Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê của TBTCVN cho thấy, năm 2024 có đến 24/27 ngân hàng niêm yết tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng hai chữ số, có ngân hàng tăng gần 30% và dòng vốn tiếp tục được rót vào các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế. Năm 2025, tăng trưởng tín dụng có thể cao hơn chỉ tiêu đề ra (16%) nếu kiểm soát được lạm phát và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cho phép.
aa
Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến cuối năm 2024, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ở mức 15,08%, tương ứng ngành Ngân hàng cung ứng thêm vào nền kinh tế khoảng 2,1 triệu tỷ đồng, với tổng dư nợ là 15,5 triệu tỷ đồng. Doanh số cho vay năm 2024 là 23 triệu tỷ đồng, doanh số thu nợ là 21 triệu tỷ đồng. Trong đó, động lực tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng chủ yếu đến từ các ngân hàng niêm yết. Nhóm các "ông lớn" quốc doanh giữ vững các vị trí đầu bảng, chiếm 51% dư nợ cho vay toàn ngành và bỏ xa nhóm ngân hàng tư nhân.

Nhu cầu vay vốn tăng trưởng tích cực

Thống kê của TBTCVN từ 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính năm 2024 cho thấy, dư nợ cho vay khách hàng tăng 18%, đạt 11,85 triệu tỷ đồng.

Tăng trưởng tín dụng có thể cao hơn 16%

Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Trong điều hành hạn mức tín dụng, chúng tôi đặt ra 16% nhưng cũng có thể cao hơn, nếu kiểm soát được lạm phát, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cho phép để đạt mục tiêu tăng trưởng. Phương thức điều hành quản lý hạn mức này trong năm 2025 tiếp tục đổi mới và tạo sự thuận lợi, chủ động cho các ngân hàng thương mại. Nếu cho vay tích cực, đúng đối tượng sẽ phát huy được nguồn vốn... Ông Đào Minh Tú Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Cụ thể, BIDV tiếp tục dẫn đầu về cho vay khách hàng với quy mô 2,056 triệu tỷ đồng, tăng 15,7% cùng kỳ, đây cũng là ngân hàng đầu tiên và duy nhất vượt mốc dư nợ cho vay khách hàng 2 triệu tỷ đồng. Xét về cơ cấu ngành nghề, năm 2024, BIDV cho vay hơn 600 nghìn tỷ đồng trong lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy, tăng trưởng 8,9% cùng kỳ, chiếm tỷ trọng lớn 29,3% dư nợ cho vay của ngân hàng. Bên cạnh đó, cho vay công nghiệp chế biến, chế tạo hơn 100 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% với tỷ trọng 15,5%. Lĩnh vực ghi nhận tốc độ tăng trưởng dư nợ lớn nhất là nông, lâm, thuỷ sản tăng 20%, với dư nợ 77,8 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,78%.

Tiếp đến, VietinBank với số dư hơn 1,7 triệu tỷ đồng, tăng 248,7 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2023, tương ứng tăng 16,9% - mức tăng trưởng cho vay khách hàng cao nhất trong nhóm Big 4.

Agribank hiện chưa niêm yết trên sàn, song theo số liệu ngân hàng công bố, dư nợ cho vay năm 2024 đạt trên 1,72 triệu tỷ đồng, tăng 11% và đứng vị trí thứ ba toàn ngành. Xếp thứ tư là Vietcombank có tổng dư nợ cho vay đạt 1,445 triệu tỷ đồng, tăng 14,1%.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân, MB và VPBank là hai ngân hàng có quy mô cho vay khách hàng đứng top đầu, lần lượt đạt gần 777 nghìn tỷ đồng và 693 nghìn tỷ đồng, tăng cao 27,1% và 22,4% so với cuối năm trước.

Với ngân hàng dẫn đầu nhóm tư nhân, MB cho vay lớn nhất lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ, lên tới 223 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 28,7% tổng dư nợ và tốc độ tăng trưởng khả quan 34,7%. Một số lĩnh vực là động lực tăng trưởng của nền kinh tế cũng tăng trưởng mạnh như: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26% với dư nợ 124 nghìn tỷ đồng; cho vay lĩnh vực sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tiêu dùng của hộ gia đình 186 nghìn tỷ đồng, tăng 11% cùng kỳ.

Động lực cho tăng trưởng tín dụng năm 2025

Về tốc độ tăng trưởng, theo thống kê của TBTCVN, có đến 24/27 ngân hàng tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng cao hai con số. Trong top 10, xét về tốc độ tăng trưởng, một số ngân hàng tư nhân ghi nhận mức tăng trưởng cho vay mạnh phải kể đến như: HDBank (tăng 28,9%); MB (tăng 27,1%); VPBank (tăng 22,36%).

Ngoài ra, một số nhà băng quy mô nhỏ và vừa cũng tăng cao như: NCB (tăng 28,6%), TPBank (tăng 21,96%), VIB (tăng 21,65%)... Tuy nhiên, sự tăng trưởng này cũng tạo ra không ít thách thức cho các ngân hàng này trong việc kiểm soát chất lượng tín dụng, quản lý rủi ro để duy trì sự ổn định, hiệu quả và đảm bảo chất lượng tài sản trong bối cảnh tín dụng mở rộng nhanh chóng.

Trong khi đó, một số ngân hàng tăng trưởng đuối hơn so với mặt bằng chung toàn ngành như: Ngân hàng An Bình tăng không đáng kể 0,64%; SaiGonBank tăng 9,35%; Bắc Á Bank tăng 9,71%...

Như vậy, năm 2024, dòng vốn tín dụng tiếp tục được nhà điều hành và các ngân hàng thương mại hướng vào các hoạt động kinh tế thực, các lĩnh vực được coi là động lực tăng trưởng kinh tế và các lĩnh vực ưu tiên.

Đánh giá về tăng trưởng tín dụng năm 2025, nhóm nghiên cứu từ Công ty Cổ phần Chứng khoán Vietcap dự báo, tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức cao và được thúc đẩy bởi động lực tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, môi trường lãi suất thấp được duy trì và tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống đạt 13,4%, phù hợp với dự phóng tăng trưởng tín dụng. Nhu cầu tín dụng dự kiến đến từ các mảng cho vay doanh nghiệp tiếp tục ở mức cao, đồng thời kỳ vọng mảng cho vay bán lẻ, bao gồm cho vay mua nhà sẽ phục hồi.

Nhìn nhận về mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP, chia sẻ với báo giới gần đây, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho biết, năm 2024, GDP tăng trưởng 7,09% thì tín dụng tăng trưởng 15,08%; năm 2023, GDP tăng trưởng gần 7% thì tăng trưởng tín dụng ở mức 14,55%. "Trung bình hơn 2% tăng trưởng tín dụng sẽ giúp tăng trưởng 1% tăng trưởng GDP" - Phó Thống đốc đánh giá.

Đảm bảo cung ứng vốn, duy trì lãi suất thấp

Theo lãnh đạo NHNN, với mục tiêu tăng trưởng GDP trên 8% hướng đến 10% trong năm 2025 là con số rất ấn tượng mà Chính phủ đặt ra, thể hiện sự cố gắng, quyết tâm để phát triển nền kinh tế và làm tiền đề cho giai đoạn sau. Năm nay, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8%. Nếu tăng trưởng kinh tế đến 10% thì tăng trưởng tín dụng phải ở mức 18 - 20%, đây là nhiệm vụ rất nặng nề.

"Vấn đề làm sao phải có đủ vốn phục vụ tăng trưởng cho nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh các kênh huy động vốn trung, dài hạn như chứng khoán, trái phiếu vẫn còn những vấn đề cần củng cố. Vì vậy, trách nhiệm sẽ đặt nặng cho chính sách tiền tệ, tín dụng trong năm 2025" - Phó Thống đốc bày tỏ.

Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 8% năm 2025, Phó Thống đốc NHNN nhấn mạnh, quan điểm điều hành chính sách tiền tệ của NHNN là phải kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền để hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng, đảm bảo những cân đối lớn của nền kinh tế. Điều hành tỷ giá trên thị trường ngoại tệ linh hoạt, phù hợp để tiếp tục hóa giải những tác động của thế giới, nhằm duy trì một thị trường ngoại tệ ổn định.

Với quan điểm, mục tiêu đó cùng với những kinh nghiệm, bài học trước đây, điều hành chính sách tiền tệ năm nay tiếp tục linh hoạt, chặt chẽ và phù hợp với chính sách tài khóa cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách xuất nhập khẩu, chính sách thương mại… Ngành Ngân hàng sẽ đảm bảo nguồn vốn cho nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh vốn huy động, vốn nhàn rỗi cho nền kinh tế từ doanh nghiệp, người dân và có chính sách lãi suất hợp lý để huy động vốn.

"NHNN chỉ đạo các ngân hàng thương mại tiếp tục giảm lãi suất bằng cách tiết kiệm chi phí, ứng dụng công nghệ giảm chi phí, hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp và người dân" - Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú nêu rõ.

NHNN tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù đối với một số ngành, lĩnh vực theo chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80