Áp lực tỷ giá và bài toán hấp thụ vốn của nền kinh tế

Thu Hương
(TBTCO) - Áp lực tỷ giá, lạm phát và thanh khoản đang thu hẹp dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ. Trong khi đó, bài toán lớn của nền kinh tế hiện nay không chỉ là nguồn vốn, mà còn là khả năng hấp thụ vốn hiệu quả.
aa

Áp lực vĩ mô vẫn hiện hữu

Mặc dù tăng trưởng tín dụng đang được thúc đẩy nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ vẫn chịu nhiều ràng buộc từ áp lực tỷ giá, lạm phát và thanh khoản hệ thống. Các chuyên gia nhận định, thách thức hiện nay không chỉ nằm ở việc cung ứng vốn, mà còn ở khả năng hấp thụ và luân chuyển dòng vốn trong nền kinh tế.

Chia sẻ tại Hội thảo Vietnam Investment Forum - Summer Summit, ông Nguyễn Xuân Thành - giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, một trong những vấn đề đáng chú ý hiện nay là tốc độ lưu chuyển tiền trong nền kinh tế đang chậm lại.

Số liệu mới được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố cho thấy, tỷ trọng tiền mặt ngoài hệ thống ngân hàng đã tăng từ khoảng 9% lên 11% tổng phương tiện thanh toán, tương đương tăng thêm khoảng 13 tỷ USD. Điều này phản ánh xu hướng nắm giữ tiền mặt của người dân và tổ chức gia tăng, có thể xuất phát từ tâm lý bất ổn hoặc những lo ngại liên quan đến chính sách và hoạt động giao dịch.

Áp lực tỷ giá và bài toán hấp thụ vốn của nền kinh tế
Các chuyên gia trao đổi tại Hội thảo Vietnam Investment Forum - Summer Summit.

Bên cạnh đó, tiến độ chi ngân sách đầu năm còn chậm trong khi nguồn thu vẫn duy trì ở mức cao, khiến lượng tiền tồn trong Kho bạc Nhà nước lớn hơn bình thường. Một phần nguồn lực này đang được chuyển sang hệ thống ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ thanh khoản.

Cấu trúc tiền gửi cũng có sự thay đổi đáng chú ý. Nếu trước đây tiền gửi của tổ chức và cá nhân tương đối cân bằng, thì hiện nay tiền gửi cá nhân đã cao hơn khoảng 10% so với tiền gửi tổ chức. Theo ông Thành, điều này phản ánh việc nhiều doanh nghiệp không còn duy trì lượng tiền gửi không kỳ hạn lớn như trước, đồng thời cho thấy khó khăn về thanh khoản của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

“Khi cung tiền tăng chậm hơn tín dụng, hệ số dư nợ trên vốn huy động (LDR) tại nhiều ngân hàng đã vượt 100%, kéo mặt bằng lãi suất lên cao và thu hẹp khả năng giảm lãi suất. Để duy trì sự ổn định của đồng Việt Nam, lãi suất tiền gửi vẫn cần ở mức đủ hấp dẫn nhằm giữ dòng tiền trong hệ thống ngân hàng” - ông Nguyễn Xuân Thành phân tích.

Trong bối cảnh đó, nhà điều hành đang phải cân bằng giữa mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô. Trong 5 tháng đầu năm, tín dụng tăng 5,72%, trong khi tổng cung tiền ước tính chỉ tăng khoảng 2,5 - 2,6%. NHNN đang kiểm soát chặt nguồn cung tiền nhằm hạn chế áp lực lên tỷ giá, nhất là khi dư địa sử dụng dự trữ ngoại hối để hỗ trợ thị trường không còn nhiều.

Ông Thành cũng lưu ý, trong thời gian tới, có thể phải chấp nhận mức điều chỉnh nhất định của tỷ giá để giảm bớt áp lực lên chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, dư địa nới lỏng vẫn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố bên ngoài như giá dầu, giá vàng và diễn biến kinh tế quốc tế. Giá dầu tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, trong khi biến động của giá vàng cũng tác động trực tiếp đến thị trường ngoại hối và tỷ giá trong nước.

Ngoài ra, ông Thành nhấn mạnh, yếu tố quan trọng nhất hiện nay vẫn là lạm phát. Trong bối cảnh mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức 4,5% đang đối mặt với nhiều thách thức, việc duy trì mục tiêu này đồng nghĩa với việc chính sách tiền tệ khó có thể nới lỏng mạnh. Khi đó, mặt bằng lãi suất có thể tiếp tục chịu áp lực trong thời gian tới.

Nâng sức hấp thụ vốn của nền kinh tế

Trong khi bài toán điều hành chính sách tiền tệ hiện nay là cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng, lạm phát và ổn định tỷ giá, nhiều ý kiến cho rằng, thách thức lớn hơn nằm ở khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Ở góc độ thị trường, ông Nguyễn Duy Linh - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) đánh giá, việc NHNN duy trì được sự ổn định của tỷ giá trong những tháng đầu năm là kết quả tích cực. Tháng 5 là giai đoạn ổn định nhất của tỷ giá kể từ đầu năm, góp phần củng cố tâm lý nhà đầu tư trong bối cảnh thị trường vẫn đối mặt với nhiều rủi ro từ lãi suất và lạm phát toàn cầu.

Tuy nhiên, theo ông Linh, vấn đề lớn hơn hiện nay không nằm ở việc thiếu vốn, mà là khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Dù tỷ lệ tín dụng trên GDP đã ở mức 140 - 150%, dòng tiền trong hệ thống vẫn lưu chuyển chậm và tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 5 chỉ ở mức khoảng 6%.

Bên cạnh đó, ông Linh chỉ ra rằng, hiệu quả luân chuyển dòng tiền trong nền kinh tế vẫn chưa cao, thể hiện không chỉ ở tăng trưởng tín dụng chậm, mà còn ở tiến độ giải ngân và sử dụng các nguồn lực tài chính. Trong 5 tháng đầu năm, thu ngân sách đạt khoảng 53% kế hoạch, tương đương 1,3 triệu tỷ đồng, trong khi chi ngân sách mới đạt khoảng 22% dự toán.

Đại diện SHS nhận định, môi trường kinh doanh vẫn tiềm ẩn nhiều biến số từ thương mại và kinh tế toàn cầu. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp duy trì tâm lý thận trọng trong hoạt động đầu tư và mở rộng sản xuất.

Để cải thiện khả năng hấp thụ vốn và hỗ trợ tăng trưởng, ông Linh đề xuất triển khai đồng bộ các giải pháp, gồm đẩy mạnh đầu tư công, tháo gỡ các vướng mắc pháp lý và phát triển thị trường vốn theo hướng đồng bộ, qua đó giúp dòng tiền lưu thông hiệu quả hơn trong nền kinh tế./.

Thu Hương

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/6): Đồng USD mạnh nhất hai tháng, Nhật Bản trước ngưỡng phải can thiệp tỷ giá

Tỷ giá USD hôm nay (8/6): Đồng USD mạnh nhất hai tháng, Nhật Bản trước ngưỡng phải can thiệp tỷ giá

(TBTCO) - Sáng ngày 8/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.150 đồng, tăng 3 đồng; trong khi tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.400 - 26.420 VND/USD, tăng 40 đồng chiều mua và 30 đồng chiều bán. Chỉ số DXY lên 100,07 điểm, mức cao nhất trong hai tháng; tỷ giá USD/JPY đạt 160,33, vượt ngưỡng từng khiến Nhật Bản nhiều lần phải can thiệp.
Tỷ giá USD hôm nay (6/6): Tỷ giá trung tâm tăng 4 tuần, DXY vượt 100 điểm khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/6): Tỷ giá trung tâm tăng 4 tuần, DXY vượt 100 điểm khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 6/6, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.147 đồng, tăng 9 đồng trong tuần, đánh dấu tuần tăng thứ 4 liên tiếp. Chỉ số DXY kết tuần tại 100,06 điểm, tăng 0,65% và lên mức cao nhất gần 2 tháng, sau khi dữ liệu việc làm Mỹ vượt kỳ vọng, qua đó, củng cố khả năng Fed có thể tăng 0,25 điểm phần trăm lãi suất vào tháng 12.
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 1 - 5/6 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm áp sát 11%, doanh số vay mượn "nóng" vượt 1 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước nhanh chóng kích hoạt nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ trị giá 1 tỷ USD, bơm mạnh hỗ trợ thanh khoản. Khi áp lực hạ nhiệt, cơ quan điều hành quay lại hút ròng 26.372,11 tỷ đồng, trong bối cảnh tỷ giá vẫn tương đối ổn định.
Tỷ giá USD hôm nay (5/6): Tỷ giá trung tâm nhích lên 25.147 đồng, DXY duy trì vùng đỉnh 2 tháng

Tỷ giá USD hôm nay (5/6): Tỷ giá trung tâm nhích lên 25.147 đồng, DXY duy trì vùng đỉnh 2 tháng

(TBTCO) - Sáng ngày 5/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.147 đồng/USD, tăng 2 đồng phiên cuối tuần. Giá USD tự do phổ biến quanh 26.380 - 26.410 VND/USD, tương đương mức giao dịch tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY tăng 0,02% lên 99,43 điểm, duy trì gần mức cao 02 tháng, nhờ nhu cầu trú ẩn an toàn trước căng thẳng Mỹ - Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (4/6): Tỷ giá USD bán ra chạm trần, đồng Yên suy yếu chạm ngưỡng 160 JPY/USD

Tỷ giá USD hôm nay (4/6): Tỷ giá USD bán ra chạm trần, đồng Yên suy yếu chạm ngưỡng 160 JPY/USD

(TBTCO) - Sáng ngày 4/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.145 đồng, giữ nguyên so với phiên trước, trong khi giá USD bán ra tại các ngân hàng chạm trần 26.402 đồng. Chỉ số DXY duy trì ở mức 99,43 điểm khi nhu cầu nắm giữ USD tăng lên do căng thẳng Mỹ - Iran leo thang, trong khi đồng Yên Nhật suy yếu chạm ngưỡng 160 JPY/USD.
Tỷ giá USD hôm nay (3/6): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, DXY nhích nhẹ giữa bất định đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (3/6): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, DXY nhích nhẹ giữa bất định đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 3/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.145 đồng, tăng 4 đồng so với phiên trước, USD tự do bật tăng quanh mức 26.380 - 26.410 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 99,23 điểm, tăng nhẹ 0,01% khi căng thẳng Mỹ - Iran leo thang trở lại, làm gia tăng lo ngại về triển vọng duy trì lệnh ngừng bắn và đàm phán hòa bình.
Tỷ giá USD hôm nay (2/6): USD nhích nhẹ giữa lo ngại căng thẳng tại eo biển Hormuz và Bab el-Mandeb

Tỷ giá USD hôm nay (2/6): USD nhích nhẹ giữa lo ngại căng thẳng tại eo biển Hormuz và Bab el-Mandeb

(TBTCO) - Sáng ngày 2/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.141 đồng, tăng 3 đồng, trong khi chỉ số DXY tăng nhẹ lên 99,21 điểm. Thị trường tài chính toàn cầu tiếp tục theo dõi sát diễn biến địa chính trị tại Trung Đông, đặc biệt là nguy cơ Iran và các đồng minh phong tỏa eo biển Hormuz, mở rộng căng thẳng sang eo biển Bab el-Mandeb.
VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
Kim TT/AVPL 13,340 ▼90K 13,840 ▲10K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,340 ▼90K 13,840 ▲10K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼250K 13,300 ▼250K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼250K 13,250 ▼250K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,250 ▼150K 13,650 ▼150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,200 ▼150K 13,600 ▼150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,130 ▼150K 13,580 ▼150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,400 ▼400K 138,400 ▼400K
Hà Nội - PNJ 133,400 ▼400K 138,400 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 133,400 ▼400K 138,400 ▼400K
Miền Tây - PNJ 133,400 ▼400K 138,400 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 133,400 ▼400K 138,400 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,400 ▼400K 138,400 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,340 ▲10K 13,840 ▲10K
NL 99.90 12,700 ▼350K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,750 ▼350K
Trang sức 99.9 13,030 ▲10K 13,730 ▲10K
Trang sức 99.99 13,040 ▲10K 13,740 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,334 ▲1K 13,842 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,334 ▲1K 13,843 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,333 ▲1K 1,383 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,333 ▲1K 1,384 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,313 ▲1K 1,368 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,446 ▲99K 135,446 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,326 ▼83859K 10,276 ▼92409K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,683 ▲68K 93,183 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,106 ▲61K 83,606 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,412 ▲58K 79,912 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,701 ▲42935K 57,201 ▲51485K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,334 ▲1K 1,384 ▲1K
Cập nhật: 11/06/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17875 18149 18734
CAD 18298 18574 19194
CHF 32271 32654 33299
CNY 0 3843 3936
EUR 29723 29945 31028
GBP 34365 34757 35695
HKD 0 3228 3431
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14912 15499
SGD 19890 20172 20749
THB 714 777 831
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26143 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,924 29,948 31,258
JPY 159.73 160.02 169.03
GBP 34,637 34,731 35,800
AUD 18,128 18,193 18,814
CAD 18,549 18,609 19,220
CHF 32,601 32,702 33,540
SGD 20,053 20,115 20,830
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,297 3,307 3,432
KRW 15.89 16.57 17.96
THB 763.12 772.54 823.9
NZD 14,936 15,075 15,464
SEK - 2,728 2,813
DKK - 4,004 4,128
NOK - 2,735 2,821
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,055.3 - 6,809.28
TWD 751.01 - 906.27
SAR - 6,905.29 7,245.31
KWD - 83,526 88,526
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,831 29,951 31,138
GBP 34,583 34,722 35,739
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,397 32,527 33,436
JPY 159.87 160.51 168.31
AUD 18,080 18,153 18,743
SGD 20,097 20,178 20,761
THB 780 783 817
CAD 18,548 18,622 19,188
NZD 15,021 15,557
KRW 16.55 18.14
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26154 26154 26410
AUD 18072 18172 19098
CAD 18483 18583 19597
CHF 32514 32544 34135
CNY 3823.9 3848.9 3984.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29916 29946 31671
GBP 34681 34731 36502
HKD 0 3355 0
JPY 160.49 160.99 171.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15026 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20052 20182 20913
THB 0 743.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13340000 13340000 13840000
SBJ 10500000 10500000 13840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,138 18,238 19,350
EUR 30,099 30,099 31,520
CAD 18,481 18,581 19,895
SGD 20,141 20,291 20,859
JPY 160.97 162.47 170.5
GBP 34,626 34,976 35,853
XAU 13,378,000 0 13,882,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/06/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80