dụng mạng lưới sẵn có của tập đoàn mẹ để tạo nguồn vốn ổn định với chi phí thấp, đồng thời đa dạng hóa nguồn thu ngoài lãi. Tuy nhiên, chiến lược này cũng làm gia tăng rủi ro do tập trung vào một nhóm khách hàng hoặc doanh nghiệp liên quan.

Bên cạnh đó, theo chuyên viên phân tích VDSC, nhiều ngân hàng như: TPBank, VIB... lựa chọn chiến lược số hóa có trọng tâm, tận dụng mức độ am hiểu đối với nhóm khách hàng mục tiêu để thiết kế các sản phẩm và hành trình số hóa phù hợp, qua đó, nâng cao trải nghiệm người dùng và tối ưu chi phí vận hành.

Ở hướng đi khác, một số ngân hàng phát triển tín dụng xanh thông qua việc am hiểu sâu về các khách hàng và dự án đáp ứng tiêu chí ESG, từ đó, nâng cao khả năng thẩm định, lựa chọn danh mục tín dụng chất lượng, đồng thời tiếp cận nguồn vốn quốc tế với chi phí thấp và cải thiện hình ảnh thương hiệu theo xu hướng phát triển bền vững. Tuy nhiên, chiến lược này vẫn tiềm ẩn rủi ro nếu việc triển khai không thực chất, quy mô danh mục tín dụng xanh còn hạn chế.

Ngoài ra, có ngân hàng theo đuổi chiến lược chuyên biệt hóa theo ngành hoặc phân khúc, phát huy tính linh hoạt và khả năng tập trung nguồn lực để xây dựng hiểu biết chuyên sâu về từng nhóm khách hàng, hoặc từng ngành nghề, từ đó nâng cao hiệu quả định giá, cải thiện biên lãi ròng (NIM) và hiệu quả kinh doanh.

VIB là một ví dụ với chiến lược tập trung vào tín dụng bán lẻ, cơ cấu thu nhập ngày càng cải thiện với đóng góp gia tăng từ nguồn thu ngoài lãi đạt 18% trong tổng thu nhập hoạt động bình quân 5 năm. Tuy nhiên, mức độ tập trung lớn vào phân khúc bán lẻ cũng khiến ngân hàng trở nên nhạy cảm hơn với biến động của chu kỳ tiêu dùng, đặc biệt ở các lĩnh vực như ô tô và nhà ở...

Bình luận về tính bền vững các nguồn thu ngoài lãi của ngân hàng, theo TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, thực tế, chỉ một số ít ngân hàng xây dựng được nguồn thu ngoài lãi mang tính bền vững.

Điểm khác biệt nằm ở việc các ngân hàng nào có thể duy trì nguồn thu ngoài lãi ổn định và từng bước gia tăng tỷ trọng đóng góp vào tổng thu nhập hoạt động qua các năm. Trong khi đó, phần lớn ngân hàng vẫn chủ yếu dựa vào các khoản thu mang tính ngắn hạn hoặc phát sinh đơn lẻ, khiến nguồn thu ngoài lãi thiếu tính ổn định và khó trở thành động lực tăng trưởng lâu dài.

Tú Anh

Đọc thêm

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải bảo đảm tách bạch, minh bạch thông tin, kiểm soát chặt xung đột lợi ích và không để khách hàng nhầm lẫn giữa các vai trò của ngân hàng.
Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Góp ý về quy định cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác với một số đối tượng để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, một số đại biểu Quốc hội lưu ý phải kiểm soát chặt rủi ro, tránh nguy cơ hạ chuẩn an toàn hệ thống, dễ bị lạm dụng hoặc tạo ra cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng.
AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

(TBTCO) - Diễn đàn Temenos Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 2026 - TRF’26 APAC sẽ diễn ra trong hai ngày 25 và 26/08/2026 tại khách sạn JW Marriott Hà Nội. Sự kiện dự kiến quy tụ hơn 300 lãnh đạo cấp cao, chuyên gia, khách hàng và đối tác đến từ nhiều quốc gia, thị trường và tổ chức tài chính trên khắp khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang len lỏi vào mọi "mắt xích" trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Không chỉ tạo ra những thay đổi trong vận hành và trải nghiệm khách hàng, AI, dữ liệu và chuyển đổi số còn trở thành trụ cột trong định hướng phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
NL 99.99 13,300 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▲200K
Trang sức 99.9 13,660 ▼50K 14,260 ▼50K
Trang sức 99.99 13,670 ▼50K 14,270 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▲1264K 14,352 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▲1264K 14,353 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1265K 1,431 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 ▼1238K 1,415 ▲1273K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 ▼495K 140,099 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 ▼375K 106,286 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 ▼34K 9,638 ▼34K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 ▼305K 86,474 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 ▼291K 82,653 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 ▲44404K 59,161 ▲53224K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cập nhật: 10/08/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17909 18183 18767
CAD 18186 18462 19082
CHF 31647 32027 32675
CNY 0 3840 3940
EUR 29548 29770 30853
GBP 34431 34823 35761
HKD 0 3200 3402
JPY 158 162 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15055 15643
SGD 19882 20164 20735
THB 706 770 823
USD (1,2) 25866 0 0
USD (5,10,20) 25906 0 0
USD (50,100) 25934 25948 26318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,600 29,624 31,027
JPY 160.65 160.94 170.66
GBP 34,616 34,710 35,908
AUD 18,117 18,182 18,868
CAD 18,378 18,437 19,118
CHF 31,902 32,001 32,953
SGD 20,008 20,070 20,855
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,264 3,274 3,412
KRW 17.02 17.75 19.3
THB 754.32 763.64 817.59
NZD 15,035 15,175 15,629
SEK - 2,706 2,802
DKK - 3,970 4,110
NOK - 2,700 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,975.46 - 6,744.07
TWD 732.74 - 887.66
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,816 88,117
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,010 26,020 26,400
EUR 29,721 29,840 31,035
GBP 34,719 34,858 35,891
HKD 3,273 3,286 3,403
CHF 31,859 31,987 32,916
JPY 161.73 162.38 170.28
AUD 18,154 18,227 18,824
SGD 20,134 20,215 20,812
THB 774 777 814
CAD 18,444 18,518 19,107
NZD 15,171 15,717
KRW 17.70 19.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25945 25945 26305
AUD 18086 18186 19117
CAD 18360 18460 19474
CHF 31889 31919 33501
CNY 3812.1 3837.1 3972.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29727 29757 31482
GBP 34722 34772 36540
HKD 0 3355 0
JPY 161.65 162.15 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20032 20162 20893
THB 0 735.7 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14000000 14000000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,960 26,010 26,340
USD20 25,910 26,010 26,715
USD1 25,860 26,010 26,765
AUD 18,150 18,250 19,359
EUR 29,535 29,635 31,296
CAD 18,320 18,420 19,729
SGD 20,124 20,274 20,829
JPY 162.09 163.59 169.16
GBP 34,636 34,786 35,854
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/08/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80