Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
aa
Chuyên gia Hội đồng Vàng Thế giới chỉ rõ “ẩn số” chi phối giá vàng Sớm thành lập sàn vàng quốc gia để minh bạch thị trường Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường “rung lắc” vì nhà đầu tư lớn bán ra

Số ít bán ra, ngân hàng trung ương vẫn gom 244 tấn vàng quý I/2026

Ngày 8/5, Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) tổ chức họp báo cập nhật tình hình thị trường vàng toàn cầu, trong đó có Việt Nam.

Chia sẻ tại buổi họp báo, ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại WGC cho rằng chỉ rõ, một số ngân hàng trung ương nổi bật mua vào mạnh trong quý I/2026 gồm: ngân hàng trung ương Ba Lan (31 tấn), Uzbekistan (25 tấn) và Trung Quốc (7 tấn). Ngoài ra, khu vực Đông Nam Á cũng ghi nhận hoạt động mua vàng mạnh từ ngân hàng trung ương Malaysia, Campuchia và Indonesia.

Ngân hàng trung ương tiếp tục gom vàng, WGC hiến kế “đánh thức” vàng trong dân
Nguồn: WGC.

Tính chung quý I/2026, các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, con số này vượt cả quý IV/2025 và mức trung bình của 5 năm gần đây, dù có một số tổ chức thuộc khu vực tăng cường bán ra.

“Xét tổng thể, khối ngân hàng trung ương tiếp tục mua vào trong quý I/2026, tiếp nối xu hướng đã diễn ra từ trước và hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi những diễn biến từ cuộc chiến tại Iran. Đặc biệt, giá vàng có sự điều chỉnh trong tháng 3/2026 càng làm tăng động cơ mua vào của khối ngân hàng trung ương trong thời gian tới”.

- Ông Shaokai Fan - Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại WGC.

Chuyên gia WGC chỉ rõ, trong quý I/2026 cũng xuất hiện diễn biến đáng chú ý ở nhóm ngân hàng trung ương, khi Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ, Ngân hàng Trung ương Nga và Quỹ Dầu khí Nhà nước Azerbaijan bán vàng ra thị trường.

Với Thổ Nhĩ Kỳ, việc bán vàng nhằm ổn định đồng nội tệ trước những biến động liên quan đến xung đột Trung Đông và Iran.

Trong khi đó, Nga bán vàng để huy động nguồn lực cho cuộc chiến tại Ukraine.

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng
Ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại WGC chia sẻ nhiều thông tin về tình hình thị trường vàng toàn cầu.

Nhìn chung, hoạt động bán vàng của các ngân hàng trung ương hiện vẫn mang tính cục bộ và hạn chế, chủ yếu xuất hiện ở một vài trường hợp như Thổ Nhĩ Kỳ hay Nga. Trong khi đó, phần lớn ngân hàng trung ương trên thế giới vẫn tiếp tục mua vào, cho thấy xu hướng chung của khối này chưa thay đổi.

Về xu hướng thời gian tới, ông Shaokai Fan cho rằng, khối ngân hàng trung ương được dự báo vẫn duy trì vai trò bên mua ròng, dù quy mô có thể không mạnh như giai đoạn trước, mà chủ yếu tương đương năm 2025.

Năm 2025, các ngân hàng trung ương đã mua ròng khoảng 800 tấn vàng. Hội đồng Vàng Thế giới cũng sắp công bố kết quả khảo sát đối với các ngân hàng trung ương, qua đó, cho thấy rõ hơn quan điểm và định hướng của nhóm này đối với vàng trong thời gian tới.

Nhiều quốc gia cho phép ngân hàng tham gia sâu vào thị trường vàng

Giữa tháng 4/2026, Ngân hàng Nhà nước cho biết đã nhận được 11 hồ sơ đề nghị cấp giấy phép sản xuất vàng miếng từ các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại, tăng thêm 2 đơn vị so với cuối năm 2025.

Theo quy định, để được cấp phép sản xuất vàng miếng, doanh nghiệp phải có vốn điều lệ tối thiểu 1.000 tỷ đồng, trong khi ngân hàng thương mại cần đạt từ 50.000 tỷ đồng trở lên. Với yêu cầu vốn khá cao, số lượng đơn vị đáp ứng điều kiện không nhiều.

Ở nhóm doanh nghiệp, hiện có các tên tuổi lớn như PNJ, DOJI và SJC đủ tiêu chuẩn. Trong khi đó, phía ngân hàng ghi nhận ngày càng nhiều tổ chức vượt ngưỡng vốn điều lệ 50.000 tỷ đồng, gồm 9 ngân hàng như: Vietcombank, MB, VPBank, VietinBank, BIDV, Techcombank, ACB, Agribank và mới nhất là HDBank.

Dẫn chứng kinh nghiệm quốc tế, chuyên gia WGC cho biết, Tại Đông Nam Á, một số ngân hàng cũng ngày càng tham gia sâu hơn vào thị trường vàng. Chẳng hạn, Indonesia đã cho phép một số ngân hàng cung cấp các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng cho khách hàng từ khoảng 2 năm trước. Tương tự, nhiều ngân hàng lớn tại Singapore cũng đã triển khai như một dịch vụ tài chính cho khách hàng.

“Khi có nhiều chủ thể tham gia, thị trường cũng sẽ trở nên lành mạnh hơn. Việt Nam xem xét, cân nhắc các khả năng này, đây cũng một điểm thú vị và phù hợp, đặc biệt trong bối cảnh Chính phủ đang muốn huy động vàng trong dân. Việc thu hút sự tham gia của các ngân hàng cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính có liên quan đến vàng là hướng đi phù hợp” - ông Shaokai Fan nhận định./.

Kinh nghiệm quốc tế huy động vàng trong dân

Liên quan đến đề xuất huy động vàng trong dân, theo ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại WGC, đây là vấn đề nhiều quốc gia cũng từng gặp phải với lượng vàng "gối đầu giường”, tức vàng được người dân tích trữ trong thời gian dài. Nhiều nước đã tìm cách huy động nguồn lực này để phục vụ phát triển kinh tế và WGC cũng ủng hộ hướng đi đó.

Tuy nhiên, để vàng được luân chuyển và sử dụng trong nền kinh tế thay vì chỉ cất giữ, điều kiện tiên quyết là vàng phải được chấp nhận trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính. Điều này đòi hỏi những thay đổi về cơ chế và quy định để vàng được công nhận trong hệ thống tài chính. Đơn cử, tại Thổ Nhĩ Kỳ, vàng đã được hệ thống ngân hàng chấp nhận như tài sản bảo đảm để vay vốn. Nhờ đó, vàng dần chuyển từ vai trò tài sản tích trữ sang tài sản có tính luân chuyển và tham gia trực tiếp vào nền kinh tế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
Tỷ giá USD hôm nay (9/10): USD ngân hàng giảm mạnh, Fed để ngỏ khả năng tạm dừng tăng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (9/10): USD ngân hàng giảm mạnh, Fed để ngỏ khả năng tạm dừng tăng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 9/10, Ngân hàng Nhà nước giảm tỷ giá trung tâm 5 đồng, xuống 25.629 đồng/USD, trong khi USD tại các ngân hàng giảm mạnh tới 80 đồng, còn chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 102,11 điểm. Thống đốc Fed Christopher Waller để ngỏ khả năng tạm dừng tăng lãi suất trong tháng 10, dù vẫn cho rằng có thể cần tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

(TBTCO) - Từ nay đến hết tháng 12/2026, khách hàng tham gia Bảo hiểm Vật chất xe ô tô tại Tập đoàn Bảo hiểm DBV được tặng 1 năm gói Promy - Dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường do DBV phối hợp cùng Allianz Partners triển khai, giúp khách hàng có thêm một lớp bảo vệ, từ tư vấn kỹ thuật đến hỗ trợ trực tiếp khi phương tiện gặp sự cố trên hành trình.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,020 ▲150K 14,400 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,020 ▲150K 14,400 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,020 ▲150K 14,400 ▲130K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,680 ▲130K 14,280 ▲130K
Trang sức 99.99 13,690 ▲130K 14,290 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 ▲1278K 14,482 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 ▲1278K 14,483 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 ▲18K 1,443 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 ▲18K 1,444 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 ▲1251K 1,433 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 ▲1782K 141,881 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 ▲1350K 107,636 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 ▲79146K 97,604 ▲87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 ▲1098K 87,572 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 ▲1049K 83,702 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 ▲751K 59,912 ▲751K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cập nhật: 09/10/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17523 17796 18374
CAD 17656 17930 18549
CHF 30514 30890 31540
CNY 0 3822 3918
EUR 28421 28638 29721
GBP 33455 33842 34780
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14210 14800
SGD 19671 19952 20522
THB 687 750 803
USD (1,2) 25605 0 0
USD (5,10,20) 25643 0 0
USD (50,100) 25671 25685 26055
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,665 25,665 26,045
USD(1-2-5) 24,639 - -
USD(10-20) 24,639 - -
EUR 28,451 28,474 29,826
JPY 158.9 159.19 168.83
GBP 33,594 33,685 34,864
AUD 17,712 17,776 18,452
CAD 17,841 17,898 18,561
CHF 30,709 30,804 31,726
SGD 19,782 19,844 20,623
CNY - 3,786 3,931
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.77 18.53 20.16
THB 735.14 744.22 796.91
NZD 14,202 14,334 14,761
SEK - 2,552 2,643
DKK - 3,816 3,952
NOK - 2,656 2,752
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.39 - 6,671.07
TWD 731.07 - 885.79
SAR - 6,768.12 7,130.46
KWD - 81,641 86,880
AED - 6,784 7,311
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,620 25,650 26,030
EUR 28,405 28,548 29,772
GBP 33,565 33,734 34,763
HKD 3,222 3,238 3,355
CHF 30,566 30,720 31,667
JPY 159.10 160.22 168.18
AUD 17,683 17,772 18,368
SGD 19,824 19,924 20,518
THB 750 754 791
CAD 17,834 17,924 18,520
NZD 14,270 14,825
KRW 18.59 20.57
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25660 26040
AUD 17703 17803 18725
CAD 17837 17937 18953
CHF 30707 30737 32322
CNY 3800.7 3825.7 3960.7
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28579 28609 30331
GBP 33715 33765 35536
HKD 0 3315 0
JPY 159.96 160.46 170.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14321 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19823 19953 20675
THB 0 715.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,553 25,673 25,960
USD20 25,523 25,673 25,960
USD1 25,503 25,673 25,960
AUD 17,731 17,831 18,945
EUR 28,359 28,459 30,138
CAD 17,780 17,880 19,196
SGD 19,898 20,048 20,614
JPY 160.48 161.98 167.6
GBP 33,614 33,764 34,846
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,709 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/10/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30