Chuyên gia Hội đồng Vàng Thế giới chỉ rõ “ẩn số” chi phối giá vàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chuyên gia Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) chỉ rõ 3 nhóm yếu tố then chốt tác động đến triển vọng giá vàng thời gian tới, gồm biến động lãi suất, diễn biến đồng USD và căng thẳng địa chính trị cùng bất ổn chính sách; đồng thời nhấn mạnh 2 điểm khác biệt quan trọng giữa nhịp điều chỉnh hiện nay và cú sập giá vàng từng xảy ra năm 2012.
aa
Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá Nhu cầu đầu tư vàng toàn cầu vượt 5.000 tấn, Việt Nam ngược dòng vì “nút thắt” nguồn cung Giá vàng và bạc giảm mạnh sau đợt tăng kỷ lục: Có nên đầu tư vào lúc này?

Ngày 2/2, tại buổi họp báo trực tuyến về thị trường vàng, chuyên gia WGC đã cập nhật bức tranh toàn cảnh những diễn biến mới nhất của thị trường vàng toàn cầu, bao gồm xu hướng biến động giá, dòng vốn, tác động của chính sách tiền tệ và các yếu tố địa chính trị; đồng thời phân tích các động lực chi phối giá vàng, triển vọng trong thời gian tới và những rủi ro mà nhà đầu tư cần theo dõi.

Vàng từng sập sâu năm 2012, liệu lịch sử có lặp lại?

Chia sẻ tại buổi họp báo, ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại WGC cho rằng, dòng tiền vào vàng hiện nay phản ánh tính chiến lược, ở cả góc độ đầu tư ngắn hạn và dài hạn, khi vừa mang tính phản ứng trước những biến động tức thời của thị trường, vừa thể hiện một xu hướng đầu tư mang tính chiến lược dài hạn.

Điều này xuất phát từ thực tế là các nhà đầu tư cảm nhận rõ thế giới ngày càng biến động, từ đó, dẫn tới sự dịch chuyển chiến lược và tái phân bổ danh mục đầu tư, trong đó, vàng được chú trọng hơn với vai trò là một nhân tố cân bằng và ổn định.

"Yếu tố thứ hai là tính chất đầu cơ trong đầu tư vàng, làm cho giá vàng biến động" - ông Shaokai Fan nêu rõ.

Chuyên gia Hội đồng Vàng Thế giới chỉ rõ “ẩn số” chi phối giá vàng
Ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại WGC. Ảnh tư liệu.

"Quan điểm là nên tập trung vào 3 nhóm yếu tố chính là: biến động lãi suất, diễn biến của đồng USD và những căng thẳng địa chính trị cũng như bất ổn về mặt chính sách".

Ông Shaokai Fan - chuyên gia WGC

Nhấn mạnh nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến giá vàng mà nhà đầu tư cần lưu ý, chuyên gia từ WGC cũng chỉ rõ vai trò ngày càng nổi bật của vàng với tư cách là tài sản trú ẩn, đặc biệt trong bối cảnh rủi ro diễn ra thường xuyên như hiện nay.

Dòng vốn đổ vào ETF vàng cũng có thể được xem là một chỉ báo, tuy nhiên, không nên coi đây là chỉ báo duy nhất để đánh giá xu hướng giá vàng, bởi dữ liệu ETF chỉ phản ánh một phần biến động của dòng tiền và không thể dùng làm căn cứ duy nhất để dự báo xu hướng tiếp theo.

Tại buổi họp báo, ông Shaokai Fan cũng đã chia sẻ về các chu kỳ lên đỉnh, sập giá của vàng trong lịch sử thị trường vàng thế giới.

Theo đó, nếu xét giai đoạn biến động gần đây nhất là quanh năm 2012, có thể thấy trong các năm 2010 - 2011, giá vàng biến động rất mạnh và đạt đỉnh cao vào năm 2012, chủ yếu do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và chính sách nới lỏng định lượng (QE) của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Tuy nhiên, sau năm 2012, giá vàng đã giảm nhanh khi những lo ngại về tác động tiêu cực không trở thành hiện thực như dự đoán ban đầu, khiến các nhà đầu tư không còn động lực nắm giữ vàng và dẫn tới một đợt điều chỉnh mạnh.

"So sánh với đợt biến động hiện nay, có thể thấy hai khác biệt cơ bản" - ông Shaokai Fan đánh giá.

Theo đó, điểm tương đồng là giá vàng vẫn có những chu kỳ lên xuống, nhưng sự khác biệt nằm ở chỗ các yếu tố chi phối lần này vẫn rất mạnh và chưa thể sớm biến mất, bao gồm bất ổn địa chính trị, xu hướng lãi suất tiếp tục đi xuống và những nghi vấn xoay quanh tính độc lập của Fed.

Ngoài ra, cơ sở nhà đầu tư của năm 2026 cũng khác biệt đáng kể so với năm 2012, khi trước đây thị trường chủ yếu bị chi phối bởi các nhà đầu tư phương Tây, còn hiện nay có sự tham gia rộng rãi hơn của nhiều thị trường mới với những động cơ mua vàng khác nhau, khiến mức độ toàn cầu hóa của thị trường vàng tăng lên và tạo ra những đặc điểm rất khác so với giai đoạn trước.

Giá vàng cần những “khoảng lặng” để tăng bền

Nhìn nhận về biến động thị trường vàng vừa qua, theo chuyên gia WGC, một đợt tăng giá dần dần sẽ bền vững hơn so với một đợt tăng đột biến nhanh chóng. "Những đợt điều chỉnh ngắn hạn hoặc các giai đoạn tích lũy sẽ không phải là điều bất thường và nên được xem là những khoảng lặng có ích" - đại diện WGC nhìn nhận.

Mặc dù vàng có vẻ đắt đỏ theo tiêu chuẩn lịch sử, nhưng các yếu tố đằng sau sự gia tăng nhu cầu có khả năng sẽ tiếp tục trong năm nay. Một điều rõ ràng là vàng vẫn sẽ thu hút nhiều sự chú ý trong năm 2026.

Chuyên gia Hội đồng Vàng Thế giới chỉ rõ “ẩn số” chi phối giá vàng
Biểu đồ giá vàng SJC 1 tháng qua. Ảnh tư liệu.

Báo cáo từ WGC cũng cho thấy, kết hợp với đợt tăng giá kỷ lục của vàng, năm 2025, giá vàng thiết lập 53 mức cao kỷ lục mới và tạo ra nhu cầu vàng trong năm đạt giá trị chưa từng có là 555 tỷ USD, tăng 45% so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, lượng vàng nắm giữ của các quỹ hoán đổi danh mục (ETF) vàng toàn cầu đã tăng vọt lên mức cao kỷ lục 4.025 tấn vào năm 2025. Dòng vốn hàng năm đạt mức kỷ lục là 89 tỷ USD.

Trong đó, quý IV/2025 là quý mạnh nhất về đầu tư vàng miếng và vàng xu trong hơn 12 năm qua với 420 tấn, nhu cầu tăng trên 30% so với cùng kỳ năm trước và quý trước. Hoạt động mua vàng miếng và vàng xu ở hầu hết các thị trường ASEAN đã tăng vọt lên mức cao nhất trong nhiều năm, tương ứng với sự gia tăng mạnh mẽ về giá trị đầu tư, song Việt Nam là trường hợp ngoại lệ đáng chú ý trong khu vực ASEAN.

Sự thiếu hụt nguồn cung một phần là do tình trạng khan hiếm vàng miếng SJC đã gây áp lực lên thị trường và đẩy chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế lên mức cao ngất ngưởng hơn 550 USD/ounce.

Trong khi đó, khối lượng nhu cầu vàng trang sức giảm so với cùng kỳ năm trước ở tất cả các thị trường trên toàn cầu. "Khối lượng tiêu thụ vàng trang sức hàng năm giảm xuống mức thấp nhất trong 5 năm qua là 1.542 tấn" - WGC thông tin.

Nhu cầu vàng trang sức tại Việt Nam cũng giảm 29% so với cùng kỳ năm ngoái, từ 3,3 tấn trong quý IV/2024 xuống còn 2,4 tấn trong quý IV/2025./.

Giá vàng thế giới chiều ngày 2/2 tiếp tục trượt sâu, giao dịch quanh 4.640 USD/ounce, thấp hơn khoảng 17% so với đỉnh ngày 29/1. Diễn biến này nhanh chóng lan sang thị trường trong nước, khi vàng miếng và vàng nhẫn SJC đồng loạt giảm mạnh, giá SJC hiện xoay quanh 163 - 166 triệu đồng/lượng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 22/6 tiếp tục bật tăng khá mạnh. Ghi nhận đầu giờ, cả giá vàng miếng và vàng nhẫn ở các cửa hàng kinh doanh vàng đều tăng từ 1,5 - 2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/6: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng giá trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 21/6: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng giá trở lại

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đảo chiều đi lên ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn, đưa mặt bằng giá phổ biến trở lại vùng 143,7 - 147,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/6: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 20/6: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống còn 4.156 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm cao nhất lên tới 5,1 triệu đồng/lượng.
Goldman Sachs hạ dự báo giá vàng thêm 500 USD do Fed không cắt giảm lãi suất

Goldman Sachs hạ dự báo giá vàng thêm 500 USD do Fed không cắt giảm lãi suất

(TBTCO) - Tập đoàn Goldman Sachs đã cắt giảm dự báo giá vàng cuối năm thêm 500 USD/ounce do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) không còn được kỳ vọng sẽ giảm lãi suất trong năm 2026.
Giá vàng hôm nay ngày 19/6: Vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh giảm

Giá vàng hôm nay ngày 19/6: Vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng tiếp tục duy trì phổ biến ở mức 148,8 - 151,3 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp, trong khi vàng nhẫn giảm tại nhiều thương hiệu, có nơi lùi về vùng 145,8 - 149,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/6: Giá vàng quay đầu giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn

Giá vàng hôm nay ngày 18/6: Giá vàng quay đầu giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn, đưa giá vàng miếng về mức 148,8 - 151,3 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn cũng ghi nhận xu hướng đi xuống trên diện rộng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn. Vàng miếng phổ biến ở mức 149 - 151,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn có nơi được niêm yết tới 152 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17617 17890 18465
CAD 17962 18237 18851
CHF 31794 32175 32812
CNY 0 3829 3921
EUR 29265 29486 30560
GBP 33899 34288 35218
HKD 0 3227 3429
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14539 15120
SGD 19755 20037 20613
THB 704 767 820
USD (1,2) 26065 0 0
USD (5,10,20) 26106 0 0
USD (50,100) 26135 26149 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80