Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

Tú Anh
(TBTCO) - Dù tín dụng tiếp đà tăng trưởng, nhiều ngân hàng đang chịu áp lực từ chi phí vốn leo thang, khiến thu nhập lãi thuần bị thu hẹp, thậm chí "đi lùi". Trong bối cảnh đó, nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành "trụ đỡ" quan trọng, song không phải ngân hàng nào cũng xây dựng được mô hình nguồn thu bền vững.
aa

Thu nhập lãi thuần chịu áp lực tại nhiều ngân hàng

Dù tăng trưởng tín dụng tiếp tục duy trì tích cực, áp lực chi phí vốn đang ngày càng rõ nét trong hoạt động cốt lõi của các ngân hàng.

Theo dữ liệu của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, tính đến cuối quý II/2026, dư nợ cho vay khách hàng của 27 ngân hàng niêm yết tăng 8,9% so với cuối năm 2025, kéo thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự tăng 33,6%. Tuy nhiên, chi phí lãi và các chi phí tương tự tăng tới 49%, vượt đáng kể tốc độ tăng của thu nhập lãi, khiến thu nhập lãi thuần chỉ tăng 17,6%.

Lãi thuần
Nguồn: SSI Research. Đồ họa tư liệu

Diễn biến này cho thấy cuộc đua huy động vốn và mặt bằng lãi suất đầu vào tăng cao đang thu hẹp biên lãi của một số ngân hàng. Hệ quả là, dù dư nợ cho vay tăng trưởng, nhiều nhà băng vẫn ghi nhận thu nhập lãi thuần “đi lùi”. Bởi chi phí huy động vốn, chủ yếu là chi trả lãi tiền gửi, lãi vay và lãi giấy tờ có giá, tăng nhanh hơn và làm suy giảm hiệu quả từ hoạt động tín dụng.

Trong đó, Saigonbank giảm mạnh nhất khi dư nợ chỉ tăng 1,1%, nhưng thu nhập lãi thuần giảm 18% xuống còn 370,2 tỷ đồng, do chi phí lãi tăng 24%, nhanh hơn nhiều mức tăng của thu nhập lãi.

Tại ABBank, dù dư nợ cho vay tăng 18,5% và thu nhập lãi tăng 34,6%, chi phí lãi tăng tới 66,1%, khiến thu nhập lãi thuần giảm hai chữ số, còn trên 1.900 tỷ đồng.

Tương tự, Sacombank ghi nhận dư nợ tăng 1,5%, thu nhập lãi tăng 15%, song chi phí lãi tăng 37,6%, kéo thu nhập lãi thuần giảm 8,6%, xuống dưới 12.900 tỷ đồng.

Ngoài nhóm suy giảm, nhiều ngân hàng cũng chỉ ghi nhận thu nhập lãi thuần tăng ở mức thấp.

Nguồn thu ngoài lãi trở thành “trụ đỡ”, nhưng phân hóa rõ

Trong bối cảnh thu nhập lãi thuần chịu áp lực, nguồn thu ngoài lãi tiếp tục đóng vai trò trụ đỡ, góp phần bù đắp sự suy giảm từ hoạt động tín dụng.

Theo ghi nhận từ Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư Công ty cổ phần Chứng khoán SSI (SSI Research), thu nhập ngoài lãi phục hồi mạnh quý II/2026, đạt 22,5 nghìn tỷ đồng, tăng 54,3% so với cùng kỳ và 27,9% so với quý trước. Tuy nhiên, mức tăng trưởng không diễn ra đồng đều mà tập trung ở một số ngân hàng nhất định.

Đáng chú ý là Sacombank, khi thu nhập từ phí tăng hơn 4 lần so với quý trước và tăng 248% so với cùng kỳ, dự kiến nhờ ghi nhận một nguồn thu phí mới từ cho vay hệ sinh thái như: phí từ thư tín dụng, thu hộ, chi hộ và quản lý dòng tiền. Nhờ đó, dù dư nợ cho vay Sacombank không tăng đáng kể như phân tích ở trên, nhưng tổng thu nhập hoạt động vẫn giữ đà tăng 12,3% so cùng kỳ.

Nguồn thu ngoài lãi thiếu bền vững, kết quả kinh doanh dễ biến động

Theo đánh giá của TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, dù nhiều ngân hàng đang đẩy mạnh “bán chéo” sản phẩm và phát triển dịch vụ, mô hình tạo nguồn thu ngoài lãi ổn định vẫn chưa thực sự hoàn thiện. Nhiều ngân hàng vẫn chủ yếu dựa vào các nguồn thu ngắn hạn, khiến kết quả kinh doanh dễ biến động theo từng giai đoạn.

ABBank cũng từng bước chuyển dịch cơ cấu thu nhập, giảm dần sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và đẩy mạnh phát triển các nguồn thu bền vững. Ngân hàng tập trung đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ để mở rộng dư địa tăng trưởng thu nhập phí, đặc biệt từ các mảng phi tín dụng như: bancassurance (phân phối bảo hiểm qua ngân hàng), giấy tờ có giá, dịch vụ QR, thẻ...

Bên cạnh nguồn “lương khô” từ xử lý nợ xấu, các nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành động lực tăng trưởng của ABBank. Nhờ đó, tổng thu ngoài lãi của ngân hàng tăng gấp đôi so với cùng kỳ, nâng tỷ trọng trong tổng thu nhập hoạt động lên xấp xỉ 65%.

Cũng theo SSI Research, VIB ghi nhận mức tăng mạnh 168% so với cùng kỳ; VPBank (tăng 160%), Techcombank (tăng 74%), VietinBank (tăng 58%) và ACB (tăng 41%), được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố như: phí liên quan đến thư tín dụng (L/C), các dịch vụ tài chính gồm bảo lãnh phát hành và phân phối trái phiếu, bancassurance và phí thẻ.

Đối với nhóm ngân hàng tư nhân quy mô lớn, bà Lê Hoàng Khánh An - Giám đốc Khối Tài chính VPBank cũng cho biết, thu nhập phí dịch vụ của ngân hàng trong 6 tháng đầu năm ghi nhận mức tăng trưởng 82% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này đến từ sự tăng trưởng đồng đều ở hầu hết các mảng dịch vụ, cùng với các khoản thu phí phát sinh từ một số khách hàng lớn.

“Đây đều là các nguồn thu phí có tính thường xuyên, gắn với các giao dịch quy mô lớn của ngân hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng chủ động rà soát, tối ưu các khoản chi liên quan đến hoạt động dịch vụ, qua đó tiết giảm chi phí” - bà An nêu rõ.

Đa dạng hóa nguồn thu, tạo lợi thế riêng

Ngành ngân hàng Việt Nam đang bước vào giai đoạn cạnh tranh ngày càng gay gắt, với khoảng cách giữa nhóm ngân hàng quy mô lớn và nhóm quy mô trung bình ngày càng rõ nét. Lợi thế về quy mô, chi phí vốn và năng lực quản trị rủi ro giúp các ngân hàng lớn tiếp tục mở rộng thị phần và gia tăng lợi nhuận, trong khi các ngân hàng tầm trung buộc phải tìm kiếm hướng đi riêng thay vì cạnh tranh trực diện.

Theo đánh giá của bà Tô Hạnh Trang - Chuyên viên phân tích ngành ngân hàng thuộc Trung tâm Phân tích của Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), các ngân hàng quy mô trung bình đang định hình chiến lược phát triển dựa trên bốn trụ cột chính.

Theo đó, nhiều ngân hàng khai thác hệ sinh thái đặc thù bằng cách tận dụng mạng lưới sẵn có của tập đoàn mẹ để tạo nguồn vốn ổn định với chi phí thấp, đồng thời đa dạng hóa nguồn thu ngoài lãi. Tuy nhiên, chiến lược này cũng làm gia tăng rủi ro do tập trung vào một nhóm khách hàng hoặc doanh nghiệp liên quan.

Bên cạnh đó, theo chuyên viên phân tích VDSC, nhiều ngân hàng như: TPBank, VIB... lựa chọn chiến lược số hóa có trọng tâm, tận dụng mức độ am hiểu đối với nhóm khách hàng mục tiêu để thiết kế các sản phẩm và hành trình số hóa phù hợp, qua đó, nâng cao trải nghiệm người dùng và tối ưu chi phí vận hành.

Ở hướng đi khác, một số ngân hàng phát triển tín dụng xanh thông qua việc am hiểu sâu về các khách hàng và dự án đáp ứng tiêu chí ESG, từ đó, nâng cao khả năng thẩm định, lựa chọn danh mục tín dụng chất lượng, đồng thời tiếp cận nguồn vốn quốc tế với chi phí thấp và cải thiện hình ảnh thương hiệu theo xu hướng phát triển bền vững. Tuy nhiên, chiến lược này vẫn tiềm ẩn rủi ro nếu việc triển khai không thực chất, quy mô danh mục tín dụng xanh còn hạn chế.

Ngoài ra, có ngân hàng theo đuổi chiến lược chuyên biệt hóa theo ngành hoặc phân khúc, phát huy tính linh hoạt và khả năng tập trung nguồn lực để xây dựng hiểu biết chuyên sâu về từng nhóm khách hàng, hoặc từng ngành nghề, từ đó nâng cao hiệu quả định giá, cải thiện biên lãi ròng (NIM) và hiệu quả kinh doanh.

VIB là một ví dụ với chiến lược tập trung vào tín dụng bán lẻ, cơ cấu thu nhập ngày càng cải thiện với đóng góp gia tăng từ nguồn thu ngoài lãi đạt 18% trong tổng thu nhập hoạt động bình quân 5 năm. Tuy nhiên, mức độ tập trung lớn vào phân khúc bán lẻ cũng khiến ngân hàng trở nên nhạy cảm hơn với biến động của chu kỳ tiêu dùng, đặc biệt ở các lĩnh vực như ô tô và nhà ở...

Bình luận về tính bền vững các nguồn thu ngoài lãi của ngân hàng, theo TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, thực tế, chỉ một số ít ngân hàng xây dựng được nguồn thu ngoài lãi mang tính bền vững.

Điểm khác biệt nằm ở việc các ngân hàng nào có thể duy trì nguồn thu ngoài lãi ổn định và từng bước gia tăng tỷ trọng đóng góp vào tổng thu nhập hoạt động qua các năm. Trong khi đó, phần lớn ngân hàng vẫn chủ yếu dựa vào các khoản thu mang tính ngắn hạn hoặc phát sinh đơn lẻ, khiến nguồn thu ngoài lãi thiếu tính ổn định và khó trở thành động lực tăng trưởng lâu dài.

Tú Anh

Đọc thêm

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Ngân hàng NCB và Petrolimex hợp tác chiến lược, kết nối hiệu quả hệ sinh thái năng lượng và tài chính

Ngân hàng NCB và Petrolimex hợp tác chiến lược, kết nối hiệu quả hệ sinh thái năng lượng và tài chính

(TBTCO) - Ngày 22/9/2026, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện, mở ra cơ hội kết nối sâu rộng giữa 2 bên trong việc triển khai các giải pháp tài chính – ngân hàng vượt trội phục vụ nhu cầu phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/9): USD biến động nhẹ, DXY neo trên 100 điểm trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (23/9): USD biến động nhẹ, DXY neo trên 100 điểm trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 23/9, Ngân hàng Nhà nước hạ tỷ giá trung tâm 5 đồng, xuống 25.635 đồng/USD, các ngân hàng giữ tỷ giá ổn định. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng lên 100,54 điểm, thị trường thận trọng chờ tiến triển giữa Mỹ - Iran quanh eo biển Hormuz, cùng diễn biến từ Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Hà Nội - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đà Nẵng - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Miền Tây - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Tây Nguyên - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Nghệ An 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Thái Bình 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 ▼110K 14,400 ▼110K
Trang sức 99.99 13,810 ▼110K 14,410 ▼110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 ▼11K 14,442 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 ▼11K 14,443 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 ▲1267K 1,439 ▲1294K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 ▲1267K 144 ▼1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 ▼11K 1,429 ▲1285K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 ▼1089K 141,485 ▼1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 ▼825K 107,336 ▼825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 ▲78704K 97,332 ▲87524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 ▼671K 87,328 ▼671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 ▲66238K 83,469 ▲75058K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 ▼459K 59,745 ▼459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cập nhật: 24/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17737 18010 18586
CAD 17884 18158 18774
CHF 30769 31146 31793
CNY 0 3829 3925
EUR 28931 29150 30231
GBP 33583 33971 34909
HKD 0 3183 3386
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14428 15015
SGD 19774 20056 20626
THB 692 755 808
USD (1,2) 25729 0 0
USD (5,10,20) 25768 0 0
USD (50,100) 25796 25810 26180
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,026 29,049 30,427
JPY 159.64 159.93 169.61
GBP 33,816 33,908 35,082
AUD 17,958 18,023 18,706
CAD 18,087 18,145 18,815
CHF 31,197 31,294 32,216
SGD 19,900 19,962 20,744
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.51 18.26 19.88
THB 741.95 751.11 804.23
NZD 14,445 14,579 15,012
SEK - 2,580 2,671
DKK - 3,893 4,031
NOK - 2,696 2,792
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,957.79 - 6,724.66
TWD 737.34 - 892.76
SAR - 6,805.45 7,168.62
KWD - 82,209 87,477
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,042 29,159 30,368
GBP 33,798 33,934 34,953
HKD 3,249 3,262 3,379
CHF 30,994 31,118 32,057
JPY 160.62 161.27 169.23
AUD 17,952 18,024 18,616
SGD 19,963 20,043 20,633
THB 758 761 799
CAD 18,106 18,179 18,769
NZD 14,522 15,063
KRW 18.15 20.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25815 25815 26175
AUD 17927 18027 18950
CAD 18076 18176 19190
CHF 31010 31040 32621
CNY 3811.8 3836.8 3972.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29112 29142 30867
GBP 33873 33923 35694
HKD 0 3315 0
JPY 160.21 160.71 171.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14537 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19929 20059 20780
THB 0 721.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,705 25,825 26,500
USD20 25,675 25,825 26,500
USD1 25,655 25,825 26,500
AUD 17,969 18,069 19,175
EUR 28,922 29,022 30,682
CAD 18,026 18,126 19,434
SGD 20,002 20,152 20,710
JPY 161.41 162.91 168.48
GBP 33,802 33,952 35,295
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 758 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/09/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30