Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
aa
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao “0 đồng” thành “nam châm” hút vốn

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026 Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất “ngầm” lan rộng, ngân hàng chỉ tăng thêm 5,4% tiền gửi

Theo dữ liệu của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, tính đến ngày 30/6/2026, tổng tiền gửi khách hàng tại 28 ngân hàng (gồm 27 ngân hàng niêm yết và Agribank) đạt khoảng 15,77 triệu tỷ đồng, tăng 5,4% so với cuối năm 2025, tương ứng tăng trên 800 nghìn tỷ đồng chỉ sau 6 tháng.

Mức tăng 5,4% cho thấy, việc huy động vốn vẫn là bài toán không dễ với các ngân hàng, dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên. Thống kê của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho thấy, lãi suất huy động đã tăng thêm 75 - 120 điểm cơ bản trong nửa đầu năm 2026.

Gần đây, nhiều ngân hàng đã đẩy lãi suất cộng “ngầm” lên 2 - 3%/năm đối với các khoản tiền gửi, đưa mức lãi suất thực nhận lên sát 9%/năm, trong khi lãi suất niêm yết của phần lớn nhà băng vẫn dưới 7%/năm.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Với 2,26 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, Agribank từ vị trí thứ hai đã vươn lên dẫn đầu hệ thống, tăng 5% so với đầu năm, tương ứng thêm 107.365,7 tỷ đồng. Đà tăng này diễn ra trong bối cảnh nhiều kỳ hạn huy động của Agribank duy trì ở nhóm cao nhất trong “big 4” từ cuối năm 2025 đến nay.

Agribank vươn lên đứng đầu, “big 4” giữ hơn nửa “kho” tiền gửi

Đến cuối tháng 6/2026, nhóm ngân hàng “big 4” nắm giữ 8,15 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, chiếm khoảng 51,7% tổng tiền gửi của nhóm ngân hàng khảo sát (15,77 triệu tỷ đồng). Trong đó, hai nhà băng nắm trong tay “kho” tiền gửi hơn 2 triệu tỷ đồng là Agribank và BIDV.

Xếp ngay sau là BIDV với 2,26 triệu tỷ đồng, chỉ tăng 1,7%, tương ứng 38.729 tỷ đồng.

Tiếp đến là VietinBank đạt 1,89 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, tăng 5,4%. Còn Vietcombank đạt 1,73 triệu tỷ đồng, tăng 3,4%.

Về tốc độ tăng trưởng, chỉ có 5 ngân hàng ghi nhận mức tăng huy động hai chữ số, gồm HDBank (tăng 20,2%), VPBank (tăng 16,7%), BVBank (tăng 13,9%), NCB (tăng 13,5%) và Nam A Bank (tăng 12,5%).

Trong số đó, HDBankVPBank - hai ngân hàng tham gia nhận chuyển giao ngân hàng yếu kém, cũng là hai đơn vị dẫn đầu toàn ngành về tốc độ tăng tiền gửi. Việc được nới room tín dụng tạo điều kiện mở rộng cho vay, đồng thời khiến nhu cầu huy động vốn của hai ngân hàng này tăng mạnh.

Dù mặt bằng lãi suất huy động tăng lên, phần lớn ngân hàng chỉ tăng trưởng tiền gửi 2 - 4%. Đáng chú ý, 4 ngân hàng vẫn ghi nhận tiền gửi khách hàng sụt giảm so với cuối năm 2025, trong đó BacABank giảm 5,4%, Saigonbank giảm 4,3% và ACB giảm 1,5%.

Nỗi lo thanh khoản chưa nguôi, ngân hàng mở thêm “van” hút vốn

Ngay đầu tháng 8/2026, BIDV - ngân hàng có quy mô tài sản lớn nhất hệ thống - công bố biểu lãi suất huy động mới. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 12 tháng tăng lên 7,4%/năm; các kỳ hạn 6 - 11 tháng và 13 - 36 tháng lên 7,2%/năm. Động thái này giúp BIDV vượt trở thành ngân hàng có lãi suất huy động cao nhất nhóm “big 4”.

Tuy nhiên, chỉ ít ngày sau, BIDV đã đưa toàn bộ biểu lãi suất trực tuyến trở về mức trước khi điều chỉnh, qua đó cho thấy, áp lực huy động vốn vẫn hiện hữu, song các ngân hàng có xu hướng điều tiết linh hoạt.

Khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động ngày càng nới rộng, lên 2,8 triệu tỷ đồng cuối quý II/2026, cao hơn so với mức 2,6 triệu tỷ đồng cuối quý I/2026 và 2,1 triệu tỷ đồng cuối năm 2025, theo dữ liệu của VDSC.

Trong khi đó, tiền gửi chịu áp lực cạnh tranh từ nhiều kênh đầu tư khác, buộc các ngân hàng tăng tốc cuộc đua hút vốn. Như vậy, cuộc đua lãi suất huy động nửa cuối năm 2026 khó có dấu hiệu hạ nhiệt.

Tiền gửi nhích hơn 800 nghìn tỷ đồng giữa cuộc đua lãi suất, lộ diện ngân hàng hút vốn mạnh nhất
Khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động nới rộng lên 2,8 triệu tỷ đồng cuối quý II/2026. Ảnh minh họa.

Trao đổi tại Hội nghị Nhà đầu tư MB vừa diễn ra, Tổng Giám đốc MB Phạm Như Ánh cho rằng, thanh khoản vẫn là yếu tố đáng lo trong 6 tháng cuối năm, còn các yếu tố khác thì ngân hàng đều có thể kiểm soát được. Nếu thanh khoản được cải thiện và thuận lợi hơn, kết quả kinh doanh của ngân hàng sẽ rất tích cực.

Giữa bài toán thanh khoản ngày càng nhiều biến số, tiền gửi khách hàng vẫn là “mỏ neo” giữ ổn định cán cân nguồn vốn của các ngân hàng.

Dù vậy, Tổng Giám đốc MB cũng khẳng định, MB không bằng mọi giá tăng lãi suất cao như các ngân hàng khác. Bởi nếu đẩy lãi suất huy động lên khoảng 9%/năm, ngân hàng có thể nhanh chóng tăng trưởng huy động ở mức hai con số, nhưng điều đó sẽ làm chi phí vốn tăng mạnh và phá vỡ mặt bằng thị trường, các ngân hàng khác sẽ “chạy” theo.

“Là một ngân hàng quy mô lớn, phải nhìn trước, nhìn sau, nhìn chính sách của Nhà nước và nhìn vào sự cân bằng của thị trường” - ông Ánh nói và nhấn mạnh thêm, tín dụng tăng đến đâu thì huy động sẽ được cân bằng đến đó, đảm bảo thanh khoản phù hợp.

Còn theo lãnh đạo VPBank, hoạt động huy động vốn chịu rất nhiều áp lực cạnh tranh, khi mặt bằng lãi suất thị trường tiếp tục tăng cao. Vì vậy, VPBank kiểm soát và quản lý bảng cân đối rất chặt chẽ, vừa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng quy mô, vừa đảm bảo các chỉ số quản trị thanh khoản, cũng như cam kết với các đối tác cho vay.

Ông Phùng Duy Khương - Phó Tổng Giám đốc Thường trực VPBank nhận định, 6 tháng cuối năm, yêu cầu về tăng trưởng tiền gửi còn cao hơn, hoạt động huy động vốn sẽ tiếp tục đối mặt với những thách thức lớn, đặc biệt trong bối cảnh phải đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tín dụng 35% của VPBank.

Giữa cuộc đua hút tiền gửi ngày càng nóng nhưng hiệu quả chưa như kỳ vọng, nhiều ngân hàng xoay hướng đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, vay vốn quốc tế... để bổ sung nguồn vốn.

Tính đến cuối tháng 6/2026, quy mô phát hành giấy tờ có giá của 28 ngân hàng niêm yết đạt gần 2,1 triệu tỷ đồng, tăng 13,6% so với cuối năm năm 2025, gấp 2,5 lần tốc độ tăng tiền gửi khách hàng (5,4%) và cũng vượt xa mức tăng tiền gửi, vay các tổ chức tín dụng khác.

Xét về giá trị tuyệt đối, dù tiền gửi khách hàng chỉ tăng 1,7%, tương ứng hơn 38.700 tỷ đồng so với đầu năm, BIDV lại dẫn đầu hệ thống về quy mô phát hành giấy tờ có giá. Cụ thể, giá trị giấy tờ có giá phát hành của ngân hàng tăng thêm 76.324 tỷ đồng, tương ứng 33,9%, lên 301.732 tỷ đồng.

VPBank tăng mạnh nhất nhóm khảo sát, với mức tăng 57,7%, tương ứng 61.823 tỷ đồng, lên 168.944 tỷ đồng.

Ngoài ra, nhiều ngân hàng đa dạng hóa nguồn vốn trung - dài hạn thông qua phát hành chứng chỉ tiền gửi và vay vốn quốc tế, gồm VPBank (1,44 tỷ USD), HDBank (720 triệu USD) và ACB (500 triệu USD), theo thông tin của Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư Công ty cổ phần Chứng khoán SSI./.

Huy động đuối hơn tín dụng 3,3 điểm phần trăm,
lãi suất còn áp lực tăng

Theo nhóm phân tích của VDSC, huy động vẫn là “điểm nghẽn” khi tăng trưởng huy động của các ngân hàng niêm yết chỉ đạt 5% so với đầu năm, thấp hơn 3,3 điểm phần trăm so với tăng trưởng tín dụng. Quy mô huy động thấp hơn khoảng 2,8 triệu tỷ đồng so với tín dụng.

Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của phần lớn ngân hàng duy trì sát ngưỡng 85% và tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn toàn ngành đi ngang ở vùng thấp 20,9% trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục tăng trong quý II/2026. VDSC dự báo, lãi suất nhiều khả năng tăng nhẹ 30 - 50 điểm cơ bản trong nửa cuối năm 2026./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

(TBTCO) - Sáng 19/9/2026, tại Đền thờ danh sư Chu Văn An, Khu di tích quốc gia Phượng Hoàng, TP. Hải Phòng, Công đoàn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trang trọng tổ chức Lễ vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm học 2025 - 2026.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,900 144,900
Hà Nội - PNJ 141,900 144,900
Đà Nẵng - PNJ 141,900 144,900
Miền Tây - PNJ 141,900 144,900
Tây Nguyên - PNJ 141,900 144,900
Đông Nam Bộ - PNJ 141,900 144,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,190 14,490
Miếng SJC Nghệ An 14,190 14,490
Miếng SJC Thái Bình 14,190 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,140 14,540
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,850 14,450
Trang sức 99.99 13,860 14,460
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,419 14,492
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,419 14,493
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,414 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 1,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 14,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 107,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 97,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 87,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 83,761
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 59,954
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cập nhật: 23/09/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17973 18248 18827
CAD 18005 18280 18899
CHF 31130 31508 32152
CNY 0 3840 3937
EUR 29195 29415 30495
GBP 33957 34346 35297
HKD 0 3185 3388
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14614 15204
SGD 19871 20153 20724
THB 702 765 818
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,237 29,260 30,648
JPY 160.54 160.83 170.54
GBP 34,167 34,260 35,442
AUD 18,176 18,242 18,933
CAD 18,202 18,260 18,932
CHF 31,283 31,380 32,308
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.65 18.41 20.04
THB 745.87 755.08 808.23
NZD 14,606 14,742 15,180
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,921 4,060
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 740.61 - 897.28
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18156 18256 19181
CAD 18188 18288 19302
CHF 31370 31400 32974
CNY 3822.6 3847.6 3983.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29369 29399 31121
GBP 34253 34303 36072
HKD 0 3305 0
JPY 162.15 162.65 173.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14739 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20021 20151 20876
THB 0 729 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14190000 14190000 14490000
SBJ 13000000 13000000 14490000
Cập nhật: 23/09/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30