Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
aa
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao “0 đồng” thành “nam châm” hút vốn

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026 Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất “ngầm” lan rộng, ngân hàng chỉ tăng thêm 5,4% tiền gửi

Theo dữ liệu của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, tính đến ngày 30/6/2026, tổng tiền gửi khách hàng tại 28 ngân hàng (gồm 27 ngân hàng niêm yết và Agribank) đạt khoảng 15,77 triệu tỷ đồng, tăng 5,4% so với cuối năm 2025, tương ứng tăng trên 800 nghìn tỷ đồng chỉ sau 6 tháng.

Mức tăng 5,4% cho thấy, việc huy động vốn vẫn là bài toán không dễ với các ngân hàng, dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên. Thống kê của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho thấy, lãi suất huy động đã tăng thêm 75 - 120 điểm cơ bản trong nửa đầu năm 2026.

Gần đây, nhiều ngân hàng đã đẩy lãi suất cộng “ngầm” lên 2 - 3%/năm đối với các khoản tiền gửi, đưa mức lãi suất thực nhận lên sát 9%/năm, trong khi lãi suất niêm yết của phần lớn nhà băng vẫn dưới 7%/năm.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Với 2,26 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, Agribank từ vị trí thứ hai đã vươn lên dẫn đầu hệ thống, tăng 5% so với đầu năm, tương ứng thêm 107.365,7 tỷ đồng. Đà tăng này diễn ra trong bối cảnh nhiều kỳ hạn huy động của Agribank duy trì ở nhóm cao nhất trong “big 4” từ cuối năm 2025 đến nay.

Agribank vươn lên đứng đầu, “big 4” giữ hơn nửa “kho” tiền gửi

Đến cuối tháng 6/2026, nhóm ngân hàng “big 4” nắm giữ 8,15 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, chiếm khoảng 51,7% tổng tiền gửi của nhóm ngân hàng khảo sát (15,77 triệu tỷ đồng). Trong đó, hai nhà băng nắm trong tay “kho” tiền gửi hơn 2 triệu tỷ đồng là Agribank và BIDV.

Xếp ngay sau là BIDV với 2,26 triệu tỷ đồng, chỉ tăng 1,7%, tương ứng 38.729 tỷ đồng.

Tiếp đến là VietinBank đạt 1,89 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, tăng 5,4%. Còn Vietcombank đạt 1,73 triệu tỷ đồng, tăng 3,4%.

Về tốc độ tăng trưởng, chỉ có 5 ngân hàng ghi nhận mức tăng huy động hai chữ số, gồm HDBank (tăng 20,2%), VPBank (tăng 16,7%), BVBank (tăng 13,9%), NCB (tăng 13,5%) và Nam A Bank (tăng 12,5%).

Trong số đó, HDBankVPBank - hai ngân hàng tham gia nhận chuyển giao ngân hàng yếu kém, cũng là hai đơn vị dẫn đầu toàn ngành về tốc độ tăng tiền gửi. Việc được nới room tín dụng tạo điều kiện mở rộng cho vay, đồng thời khiến nhu cầu huy động vốn của hai ngân hàng này tăng mạnh.

Dù mặt bằng lãi suất huy động tăng lên, phần lớn ngân hàng chỉ tăng trưởng tiền gửi 2 - 4%. Đáng chú ý, 4 ngân hàng vẫn ghi nhận tiền gửi khách hàng sụt giảm so với cuối năm 2025, trong đó BacABank giảm 5,4%, Saigonbank giảm 4,3% và ACB giảm 1,5%.

Nỗi lo thanh khoản chưa nguôi, ngân hàng mở thêm “van” hút vốn

Ngay đầu tháng 8/2026, BIDV - ngân hàng có quy mô tài sản lớn nhất hệ thống - công bố biểu lãi suất huy động mới. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 12 tháng tăng lên 7,4%/năm; các kỳ hạn 6 - 11 tháng và 13 - 36 tháng lên 7,2%/năm. Động thái này giúp BIDV vượt trở thành ngân hàng có lãi suất huy động cao nhất nhóm “big 4”.

Tuy nhiên, chỉ ít ngày sau, BIDV đã đưa toàn bộ biểu lãi suất trực tuyến trở về mức trước khi điều chỉnh, qua đó cho thấy, áp lực huy động vốn vẫn hiện hữu, song các ngân hàng có xu hướng điều tiết linh hoạt.

Khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động ngày càng nới rộng, lên 2,8 triệu tỷ đồng cuối quý II/2026, cao hơn so với mức 2,6 triệu tỷ đồng cuối quý I/2026 và 2,1 triệu tỷ đồng cuối năm 2025, theo dữ liệu của VDSC.

Trong khi đó, tiền gửi chịu áp lực cạnh tranh từ nhiều kênh đầu tư khác, buộc các ngân hàng tăng tốc cuộc đua hút vốn. Như vậy, cuộc đua lãi suất huy động nửa cuối năm 2026 khó có dấu hiệu hạ nhiệt.

Tiền gửi nhích hơn 800 nghìn tỷ đồng giữa cuộc đua lãi suất, lộ diện ngân hàng hút vốn mạnh nhất
Khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động nới rộng lên 2,8 triệu tỷ đồng cuối quý II/2026. Ảnh minh họa.

Trao đổi tại Hội nghị Nhà đầu tư MB vừa diễn ra, Tổng Giám đốc MB Phạm Như Ánh cho rằng, thanh khoản vẫn là yếu tố đáng lo trong 6 tháng cuối năm, còn các yếu tố khác thì ngân hàng đều có thể kiểm soát được. Nếu thanh khoản được cải thiện và thuận lợi hơn, kết quả kinh doanh của ngân hàng sẽ rất tích cực.

Giữa bài toán thanh khoản ngày càng nhiều biến số, tiền gửi khách hàng vẫn là “mỏ neo” giữ ổn định cán cân nguồn vốn của các ngân hàng.

Dù vậy, Tổng Giám đốc MB cũng khẳng định, MB không bằng mọi giá tăng lãi suất cao như các ngân hàng khác. Bởi nếu đẩy lãi suất huy động lên khoảng 9%/năm, ngân hàng có thể nhanh chóng tăng trưởng huy động ở mức hai con số, nhưng điều đó sẽ làm chi phí vốn tăng mạnh và phá vỡ mặt bằng thị trường, các ngân hàng khác sẽ “chạy” theo.

“Là một ngân hàng quy mô lớn, phải nhìn trước, nhìn sau, nhìn chính sách của Nhà nước và nhìn vào sự cân bằng của thị trường” - ông Ánh nói và nhấn mạnh thêm, tín dụng tăng đến đâu thì huy động sẽ được cân bằng đến đó, đảm bảo thanh khoản phù hợp.

Còn theo lãnh đạo VPBank, hoạt động huy động vốn chịu rất nhiều áp lực cạnh tranh, khi mặt bằng lãi suất thị trường tiếp tục tăng cao. Vì vậy, VPBank kiểm soát và quản lý bảng cân đối rất chặt chẽ, vừa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng quy mô, vừa đảm bảo các chỉ số quản trị thanh khoản, cũng như cam kết với các đối tác cho vay.

Ông Phùng Duy Khương - Phó Tổng Giám đốc Thường trực VPBank nhận định, 6 tháng cuối năm, yêu cầu về tăng trưởng tiền gửi còn cao hơn, hoạt động huy động vốn sẽ tiếp tục đối mặt với những thách thức lớn, đặc biệt trong bối cảnh phải đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tín dụng 35% của VPBank.

Giữa cuộc đua hút tiền gửi ngày càng nóng nhưng hiệu quả chưa như kỳ vọng, nhiều ngân hàng xoay hướng đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, vay vốn quốc tế... để bổ sung nguồn vốn.

Tính đến cuối tháng 6/2026, quy mô phát hành giấy tờ có giá của 28 ngân hàng niêm yết đạt gần 2,1 triệu tỷ đồng, tăng 13,6% so với cuối năm năm 2025, gấp 2,5 lần tốc độ tăng tiền gửi khách hàng (5,4%) và cũng vượt xa mức tăng tiền gửi, vay các tổ chức tín dụng khác.

Xét về giá trị tuyệt đối, dù tiền gửi khách hàng chỉ tăng 1,7%, tương ứng hơn 38.700 tỷ đồng so với đầu năm, BIDV lại dẫn đầu hệ thống về quy mô phát hành giấy tờ có giá. Cụ thể, giá trị giấy tờ có giá phát hành của ngân hàng tăng thêm 76.324 tỷ đồng, tương ứng 33,9%, lên 301.732 tỷ đồng.

VPBank tăng mạnh nhất nhóm khảo sát, với mức tăng 57,7%, tương ứng 61.823 tỷ đồng, lên 168.944 tỷ đồng.

Ngoài ra, nhiều ngân hàng đa dạng hóa nguồn vốn trung - dài hạn thông qua phát hành chứng chỉ tiền gửi và vay vốn quốc tế, gồm VPBank (1,44 tỷ USD), HDBank (720 triệu USD) và ACB (500 triệu USD), theo thông tin của Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư Công ty cổ phần Chứng khoán SSI./.

Huy động đuối hơn tín dụng 3,3 điểm phần trăm,
lãi suất còn áp lực tăng

Theo nhóm phân tích của VDSC, huy động vẫn là “điểm nghẽn” khi tăng trưởng huy động của các ngân hàng niêm yết chỉ đạt 5% so với đầu năm, thấp hơn 3,3 điểm phần trăm so với tăng trưởng tín dụng. Quy mô huy động thấp hơn khoảng 2,8 triệu tỷ đồng so với tín dụng.

Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của phần lớn ngân hàng duy trì sát ngưỡng 85% và tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn toàn ngành đi ngang ở vùng thấp 20,9% trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục tăng trong quý II/2026. VDSC dự báo, lãi suất nhiều khả năng tăng nhẹ 30 - 50 điểm cơ bản trong nửa cuối năm 2026./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

(TBTCO) - Sáng 8/8, tỷ giá trung tâm tiếp tục lập đỉnh lịch sử mới tại 25.463 đồng, tăng 125 đồng chỉ sau một tuần. Trái chiều, tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng đồng loạt giảm, còn chỉ số DXY lùi về mức thấp nhất 7 tuần còn 99,6 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực sau khi kinh tế Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm trong tháng 7 và Nhật Bản can thiệp hỗ trợ đồng yên.
VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

(TBTCO) - Hành trình tăng trưởng bền bỉ tiếp tục đưa VBI giữ vững Top 3 Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ uy tín năm 2026. Với doanh thu 6 tháng đầu năm gần chạm mốc 3.500 tỷ đồng, VBI không chỉ mở rộng quy mô, mà còn đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển sản phẩm lấy khách hàng làm trung tâm, sẵn sàng đón đầu chu kỳ tăng trưởng mới của thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì đà tăng lên hơn 4.240 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước cũng ghi nhận diễn biến tích cực khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá.
Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

(TBTCO) - Sáng 6/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.433 đồng, tăng thêm 28 đồng và tiếp tục lập đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng và thị trường tự do vẫn diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm 0,19% xuống 99,69 điểm, khi kỳ vọng Mỹ - Iran đạt tiến triển hòa bình và Iran - Oman đạt thỏa thuận về eo biển Hormuz gây áp lực lên đồng USD.
PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

(TBTCO) - 6 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế 165,6 tỷ đồng, hoàn thành hơn 50% kế hoạch năm. Sau quá trình tái cơ cấu danh mục nghiệp vụ, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng trở lại 14%; đồng thời, hoạt động tài chính khởi sắc với lợi nhuận gấp đôi cùng kỳ, nhờ tối ưu danh mục đầu tư gần 4.600 tỷ đồng.
ABBank mở rộng kế hoạch tăng vốn lên sát 27.000 tỷ đồng, gấp đôi quy mô chào bán cổ phiếu

ABBank mở rộng kế hoạch tăng vốn lên sát 27.000 tỷ đồng, gấp đôi quy mô chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - ABBank đang lấy ý kiến cổ đông về phương án tăng vốn điều lệ từ 16.067,8 tỷ đồng lên 26.833,3 tỷ đồng, tăng 67%. Đáng chú ý, ngân hàng đề xuất tăng gấp đôi quy mô chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu lên hơn 8.033 tỷ đồng với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, đồng thời bổ sung phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu theo tỷ lệ 100:12.
PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 đáp ứng nhu cầu bảo toàn tài sản liên thế hệ ngày càng tăng của người Việt

PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 đáp ứng nhu cầu bảo toàn tài sản liên thế hệ ngày càng tăng của người Việt

(TBTCO) - Khi thế hệ tích sản tại Việt Nam bắt đầu đặt câu hỏi không phải “làm sao để có nhiều hơn” mà là “làm sao để những gì mình tạo dựng không bị mất đi”, sản phẩm bảo hiểm liên kết chung PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 (“PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0”) của Prudential Việt Nam là giải pháp được thiết kế để tối đa bảo toàn và trao truyền di sản cho thế hệ kế tiếp, góp phần đồng hành cùng khách hàng trên hành trình gìn giữ những điều quý giá và chuẩn bị cho tương lai dài hạn.
Nợ xấu tăng nhanh, "bộ đệm" dự phòng chịu sức ép

Nợ xấu tăng nhanh, "bộ đệm" dự phòng chịu sức ép

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết đã lần đầu vượt 300.000 tỷ đồng, đạt hơn 312.100 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025, cùng với hơn 1 triệu tỷ đồng nợ "treo" ngoại bảng. Hầu hết các ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng, nhưng "bộ đệm" rủi ro vẫn chịu sức ép trước tốc độ gia tăng của nợ xấu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▲1500K 143,900 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▲1500K 143,900 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▲1500K 143,900 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▲1500K 143,900 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▲1500K 143,900 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▲1500K 143,900 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 ▲180K 14,400 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,100 ▲180K 14,400 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,100 ▲180K 14,400 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 ▲180K 14,400 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 ▲180K 14,400 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 ▲180K 14,400 ▲180K
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,710 ▲180K 14,310 ▲180K
Trang sức 99.99 13,720 ▲180K 14,320 ▲180K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 ▼1251K 14,402 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 ▼1251K 14,403 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 ▲18K 1,435 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 ▲18K 1,436 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 ▲18K 142 ▼1260K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 ▲1782K 140,594 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 ▲1350K 106,661 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 ▼77004K 9,672 ▼85824K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 ▲1098K 86,779 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 ▲1049K 82,944 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 ▼43862K 5,937 ▼52682K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 ▼1251K 144 ▼1278K
Cập nhật: 08/08/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17979 18254 18833
CAD 18254 18530 19155
CHF 31764 32145 32806
CNY 0 3840 3940
EUR 29646 29868 30949
GBP 34531 34923 35875
HKD 0 3208 3411
JPY 159 163 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15128 15714
SGD 19945 20227 20812
THB 707 771 825
USD (1,2) 25932 0 0
USD (5,10,20) 25972 0 0
USD (50,100) 26001 26015 26385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,025 26,025 26,405
USD(1-2-5) 24,984 - -
USD(10-20) 24,984 - -
EUR 29,606 29,630 31,030
JPY 161.01 161.3 171.02
GBP 34,629 34,723 35,920
AUD 18,095 18,160 18,846
CAD 18,344 18,403 19,081
CHF 31,876 31,975 32,925
SGD 20,025 20,087 20,875
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,274 3,284 3,421
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 755.59 764.92 818.68
NZD 15,040 15,180 15,631
SEK - 2,710 2,805
DKK - 3,970 4,111
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,988.34 - 6,759.97
TWD 734.31 - 889.53
SAR - 6,862.69 7,228.44
KWD - 83,056 88,368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,030 26,050 26,430
EUR 29,669 29,788 30,983
GBP 34,668 34,807 35,839
HKD 3,277 3,290 3,407
CHF 31,740 31,867 32,790
JPY 161.47 162.12 169.98
AUD 18,098 18,171 18,769
SGD 20,092 20,173 20,766
THB 772 775 811
CAD 18,382 18,456 19,041
NZD 15,147 15,693
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26400
AUD 18083 18183 19113
CAD 18330 18430 19444
CHF 31913 31943 33533
CNY 3821.3 3846.3 3981.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29739 29769 31494
GBP 34702 34752 36505
HKD 0 3355 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20060 20190 20915
THB 0 737 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Cập nhật: 08/08/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80