Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê của TBTCVN cho thấy, năm 2024 có đến 24/27 ngân hàng niêm yết tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng hai chữ số, có ngân hàng tăng gần 30% và dòng vốn tiếp tục được rót vào các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế. Năm 2025, tăng trưởng tín dụng có thể cao hơn chỉ tiêu đề ra (16%) nếu kiểm soát được lạm phát và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cho phép.
aa
Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến cuối năm 2024, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ở mức 15,08%, tương ứng ngành Ngân hàng cung ứng thêm vào nền kinh tế khoảng 2,1 triệu tỷ đồng, với tổng dư nợ là 15,5 triệu tỷ đồng. Doanh số cho vay năm 2024 là 23 triệu tỷ đồng, doanh số thu nợ là 21 triệu tỷ đồng. Trong đó, động lực tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng chủ yếu đến từ các ngân hàng niêm yết. Nhóm các "ông lớn" quốc doanh giữ vững các vị trí đầu bảng, chiếm 51% dư nợ cho vay toàn ngành và bỏ xa nhóm ngân hàng tư nhân.

Nhu cầu vay vốn tăng trưởng tích cực

Thống kê của TBTCVN từ 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính năm 2024 cho thấy, dư nợ cho vay khách hàng tăng 18%, đạt 11,85 triệu tỷ đồng.

Tăng trưởng tín dụng có thể cao hơn 16%

Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Trong điều hành hạn mức tín dụng, chúng tôi đặt ra 16% nhưng cũng có thể cao hơn, nếu kiểm soát được lạm phát, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cho phép để đạt mục tiêu tăng trưởng. Phương thức điều hành quản lý hạn mức này trong năm 2025 tiếp tục đổi mới và tạo sự thuận lợi, chủ động cho các ngân hàng thương mại. Nếu cho vay tích cực, đúng đối tượng sẽ phát huy được nguồn vốn... Ông Đào Minh Tú Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Cụ thể, BIDV tiếp tục dẫn đầu về cho vay khách hàng với quy mô 2,056 triệu tỷ đồng, tăng 15,7% cùng kỳ, đây cũng là ngân hàng đầu tiên và duy nhất vượt mốc dư nợ cho vay khách hàng 2 triệu tỷ đồng. Xét về cơ cấu ngành nghề, năm 2024, BIDV cho vay hơn 600 nghìn tỷ đồng trong lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy, tăng trưởng 8,9% cùng kỳ, chiếm tỷ trọng lớn 29,3% dư nợ cho vay của ngân hàng. Bên cạnh đó, cho vay công nghiệp chế biến, chế tạo hơn 100 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% với tỷ trọng 15,5%. Lĩnh vực ghi nhận tốc độ tăng trưởng dư nợ lớn nhất là nông, lâm, thuỷ sản tăng 20%, với dư nợ 77,8 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,78%.

Tiếp đến, VietinBank với số dư hơn 1,7 triệu tỷ đồng, tăng 248,7 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2023, tương ứng tăng 16,9% - mức tăng trưởng cho vay khách hàng cao nhất trong nhóm Big 4.

Agribank hiện chưa niêm yết trên sàn, song theo số liệu ngân hàng công bố, dư nợ cho vay năm 2024 đạt trên 1,72 triệu tỷ đồng, tăng 11% và đứng vị trí thứ ba toàn ngành. Xếp thứ tư là Vietcombank có tổng dư nợ cho vay đạt 1,445 triệu tỷ đồng, tăng 14,1%.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân, MB và VPBank là hai ngân hàng có quy mô cho vay khách hàng đứng top đầu, lần lượt đạt gần 777 nghìn tỷ đồng và 693 nghìn tỷ đồng, tăng cao 27,1% và 22,4% so với cuối năm trước.

Với ngân hàng dẫn đầu nhóm tư nhân, MB cho vay lớn nhất lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ, lên tới 223 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 28,7% tổng dư nợ và tốc độ tăng trưởng khả quan 34,7%. Một số lĩnh vực là động lực tăng trưởng của nền kinh tế cũng tăng trưởng mạnh như: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26% với dư nợ 124 nghìn tỷ đồng; cho vay lĩnh vực sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tiêu dùng của hộ gia đình 186 nghìn tỷ đồng, tăng 11% cùng kỳ.

Động lực cho tăng trưởng tín dụng năm 2025

Về tốc độ tăng trưởng, theo thống kê của TBTCVN, có đến 24/27 ngân hàng tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng cao hai con số. Trong top 10, xét về tốc độ tăng trưởng, một số ngân hàng tư nhân ghi nhận mức tăng trưởng cho vay mạnh phải kể đến như: HDBank (tăng 28,9%); MB (tăng 27,1%); VPBank (tăng 22,36%).

Ngoài ra, một số nhà băng quy mô nhỏ và vừa cũng tăng cao như: NCB (tăng 28,6%), TPBank (tăng 21,96%), VIB (tăng 21,65%)... Tuy nhiên, sự tăng trưởng này cũng tạo ra không ít thách thức cho các ngân hàng này trong việc kiểm soát chất lượng tín dụng, quản lý rủi ro để duy trì sự ổn định, hiệu quả và đảm bảo chất lượng tài sản trong bối cảnh tín dụng mở rộng nhanh chóng.

Trong khi đó, một số ngân hàng tăng trưởng đuối hơn so với mặt bằng chung toàn ngành như: Ngân hàng An Bình tăng không đáng kể 0,64%; SaiGonBank tăng 9,35%; Bắc Á Bank tăng 9,71%...

Như vậy, năm 2024, dòng vốn tín dụng tiếp tục được nhà điều hành và các ngân hàng thương mại hướng vào các hoạt động kinh tế thực, các lĩnh vực được coi là động lực tăng trưởng kinh tế và các lĩnh vực ưu tiên.

Đánh giá về tăng trưởng tín dụng năm 2025, nhóm nghiên cứu từ Công ty Cổ phần Chứng khoán Vietcap dự báo, tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức cao và được thúc đẩy bởi động lực tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, môi trường lãi suất thấp được duy trì và tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống đạt 13,4%, phù hợp với dự phóng tăng trưởng tín dụng. Nhu cầu tín dụng dự kiến đến từ các mảng cho vay doanh nghiệp tiếp tục ở mức cao, đồng thời kỳ vọng mảng cho vay bán lẻ, bao gồm cho vay mua nhà sẽ phục hồi.

Nhìn nhận về mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP, chia sẻ với báo giới gần đây, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho biết, năm 2024, GDP tăng trưởng 7,09% thì tín dụng tăng trưởng 15,08%; năm 2023, GDP tăng trưởng gần 7% thì tăng trưởng tín dụng ở mức 14,55%. "Trung bình hơn 2% tăng trưởng tín dụng sẽ giúp tăng trưởng 1% tăng trưởng GDP" - Phó Thống đốc đánh giá.

Đảm bảo cung ứng vốn, duy trì lãi suất thấp

Theo lãnh đạo NHNN, với mục tiêu tăng trưởng GDP trên 8% hướng đến 10% trong năm 2025 là con số rất ấn tượng mà Chính phủ đặt ra, thể hiện sự cố gắng, quyết tâm để phát triển nền kinh tế và làm tiền đề cho giai đoạn sau. Năm nay, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8%. Nếu tăng trưởng kinh tế đến 10% thì tăng trưởng tín dụng phải ở mức 18 - 20%, đây là nhiệm vụ rất nặng nề.

"Vấn đề làm sao phải có đủ vốn phục vụ tăng trưởng cho nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh các kênh huy động vốn trung, dài hạn như chứng khoán, trái phiếu vẫn còn những vấn đề cần củng cố. Vì vậy, trách nhiệm sẽ đặt nặng cho chính sách tiền tệ, tín dụng trong năm 2025" - Phó Thống đốc bày tỏ.

Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP 8% năm 2025, Phó Thống đốc NHNN nhấn mạnh, quan điểm điều hành chính sách tiền tệ của NHNN là phải kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền để hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng, đảm bảo những cân đối lớn của nền kinh tế. Điều hành tỷ giá trên thị trường ngoại tệ linh hoạt, phù hợp để tiếp tục hóa giải những tác động của thế giới, nhằm duy trì một thị trường ngoại tệ ổn định.

Với quan điểm, mục tiêu đó cùng với những kinh nghiệm, bài học trước đây, điều hành chính sách tiền tệ năm nay tiếp tục linh hoạt, chặt chẽ và phù hợp với chính sách tài khóa cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách xuất nhập khẩu, chính sách thương mại… Ngành Ngân hàng sẽ đảm bảo nguồn vốn cho nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh vốn huy động, vốn nhàn rỗi cho nền kinh tế từ doanh nghiệp, người dân và có chính sách lãi suất hợp lý để huy động vốn.

"NHNN chỉ đạo các ngân hàng thương mại tiếp tục giảm lãi suất bằng cách tiết kiệm chi phí, ứng dụng công nghệ giảm chi phí, hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp và người dân" - Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú nêu rõ.

NHNN tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù đối với một số ngành, lĩnh vực theo chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17645 17918 18491
CAD 17972 18247 18862
CHF 31822 32203 32842
CNY 0 3831 3924
EUR 29298 29518 30596
GBP 33930 34320 35253
HKD 0 3227 3429
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14561 15146
SGD 19769 20051 20618
THB 705 768 821
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26143 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80