Thuế Mục 301 của Hoa Kỳ:

Doanh nghiệp cần chuẩn bị cho một cuộc chơi dài hạn

Thảo Miên
(TBTCO) - Trả lời phỏng vấn Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Trương Quang Dũng - Giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, việc Hoa Kỳ áp dụng thuế nhập khẩu bổ sung theo Mục 301 đối với hàng hóa Việt Nam sẽ không khiến đơn hàng dịch chuyển ngay trong ngắn hạn, nhưng có thể làm thay đổi quyết định đặt hàng mới và gia tăng áp lực cạnh tranh.
aa

PV: Cơ quan Đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) vừa chính thức áp dụng thuế nhập khẩu bổ sung 12,5% cho Việt Nam. Theo ông, điều này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ?

Doanh nghiệp cần chuẩn bị cho một cuộc chơi dài hạn
TS. Trương Quang Dũng

TS. Trương Quang Dũng: Trước hết, cần làm rõ một điểm có thể thay đổi cách hiểu vấn đề. Xét về giá trị tuyệt đối, mức tăng chi phí là không quá lớn. Việc hàng hóa Việt Nam chuyển từ mức thuế quan nền tạm thời 10% sang mức thuế chính thức 12,5% theo chính sách mới có hiệu lực từ tháng 7/2026, đồng nghĩa với việc mức tăng thực tế chỉ là 2,5%. Đồng thời, gần 50% kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ nằm trong danh mục miễn trừ. Do đó, việc ước tính tác động bằng cách lấy toàn bộ kim ngạch một ngành nhân với 12,5% sẽ phóng đại đáng kể mức thiệt hại.

Tuy nhiên, vấn đề cạnh tranh nằm ở vị thế tương đối. Trong các ngành thâm dụng lao động (ví dụ dệt may), nơi Việt Nam gặp cạnh tranh gay gắt nhất, hầu hết đối thủ trực tiếp đều thuộc nhóm chịu mức thuế 10%: Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Sri Lanka, Pakistan và Malaysia. Như vậy, khoảng cách 2,5% không phải là khoảng cách chung, mà tập trung đúng vào nơi biên lợi nhuận của chúng ta mỏng nhất. Doanh nghiệp may mặc hoạt động với biên lợi nhuận khoảng 3% - 10%, trong khi thị trường Hoa Kỳ chiếm 40 đến 50% kim ngạch. Với cấu trúc đó, 2,5% trong chi phí đến cảng là con số đáng kể.

Tuy nhiên, có hai yếu tố ổn định. Thứ nhất, danh mục miễn trừ (Danh mục Annex A) đã được duy trì gần như nguyên vẹn qua ba cơ chế thuế liên tiếp, cho thấy quan điểm của Hoa Kỳ về phạm vi đã tương đối ổn định. Thứ hai, việc thay thế nguồn cung diễn ra chậm. Năng lực dệt may và da giày phân khúc trung cấp của Việt Nam, xét về quy mô, hồ sơ tuân thủ và khả năng giao hàng đúng hạn, không dễ bị thay thế trong ngắn hạn.

Vì vậy, đánh giá của tôi là biện pháp này sẽ không làm dịch chuyển các đơn hàng hiện hữu trong ngắn hạn, nhưng sẽ ảnh hưởng đến quyết định khi người mua đặt đơn hàng mới. Sự suy giảm đó sẽ diễn ra chậm hơn, khó quan sát, và chính vì thế nguy hiểm hơn một cú sốc thấy được.

PV: Ngoài tác động về chi phí, Mục 301 còn có chu kỳ rà soát kéo dài 4 năm. Rủi ro pháp lý và sự thiếu chắc chắn về chính sách sẽ ảnh hưởng như thế nào đến kế hoạch sản xuất, đầu tư và chiến lược thị trường của doanh nghiệp Việt Nam, thưa ông?

TS. Trương Quang Dũng: Cần hiểu rằng Mục 301 không vận hành theo chu kỳ rà soát 4 năm như một đợt đàm phán lại định kỳ. Theo 19 US Code 2417, biện pháp tự động chấm dứt khi hết 4 năm, trừ khi bên khởi kiện hoặc đại diện ngành sản xuất trong nước hưởng lợi đề nghị tiếp tục, khi đó USTR sẽ rà soát hiệu quả và tác động kinh tế của biện pháp trước khi quyết định . Như vậy về mặt pháp lý, mặc định là hết hiệu lực; nhưng trên thực tế, mặc định là được gia hạn. Doanh nghiệp nên lập kế hoạch trên giả định biện pháp này còn tồn tại sau năm 2030.

Tuy nhiên, yếu tố khó xác định thực tế còn lớn hơn ở hai khía cạnh. Thứ nhất, luật không quy định mức trần. Khác với Mục 122 vốn giới hạn thuế ở 15% trong tối đa 150 ngày, Mục 301 không có mức trần và không có thời điểm hết hiệu lực cố định. Biện pháp tồn tại cho đến khi USTR sửa đổi hoặc chấm dứt.

Thứ hai, và nghiêm trọng hơn, đây chỉ là 1 trong 3 tuyến điều tra Mục 301 liên quan Việt Nam. Cuộc điều tra về dư thừa năng lực sản xuất mang tính cơ cấu đối với 16 nền kinh tế, trong đó có Việt Nam, khởi xướng ngày 11/3 và chưa công bố kết luận. Cuộc điều tra riêng về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam khởi xướng ngày 29/5. Mỗi cuộc điều tra có thể phát sinh thuế một cách độc lập và các mức thuế có thể cộng dồn.

Hệ quả đối với chuỗi cung ứng là doanh nghiệp buộc phải ra quyết định dài hạn trong một môi trường chính sách ngắn hạn. Điều này tác động lớn lên kế hoạch sản xuất. Cụ thể, doanh nghiệp khó cam kết dài hạn năng lực cho một khách hàng, có thể xuất hiện xu hướng rút ngắn kỳ hoạch định và giữ nhiều đơn hàng ngắn hạn hơn, chấp nhận hiệu suất thấp hơn để đổi lấy khả năng điều chỉnh.

Doanh nghiệp cần chuẩn bị cho một cuộc chơi dài hạn
Sản xuất tại Nhà máy may mặc Thái An, Hải Phòng. Ảnh: An Thư

PV: Để giảm thiểu tác động tiêu cực từ chính sách thuế mới của Hoa Kỳ, theo ông, doanh nghiệp xuất khẩu cần ưu tiên những giải pháp nào?

TS. Trương Quang Dũng: Theo tôi, trước hết, doanh nghiệp cần đo lường mức độ “phơi nhiễm”. Thuế áp theo danh mục 10 chữ số HTSUS với một danh mục miễn trừ lớn. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp hiện không rõ mức độ áp dụng cho doanh nghiệp của mình. Họ chỉ biết ở cấp ngành, và điều đó không có tác dụng trong việc ra quyết định. Nhiệm vụ trước mắt là xây dựng ma trận sản phẩm, xuất xứ và tình trạng miễn trừ. Khi chưa có ma trận đó, mọi quyết định tiếp theo đều là phỏng đoán.

Thứ hai, xác minh xuất xứ, và đừng coi xuất xứ là một đòn bẩy. Biện pháp này áp theo nước xuất xứ, nên việc xác định xuất xứ quyết định trực tiếp nghĩa vụ thuế và phải được xác minh chứ không phải mặc định. Cũng cần lưu ý hồ sơ điều tra đã nêu đích danh bông thô và polysilicon là hai chuỗi cung ứng nhạy cảm, dễ phát sinh hành vi lẩn tránh. Thay đổi xuất xứ thực chất đòi hỏi chuyển đổi cơ bản, tức dịch chuyển công đoạn chế biến thực, và đó là quyết định đầu tư nhiều năm chứ không phải thao tác hồ sơ.

Thứ ba, xem truy xuất nguồn gốc là hạ tầng dùng chung, không phải chi phí tuân thủ. Bản đồ nhà cung cấp nhiều lớp, chuỗi hành trình sản phẩm ở cấp đơn hàng và khai báo xuất xứ nguyên liệu không chỉ là năng lực cần thiết để đáp ứng các quy định của Hoa Kỳ, mà còn là sự chuẩn bị cần thiết cho các quy định thẩm định chuỗi cung ứng (ví dụ EUDR) đang hình thành tại châu Âu. Xây một lần thì dùng được cho nhiều thị trường, và đó là nền tảng cho mọi đề nghị loại trừ sau này.

PV: Ở góc độ chính sách, Chính phủ cần có những giải pháp gì để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp ứng phó với mức thuế mới, thưa ông?

TS. Trương Quang Dũng: Tôi cho rằng các nhóm giải pháp này vận hành trên những nhịp thời gian khác nhau và không nên đánh đổi cho nhau. Trình tự quan trọng hơn thứ hạng.

Trước mắt, cần thu hẹp khoảng cách pháp lý đã dẫn tới việc bị xếp vào nhóm bị áp thuế 12,5%. Bậc thuế trong biện pháp này được xác định bởi một tiêu chí duy nhất, đó là nền kinh tế có ban hành và thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức hay không. Bằng chứng cho thấy điều này có thể khắc phục được. 5 nền kinh tế đã chuyển từ mức thuế 12,5% xuống 10% trong quá trình điều tra: Honduras, Ấn Độ, Sri Lanka và Trinidad and Tobago nhờ ban hành lệnh cấm nhập khẩu, và Jordan nhờ cam kết trong hiệp định thương mại đối ứng.

Trong ngắn hạn, Việt Nam cần đàm phán một Hiệp định Thương mại Đối ứng với Hoa Kỳ. Đây là công cụ mà nhiều nền kinh tế đã dùng để có mức thuế thấp hơn, và trong 4 trường hợp là quyền tiếp cận hạn ngạch dệt may. Trong ASEAN, Malaysia, Campuchia và Indonesia đã đạt được thỏa thuận. Việt Nam thì chưa. Khuôn khổ song phương công bố tháng 10/2025 vẫn chưa được hoàn tất.

Trong trung - dài hạn, cần tập trung vào công nghiệp hỗ trợ và thể chế. Cơ chế hạn ngạch dệt may gắn quyền tiếp cận ưu đãi với xuất xứ của nguyên liệu đầu vào, cụ thể là bông và hàng dệt may Hoa Kỳ. Dù đánh giá thế nào về thiết kế đó, nó phát tín hiệu rằng xuất xứ đầu vào, chứ không chỉ khâu lắp ráp cuối, là yếu tố quyết định trong vấn đề thuế quan trong bối cảnh mới. Do đó, phát triển năng lực sản xuất trong nước và truy xuất nguồn gốc không còn chỉ là để nâng cấp công nghiệp, mà còn để phòng vệ thương mại.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thảo Miên

Đọc thêm

Mở đường cho REITs từ những tài sản tạo dòng tiền bền vững

Mở đường cho REITs từ những tài sản tạo dòng tiền bền vững

(TBTCO) - Quỹ đầu tư bất động sản (REITs) được kỳ vọng mở thêm kênh dẫn vốn trung và dài hạn, đồng thời thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch hơn. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Phạm Thị Miền - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Bất động sản Việt Nam cho rằng, để REITs thực sự phát triển, điều quan trọng không chỉ nằm ở hoàn thiện hành lang pháp lý mà còn phải hình thành được nguồn tài sản đạt chuẩn, có dòng tiền ổn định và cơ chế định giá, quản trị minh bạch.
Cơ hội cho Việt Nam hút dòng vốn quốc tế dài hạn

Cơ hội cho Việt Nam hút dòng vốn quốc tế dài hạn

(TBTCO) - "Việc chính thức gia nhập bộ chỉ số thị trường mới nổi của FTSE Russell từ ngày 21/9 mở ra cơ hội để thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp cận sâu rộng hơn với các nhà đầu tư toàn cầu, thu hút dòng vốn quốc tế dài hạn và nâng cao vị thế trên thị trường vốn quốc tế” - Đây là khẳng định của ông Kojima Kazunobu- Tư vấn của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam, chuyên gia từ Viện nghiên cứu của Tập đoàn Daiwa khi trả lời phỏng vấn của báo Tài chính - Đầu tư xung quanh sự kiện này.
Chất lượng tài sản trở thành “chìa khóa” hút vốn bất động sản

Chất lượng tài sản trở thành “chìa khóa” hút vốn bất động sản

(TBTCO) - Thị trường bất động sản đang bước vào giai đoạn phục hồi theo hướng chọn lọc, khi dòng vốn ngày càng ưu tiên những tài sản có pháp lý hoàn chỉnh, khả năng tạo dòng tiền và chất lượng vận hành tốt. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Lê Dung - Trưởng Bộ phận Tư vấn Đầu tư, Savills Hà Nội cho rằng, để nâng cao khả năng tiếp cận vốn, doanh nghiệp cần chú trọng cấu trúc vốn, minh bạch quản trị và tích hợp ESG ngay từ quá trình phát triển tài sản.
Quản trị công ty phải trở thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Quản trị công ty phải trở thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

(TBTCO) - Khi thị trường chứng khoán Việt Nam bước vào giai đoạn mới sau nâng hạng, chất lượng quản trị công ty ngày càng được các nhà đầu tư, đặc biệt là các quỹ đầu tư quốc tế quan tâm. Trao đổi với phóng viên, bà Hà Thu Thanh - Chủ tịch Viện Thành viên Hội đồng quản trị Việt Nam (VIOD) cho rằng, doanh nghiệp cần thay đổi nhận thức, coi quản trị công ty là một năng lực cạnh tranh thay vì chỉ là hệ thống để đáp ứng yêu cầu tuân thủ.
Giám sát hiệu quả là nền tảng củng cố niềm tin sau nâng hạng

Giám sát hiệu quả là nền tảng củng cố niềm tin sau nâng hạng

(TBTCO) - Theo ông Vũ Duy Khánh - Giám đốc Trung tâm Phân tích, Công ty Chứng khoán Smart Invest (AAS), thị trường sau nâng hạng đòi hỏi năng lực giám sát tương xứng với quy mô và mức độ phức tạp của giao dịch. Minh bạch thông tin và chất lượng vận hành cũng cần tiếp tục được nâng cao.
Nguyên nhân nào dẫn đến số lượng lớn người nộp thuế ở trạng thái 03, 06?

Nguyên nhân nào dẫn đến số lượng lớn người nộp thuế ở trạng thái 03, 06?

(TBTCO) - Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03) và không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh (trạng thái 06)? Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Huy - Phó ban Nghiệp vụ (Cục Thuế) để làm rõ vấn đề này.
Mở dư địa thu hút dòng vốn chất lượng cao từ Pháp

Mở dư địa thu hút dòng vốn chất lượng cao từ Pháp

(TBTCO) - Với thế mạnh về hạ tầng, năng lượng và dịch vụ kỹ thuật cao, doanh nghiệp Pháp có nhiều dư địa mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Theo TS. Bùi Duy Tùng - Giảng viên cấp cao ngành Kinh tế, Đại học RMIT, hoàn thiện thể chế, phát triển nhân lực và tiến trình phê chuẩn EVIPA sẽ là những yếu tố quan trọng củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Doanh nghiệp muốn khỏe thì phải nâng cao năng lực nội sinh

Doanh nghiệp muốn khỏe thì phải nâng cao năng lực nội sinh

(TBTCO) - TS. Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội (HANOISME) nhấn mạnh, chính sách giảm thuế, phí thời gian qua đã giúp doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ tăng cơ hội phục hồi và phát triển.
Xem thêm