"Ông lớn" ngân hàng đầu tiên vén màn lợi nhuận năm 2024

Ánh Tuyết
Agribank vừa báo lãi trước thuế "về đích" trước hạn với mức tăng trên 8% trong năm 2024, huy động vốn vượt 2 triệu tỷ đồng. Các "ông lớn" ngân hàng quốc doanh khác cũng cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu, với kết quả kinh doanh đầy khả quan.
aa

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) vừa công bố sơ bộ kết quả kinh doanh năm 2024. Năm 2024, kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank đạt cao nhất sau 4 năm triển khai phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025.

Nhiều chỉ tiêu của Agribank "về đích" trước hạn

Quy mô và hiệu quả hoạt động của Agribank tiếp tục tăng trưởng bền vững, giữ vững vai trò, vị thế ngân hàng thương mại nhà nước hàng đầu Việt Nam và đóng góp quan trọng phát triển kinh tế - xã hội đất nước, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đại diện Agribank cũng cho biết, ngân hàng hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giao.

Cụ thể, tính đến ngày 31/12/2024, vốn chủ sở hữu của Agribank đạt 126.000 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ đạt 51.600 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế của Agribank năm 2024 tăng trên 8%. Trước đó, trong năm 2023, Agribank đạt lợi nhuận trước thuế riêng lẻ đạt 25.525 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế hợp nhất là 25.859 tỷ đồng.

Các chỉ tiêu về tổng tài sản, huy động vốn đều cao hơn con số được báo cáo tại hội nghị toàn ngành ngân hàng vừa qua. Cụ thể, tổng tài sản của Agribank đạt trên 2,2 triệu tỷ đồng, tăng 200.000 tỷ đồng, tương ứng tăng 10%; huy động vốn vượt 2 triệu tỷ đồng, tăng hơn 140.000 tỷ đồng (tăng 7,5%); dư nợ tín dụng đạt trên 1,72 triệu tỷ đồng, tăng trên 170.000 tỷ đồng (tăng 11%).

Trong năm 2024, Agribank cũng triển khai đa dạng các chương trình tín dụng đặc thù, ưu đãi lãi suất phù hợp với từng đối tượng khách hàng mục tiêu với quy mô trên 457.000 tỷ đồng, lãi suất thấp hơn từ 2-3%/năm so với lãi suất cho vay thông thường.

Đồng thời, tiếp tục triển khai có hiệu quả 7 chương trình tín dụng chính sách, 2 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững; triển khai chương trình tín dụng ưu đãi cho vay lâm, thủy sản, Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP của Chính phủ…

Huy động vốn của Agribank vượt 2 triệu tỷ đồng, tăng hơn 140.000 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 7,5% năm 2024. Ảnh TL

Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 1,56% nhờ nhà băng ban hành kế hoạch, tập trung triển khai có hiệu quả phương án cơ cấu lại Agribank gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025 đã được NHNN phê duyệt.

Cùng với đó, Agribank cũng tập trung thực hiện các giải pháp trọng tâm về nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng năng lực tài chính, cơ cấu lại tài sản nợ - tài sản có; xử lý, thu hồi nợ xấu; cơ cấu, sắp xếp mạng lưới hoạt động; đảm bảo tiến độ thực hiện của phương án cơ cấu lại.

"Trong đó, 4 chỉ tiêu chủ yếu: tăng trưởng nguồn vốn, dư nợ, thu nợ đã xử lý rủi ro, tăng trưởng lợi nhuận trước thuế đã "về đích" trước hạn" - đại diện Agribank cho biết.

Kết quả kinh doanh đầy khả quan

Cùng với Agribank, ba "ông lớn" ngân hàng quốc doanh khác cũng cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch được giao, với kết quả đầy khả quan cả năm 2024.

Dự kiến kết thúc năm 2024, BIDV hoàn thành toàn diện, đồng bộ các mục tiêu, chỉ tiêu của NHNN và đại hội cổ đông giao. Vốn tín dụng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN. Theo đó, quy mô tổng tài sản BIDV sẽ vượt mốc 2,6 triệu tỷ đồng; dư nợ tín dụng đạt gần 2 triệu tỷ đồng, tăng trưởng khoảng 14%. Vốn tín dụng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN.

Đại diện Vietinbank cũng cho biết, tính đến hết tháng 11/2024, tổng tài sản của ngân hàng ước đạt hơn 2,3 triệu tỷ đồng, tăng 14,7% so với năm 2023. Trong đó, tín dụng tăng trưởng 14,2% so với năm 2023 (đến ngày 10/12 tăng 14,8%); nguồn vốn huy động đạt gần 1,7 triệu tỷ đồng, tăng 11,3% so với cuối năm 2023. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 1,1%; đồng thời, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục duy trì ở mức cao.

"Ông lớn" ngân hàng đầu tiên vén màn lợi nhuận năm 2024. Ảnh TL

Còn Vietcombank cũng cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch do NHNN và đại hội đồng cổ đông giao. Dự kiến đến cuối năm 2024, tăng trưởng tín dụng của Vietcombank ở mức 13% đạt quy mô trên 1,4 triệu tỷ đồng, tổng tài sản đạt gần 2 triệu tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 1%. Trong năm 2024, Vietcombank triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ nền kinh tế, khơi thông nguồn vốn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh…

Trong báo cáo phân tích mới công bố, Công ty Cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho rằng động lực chính cho sự cải thiện lợi nhuận toàn thị trường năm 2024 đến từ một số nhóm ngành, trong đó có ngành ngân hàng khi ước tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Với kỳ vọng biên lãi ròng (NIM) sẽ không tăng trong quý IV/2024 do lãi suất cho vay giảm và chi phí huy động vốn (COF) cao hơn kết hợp với sự phục hồi yếu của thu nhập ngoài lãi (NoII), nhóm phân tích từ MBS ước tính tăng trưởng lợi nhuận ròng của các ngân hàng trong danh sách theo dõi quý cuối cùng của năm 2024 sẽ không vượt quá 16%./.

Kỳ vọng sự phục hồi thu nhập ngoài lãi giúp tăng tốc lợi nhuận ngân hàng

Theo MBS, nền tảng vĩ mô vững chắc, thể chế cải cách và chính sách tiền tệ thuận lợi sẽ lan tỏa đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp và giúp lợi nhuận ngành ngân hàng năm 2025 - 2026 dự báo tăng trưởng lần lượt 20% và 24% so với cùng kỳ.

Sự phục hồi của thu nhập ngoài lãi (NoII) sẽ là điểm khác biệt chính thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận tăng tốc, trong khi đó, thu nhập lãi thuần (NII) là nguồn thu nhập chiếm tỷ trọng cao nhất của các ngân hàng thương mại, vẫn duy trì mức tăng trưởng tương đương 2024. Sự tăng trưởng của thu nhập ngoài lãi sẽ được thúc đẩy bởi sự phục hồi mạnh mẽ hơn của thu nhập từ phí dịch vụ sau khi tăng trưởng tín dụng bán lẻ cao hơn và tiếp tục tăng cường các nỗ lực thu hồi nợ. MBS cho rằng một số ngân hàng như HDBank, VIB, Techcombank và OCB vốn bị ảnh hưởng nặng hơn về tăng trưởng NoII do thu nhập từ phí và bán lẻ thấp vào năm 2024, dự kiến ​​sẽ chứng kiến ​​sự phục hồi mạnh mẽ hơn về tăng trưởng NoII vào năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,700 ▼900K 143,200 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 139,700 ▼900K 143,200 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 139,700 ▼900K 143,200 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 139,700 ▼900K 143,200 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 139,700 ▼900K 143,200 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,700 ▼900K 143,200 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,030 ▼100K 14,330 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,030 ▼100K 14,330 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,030 ▼100K 14,330 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,000 ▼120K 14,400 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,000 ▼120K 14,400 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,000 ▼120K 14,400 ▼70K
NL 99.99 13,400 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼100K
Trang sức 99.9 13,710 ▼70K 14,310 ▼70K
Trang sức 99.99 13,720 ▼70K 14,320 ▼70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,403 ▼10K 14,332 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,403 ▼10K 14,333 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,398 ▼10K 1,428 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,398 ▼10K 1,429 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,368 ▼10K 1,413 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,901 ▼990K 139,901 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,336 ▼750K 106,136 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,444 ▼680K 96,244 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,552 ▼610K 86,352 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,736 ▼583K 82,536 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,278 ▼417K 59,078 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Cập nhật: 14/08/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17961 18236 18812
CAD 18289 18565 19185
CHF 31499 31879 32535
CNY 0 3830 3940
EUR 29575 29796 30880
GBP 34559 34951 35889
HKD 0 3200 3403
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15065 15655
SGD 19899 20181 20753
THB 704 767 820
USD (1,2) 25878 0 0
USD (5,10,20) 25918 0 0
USD (50,100) 25946 25980 26350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,562 29,586 30,985
JPY 159.47 159.76 169.42
GBP 34,638 34,732 35,931
AUD 18,119 18,184 18,877
CAD 18,443 18,502 19,184
CHF 31,692 31,791 32,730
SGD 19,988 20,050 20,834
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 16.97 17.7 19.27
THB 750.33 759.6 813.27
NZD 14,993 15,132 15,585
SEK - 2,691 2,786
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,711 2,806
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,976.7 - 6,745.55
TWD 736.75 - 892.53
SAR - 6,838.18 7,203.01
KWD - 82,726 88,021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,530 29,649 30,841
GBP 34,573 34,712 35,743
HKD 3,255 3,268 3,385
CHF 31,499 31,625 32,544
JPY 159.61 160.25 168.19
AUD 18,064 18,137 18,733
SGD 20,017 20,097 20,691
THB 766 769 805
CAD 18,392 18,466 19,055
NZD 15,030 15,574
KRW 17.60 19.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26320
AUD 18139 18239 19164
CAD 18468 18568 19582
CHF 31745 31775 33356
CNY 3817.3 3842.3 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29750 29780 31502
GBP 34849 34899 36652
HKD 0 3355 0
JPY 160.77 161.27 171.78
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15165 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20055 20185 20906
THB 0 733.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14030000 14030000 14330000
SBJ 12500000 12500000 14330000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,923 25,973 26,270
USD20 25,873 25,973 26,789
USD1 25,823 25,973 26,839
AUD 18,137 18,237 19,343
EUR 29,467 29,567 31,225
CAD 18,362 18,462 19,769
SGD 20,088 20,238 20,794
JPY 160.83 162.33 167.87
GBP 34,620 34,770 35,848
XAU 14,028,000 0 14,332,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/08/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80