Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê của TBTCVN cho thấy, năm 2024 có đến 24/27 ngân hàng niêm yết tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng hai chữ số, có ngân hàng tăng gần 30% và dòng vốn tiếp tục được rót vào các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế. Năm 2025, tăng trưởng tín dụng có thể cao hơn chỉ tiêu đề ra (16%) nếu kiểm soát được lạm phát và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cho phép.
aa
Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến cuối năm 2024, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ở mức 15,08%, tương ứng ngành Ngân hàng cung ứng thêm vào nền kinh tế khoảng 2,1 triệu tỷ đồng, với tổng dư nợ là 15,5 triệu tỷ đồng. Doanh số cho vay năm 2024 là 23 triệu tỷ đồng, doanh số thu nợ là 21 triệu tỷ đồng. Trong đó, động lực tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng chủ yếu đến từ các ngân hàng niêm yết. Nhóm các "ông lớn" quốc doanh giữ vững các vị trí đầu bảng, chiếm 51% dư nợ cho vay toàn ngành và bỏ xa nhóm ngân hàng tư nhân.

Nhu cầu vay vốn tăng trưởng tích cực

Thống kê của TBTCVN từ 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính năm 2024 cho thấy, dư nợ cho vay khách hàng tăng 18%, đạt 11,85 triệu tỷ đồng.

Tăng trưởng tín dụng có thể cao hơn 16%

Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Trong điều hành hạn mức tín dụng, chúng tôi đặt ra 16% nhưng cũng có thể cao hơn, nếu kiểm soát được lạm phát, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cho phép để đạt mục tiêu tăng trưởng. Phương thức điều hành quản lý hạn mức này trong năm 2025 tiếp tục đổi mới và tạo sự thuận lợi, chủ động cho các ngân hàng thương mại. Nếu cho vay tích cực, đúng đối tượng sẽ phát huy được nguồn vốn... Ông Đào Minh Tú Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Cụ thể, BIDV tiếp tục dẫn đầu về cho vay khách hàng với quy mô 2,056 triệu tỷ đồng, tăng 15,7% cùng kỳ, đây cũng là ngân hàng đầu tiên và duy nhất vượt mốc dư nợ cho vay khách hàng 2 triệu tỷ đồng. Xét về cơ cấu ngành nghề, năm 2024, BIDV cho vay hơn 600 nghìn tỷ đồng trong lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy, tăng trưởng 8,9% cùng kỳ, chiếm tỷ trọng lớn 29,3% dư nợ cho vay của ngân hàng. Bên cạnh đó, cho vay công nghiệp chế biến, chế tạo hơn 100 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% với tỷ trọng 15,5%. Lĩnh vực ghi nhận tốc độ tăng trưởng dư nợ lớn nhất là nông, lâm, thuỷ sản tăng 20%, với dư nợ 77,8 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,78%.

Tiếp đến, VietinBank với số dư hơn 1,7 triệu tỷ đồng, tăng 248,7 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2023, tương ứng tăng 16,9% - mức tăng trưởng cho vay khách hàng cao nhất trong nhóm Big 4.

Agribank hiện chưa niêm yết trên sàn, song theo số liệu ngân hàng công bố, dư nợ cho vay năm 2024 đạt trên 1,72 triệu tỷ đồng, tăng 11% và đứng vị trí thứ ba toàn ngành. Xếp thứ tư là Vietcombank có tổng dư nợ cho vay đạt 1,445 triệu tỷ đồng, tăng 14,1%.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân, MB và VPBank là hai ngân hàng có quy mô cho vay khách hàng đứng top đầu, lần lượt đạt gần 777 nghìn tỷ đồng và 693 nghìn tỷ đồng, tăng cao 27,1% và 22,4% so với cuối năm trước.

Với ngân hàng dẫn đầu nhóm tư nhân, MB cho vay lớn nhất lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ, lên tới 223 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 28,7% tổng dư nợ và tốc độ tăng trưởng khả quan 34,7%. Một số lĩnh vực là động lực tăng trưởng của nền kinh tế cũng tăng trưởng mạnh như: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26% với dư nợ 124 nghìn tỷ đồng; cho vay lĩnh vực sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tiêu dùng của hộ gia đình 186 nghìn tỷ đồng, tăng 11% cùng kỳ.

Động lực cho tăng trưởng tín dụng năm 2025

Về tốc độ tăng trưởng, theo thống kê của TBTCVN, có đến 24/27 ngân hàng tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng cao hai con số. Trong top 10, xét về tốc độ tăng trưởng, một số ngân hàng tư nhân ghi nhận mức tăng trưởng cho vay mạnh phải kể đến như: HDBank (tăng 28,9%); MB (tăng 27,1%); VPBank (tăng 22,36%).

Ngoài ra, một số nhà băng quy mô nhỏ và vừa cũng tăng cao như: NCB (tăng 28,6%), TPBank (tăng 21,96%), VIB (tăng 21,65%)... Tuy nhiên, sự tăng trưởng này cũng tạo ra không ít thách thức cho các ngân hàng này trong việc kiểm soát chất lượng tín dụng, quản lý rủi ro để duy trì sự ổn định, hiệu quả và đảm bảo chất lượng tài sản trong bối cảnh tín dụng mở rộng nhanh chóng.

Trong khi đó, một số ngân hàng tăng trưởng đuối hơn so với mặt bằng chung toàn ngành như: Ngân hàng An Bình tăng không đáng kể 0,64%; SaiGonBank tăng 9,35%; Bắc Á Bank tăng 9,71%...

Như vậy, năm 2024, dòng vốn tín dụng tiếp tục được nhà điều hành và các ngân hàng thương mại hướng vào các hoạt động kinh tế thực, các lĩnh vực được coi là động lực tăng trưởng kinh tế và các lĩnh vực ưu tiên.

Đánh giá về tăng trưởng tín dụng năm 2025, nhóm nghiên cứu từ Công ty Cổ phần Chứng khoán Vietcap dự báo, tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức cao và được thúc đẩy bởi động lực tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, môi trường lãi suất thấp được duy trì và tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống đạt 13,4%, phù hợp với dự phóng tăng trưởng tín dụng. Nhu cầu tín dụng dự kiến đến từ các mảng cho vay doanh nghiệp tiếp tục ở mức cao, đồng thời kỳ vọng mảng cho vay bán lẻ, bao gồm cho vay mua nhà sẽ phục hồi.

Nhìn nhận về mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP, chia sẻ với báo giới gần đây, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho biết, năm 2024, GDP tăng trưởng 7,09% thì tín dụng tăng trưởng 15,08%; năm 2023, GDP tăng trưởng gần 7% thì tăng trưởng tín dụng ở mức 14,55%. "Trung bình hơn 2% tăng trưởng tín dụng sẽ giúp tăng trưởng 1% tăng trưởng GDP" - Phó Thống đốc đánh giá.

Đảm bảo cung ứng vốn, duy trì lãi suất thấp

Theo lãnh đạo NHNN, với mục tiêu tăng trưởng GDP trên 8% hướng đến 10% trong năm 2025 là con số rất ấn tượng mà Chính phủ đặt ra, thể hiện sự cố gắng, quyết tâm để phát triển nền kinh tế và làm tiền đề cho giai đoạn sau. Năm nay, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8%. Nếu tăng trưởng kinh tế đến 10% thì tăng trưởng tín dụng phải ở mức 18 - 20%, đây là nhiệm vụ rất nặng nề.

"Vấn đề làm sao phải có đủ vốn phục vụ tăng trưởng cho nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh các kênh huy động vốn trung, dài hạn như chứng khoán, trái phiếu vẫn còn những vấn đề cần củng cố. Vì vậy, trách nhiệm sẽ đặt nặng cho chính sách tiền tệ, tín dụng trong năm 2025" - Phó Thống đốc bày tỏ.

Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 8% năm 2025, Phó Thống đốc NHNN nhấn mạnh, quan điểm điều hành chính sách tiền tệ của NHNN là phải kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền để hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng, đảm bảo những cân đối lớn của nền kinh tế. Điều hành tỷ giá trên thị trường ngoại tệ linh hoạt, phù hợp để tiếp tục hóa giải những tác động của thế giới, nhằm duy trì một thị trường ngoại tệ ổn định.

Với quan điểm, mục tiêu đó cùng với những kinh nghiệm, bài học trước đây, điều hành chính sách tiền tệ năm nay tiếp tục linh hoạt, chặt chẽ và phù hợp với chính sách tài khóa cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách xuất nhập khẩu, chính sách thương mại… Ngành Ngân hàng sẽ đảm bảo nguồn vốn cho nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh vốn huy động, vốn nhàn rỗi cho nền kinh tế từ doanh nghiệp, người dân và có chính sách lãi suất hợp lý để huy động vốn.

"NHNN chỉ đạo các ngân hàng thương mại tiếp tục giảm lãi suất bằng cách tiết kiệm chi phí, ứng dụng công nghệ giảm chi phí, hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp và người dân" - Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú nêu rõ.

NHNN tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù đối với một số ngành, lĩnh vực theo chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (25/9): USD mạnh lên khi “cửa” Fed tăng lãi suất rộng hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ lên đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (25/9): USD mạnh lên khi “cửa” Fed tăng lãi suất rộng hơn, lợi suất trái phiếu Mỹ lên đỉnh

(TBTCO) - Sáng 25/9, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng, lên 25.641 đồng, trong khi USD trên thị trường tự do và ngân hàng diễn biến phân hóa. Chỉ số DXY nhích 0,13% lên 101,25 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ khi kỳ vọng Fed nâng lãi suất gia tăng, trong bối cảnh quan chức Fed phát tín hiệu cứng rắn và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng mạnh.
Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

VPBankS cho rằng, áp lực thanh khoản ngắn hạn đã bớt căng hơn. Tuy nhiên, huy động vốn tăng 7,97% vẫn thấp hơn tốc độ tín dụng, dư địa giảm sâu lãi suất là không lớn, chi phí vốn toàn ngành khó quay lại vùng thấp của giai đoạn 2024 - 2025.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17676 17949 18530
CAD 17835 18109 18725
CHF 30695 31071 31731
CNY 0 3828 3924
EUR 28917 29136 30212
GBP 33523 33911 34854
HKD 0 3182 3384
JPY 157 160 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14370 14960
SGD 19768 20050 20627
THB 692 755 809
USD (1,2) 25723 0 0
USD (5,10,20) 25762 0 0
USD (50,100) 25790 25804 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26160
AUD 17871 17971 18896
CAD 18010 18110 19124
CHF 30921 30951 32537
CNY 3809.4 3834.4 3969.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29084 29114 30837
GBP 33814 33864 35635
HKD 0 3315 0
JPY 160.54 161.04 171.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14483 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19925 20055 20778
THB 0 721.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,815 26,500
USD20 25,665 25,815 26,500
USD1 25,645 25,815 26,500
AUD 17,921 18,021 19,134
EUR 28,908 29,008 30,678
CAD 17,968 18,068 19,384
SGD 20,010 20,160 20,724
JPY 160.73 162.23 167.83
GBP 33,737 33,887 34,967
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 757 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/09/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30