Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chỉ số DXY quanh ngưỡng 100 điểm, phản ánh dòng tiền trú ẩn quay lại USD, kéo theo tỷ giá trong nước và thị trường tự do cùng nhích lên. Giá dầu duy trì quanh 100 USD/thùng làm gia tăng rủi ro lạm phát, khiến Fed có thể trì hoãn nới lỏng, qua đó, gây áp lực lên tỷ giá USD/VND. Khả năng tăng lãi suất để ổn định tỷ giá của nhà điều hành cũng được tính đến.
aa

Giá dầu leo thang, kế hoạch nới lỏng của Fed có khả năng bị trì hoãn

Chỉ số USD (DXY) - chỉ số đo lường sức mạnh của đồng USD so với 6 loại tiền tệ khác - phiên sáng ngày 17/3 giao dịch quanh 99,9 điểm, tiệm cận vùng đỉnh cao nhất trong gần 1 năm. Đà tăng mạnh phiên thứ sáu tuần trước ngày 13/3 vượt mốc 100 điểm đã củng cố xu hướng phục hồi, với mức tăng khoảng 4,8% tính từ cuối tháng 1/2026 và cho thấy dòng tiền quay lại USD như một kênh trú ẩn an toàn.

Theo các chuyên gia, động lực chính của đà tăng đồng USD đến từ lo ngại lạm phát quay trở lại, trong bối cảnh giá dầu leo thang mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông. Nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu khiến thị trường ngày càng thận trọng với triển vọng giá cả.

Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến
Đồ họa tư liệu

Dù Cơ quan Năng lượng Quốc tế đã nỗ lực hạ nhiệt thị trường bằng kế hoạch xả 400 triệu thùng dầu từ kho dự trữ chiến lược, giá dầu vẫn duy trì biến động mạnh, với dầu Brent dao động quanh ngưỡng 100 USD/thùng. Mức giá cao kéo dài này làm gia tăng rủi ro lạm phát “ăn sâu”; đồng thời, buộc thị trường phải điều chỉnh lại kỳ vọng về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Theo ước tính của các nhà phân tích tại Ngân hàng MUFG (Nhật Bản), cứ mỗi 10 USD tăng thêm của giá dầu có thể đẩy lạm phát Mỹ tăng khoảng 0,2 điểm phần trăm. Nếu dầu duy trì quanh 100 USD/thùng, lạm phát có thể tăng gần 0,8 điểm phần trăm; trong kịch bản cực đoan hơn ở mức 150 USD/thùng, lạm phát thậm chí có thể vượt 4%.

Trong bối cảnh đó, thị trường thu hẹp kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất trong năm nay, khi áp lực giá năng lượng có thể buộc cơ quan này phải duy trì chính sách thắt chặt lâu hơn. Việc trì hoãn nới lỏng chính sách tiền tệ trong ngắn hạn, lại trở thành yếu tố hỗ trợ cho đồng USD.

USD phục hồi từ vùng yếu, cần theo dõi rủi ro biến động

TS. Nguyễn Trí Hiếu cho biết, DXY từng có thời điểm lên tới 110 điểm và vượt ngưỡng này, trong khi dưới 100 điểm vẫn được xem là vùng suy yếu của đồng USD. Tuy nhiên, việc chỉ số tăng từ 96 - 97 điểm trước đây cho thấy USD đã mạnh lên. Trong bối cảnh chiến sự còn căng thẳng, diễn biến của đồng USD cần được theo dõi sát để đánh giá khả năng xuất hiện biến động đáng kể và tác động tới tỷ giá USD/VND trong thời gian tới.

Vừa trở về từ Mỹ đầu tháng 3/2026, chuyên gia tài chính - ngân hàng TS. Nguyễn Trí Hiếu cho biết, người dân Mỹ đặc biệt quan tâm đến lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp. Ông Hiếu cho biết, giá xăng vừa qua tăng mạnh; tại một số bang như California, giá đã tăng từ 4,63 USD lên 5,34 USD/gallon (1 gallon tương đương khoảng 3,8 lít).

"Việc giá xăng tăng tạo lực đẩy lạm phát, bởi giá xăng dầu sẽ đi vào tất cả các ngõ ngách của nền kinh tế, kéo theo giá cả tăng và khiến lạm phát có thể bị đẩy lên" - ông Hiếu bày tỏ.

Bên cạnh đó, vị chuyên gia cho rằng, Chủ tịch Fed mới thay ông Jerome Powell nhiều khả năng theo đuổi chính sách tiền tệ nới lỏng hơn, nhằm hỗ trợ chương trình kinh tế của Tổng Thống Mỹ, thậm chí giảm lãi suất mạnh.

"Tuy nhiên, những biến động đang khiến triển vọng này trở nên bất định, vì nếu lạm phát tăng, mà tiếp tục giảm lãi suất giống như “đổ thêm dầu vào lửa”, làm lạm phát bùng lên. Trong khi đó, nếu kinh tế Mỹ suy yếu và rơi vào tình trạng "stagflation", vừa trì trệ vừa lạm phát, đây sẽ là trạng thái đình đốn rất nguy hiểm" - ông Hiếu bình luận.

USD tăng sức hút, tỷ giá chịu sức ép

Dự đoán về định hướng chính sách của Fed, ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) nhận định, nếu lạm phát có xu hướng gia tăng trở lại, Fed nhiều khả năng sẽ điều chỉnh lập trường chính sách. Trong kịch bản lạm phát tại Mỹ quay về quanh 4%, khả năng cân nhắc tăng lãi suất trở lại là không thể loại trừ. Mặt bằng lãi suất USD duy trì ở mức cao sẽ tạo sức ép đáng kể lên tỷ giá USD/VND trong nước.

Ông Minh cũng lưu ý, xu hướng dịch chuyển dòng tiền sang các tài sản mang tính phòng thủ như vàng và USD đang gia tăng, qua đó tiếp tục tạo áp lực lên thị trường ngoại hối Việt Nam.

Cùng chung quan điểm, chia sẻ với phóng viên, một giám đốc phân tích và nghiên cứu tại một công ty quản lý quỹ hàng đầu cho rằng, từ khi cuộc chiến nổ ra, đồng USD mạnh lên vì nhà đầu tư sợ rủi ro; đồng thời, trong các loại tài sản, USD vẫn được xem là ít rủi ro nhất. Theo đó, dòng tiền rút khỏi các tài sản rủi ro để chuyển sang nắm giữ USD, qua đó, làm gia tăng nhu cầu và đẩy giá đồng bạc xanh trên thị trường quốc tế.

"Ở Việt Nam còn có yếu tố tâm lý, khi có biến động, nhiều người có xu hướng giữ ngoại tệ và vàng, khiến áp lực tỷ giá lớn hơn. Trong trường hợp tỷ giá chịu áp lực mạnh, Ngân hàng Nhà nước có hai công cụ chính để bảo vệ tỷ giá là tăng lãi suất hoặc sử dụng dự trữ ngoại hối" - lãnh đạo công ty quản lý quỹ này nhìn nhận.

Theo dữ liệu của Chứng khoán Yuanta, tuần qua, tỷ giá tự do tăng mạnh lên 27.150 VND/USD, tương đương tăng 1,12%. Đà tăng này nối dài trong phiên 17/3, khi tỷ giá USD tự do vọt lên 27.340 - 27.390 VND/USD, tăng 190 đồng ở chiều mua và 200 đồng ở chiều bán so với phiên trước.

"Tỷ giá USD/VND sẽ còn chịu áp lực trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị khu vực Trung Đông vẫn cao. Tuy nhiên, trong tuần tới đồng USD có thể chững lại đà tăng sau nhịp tăng mạnh vừa qua, theo đó có thể giảm áp lực lên tỷ giá USD/VND" - Chứng khoán Yuanta nhận định./.

Khi áp lực tăng cao, kịch bản nâng lãi suất được đặt ra

Nhiều thống kê cho thấy, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã giảm về khoảng 80 tỷ USD, thấp hơn đáng kể so với mức khuyến nghị tối thiểu tương đương 3 tháng nhập khẩu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Nguyên nhân chủ yếu do tỷ giá USD/VND tăng liên tục trong 4 năm qua, buộc Ngân hàng Nhà nước phải bán ra lượng lớn ngoại tệ để bình ổn, khiến dư địa điều hành bị thu hẹp.

Trong khi đó, cán cân thanh toán cũng không dư dả. Dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước trong quý III/2025 cho thấy, cán cân vãng lai thặng dư 12,5 tỷ USD, chủ yếu nhờ xuất siêu hàng hóa 14,6 tỷ USD, nhưng bị bù trừ bởi dòng vốn gián tiếp rút ròng khoảng 2,5 tỷ USD và dòng vốn khác chảy ra mạnh. Đáng chú ý, mục “lỗi và sai sót” âm tới 10 tỷ USD. Ngoài ra, ba tháng liên tiếp (tháng 12/2025 - 2/2026), cán cân thương mại đã đảo chiều sang nhập siêu 3,5 tỷ USD, cho thấy áp lực nguồn cung USD và tỷ giá vẫn hiện hữu.

Theo đánh giá của giám đốc phân tích và nghiên cứu tại một công ty quản lý quỹ lớn, do dự trữ ngoại hối của Việt Nam khá mỏng, vì vậy, tăng lãi suất có thể là lựa chọn nếu áp lực tỷ giá quá lớn, đơn cử tỷ giá chính thức nếu có yếu tố kích hoạt, tăng lên 27.000 VND/USD trong thời gian ngắn, tức là mất giá 2 - 3% thì chắc chắn phải can thiệp.

"Có một yếu tố có thể tạo áp lực lên tỷ giá là nhu cầu nhập khẩu nhiên liệu. Đây là mặt hàng rất thiết yếu nên quan trọng nhất là phải có nguồn nhập ngay, song nếu nhập theo giá giao ngay thì sẽ rất cao" - vị này đánh giá.

Dù vậy, các chuyên gia nhìn chung đồng thuận rằng trong dài hạn, đồng USD có xu hướng suy yếu. Nguyên nhân là những yếu tố từng nâng đỡ sức mạnh của USD như thâm hụt ngân sách, nợ công gia tăng, kỷ luật tài khóa và tính độc lập của Fed đang dần suy giảm, trong khi nhiều quốc gia cũng từng bước giảm phụ thuộc vào USD..., tạo thêm áp lực lên vị thế của đồng tiền này trong dài hạn.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80