Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chỉ số DXY quanh ngưỡng 100 điểm, phản ánh dòng tiền trú ẩn quay lại USD, kéo theo tỷ giá trong nước và thị trường tự do cùng nhích lên. Giá dầu duy trì quanh 100 USD/thùng làm gia tăng rủi ro lạm phát, khiến Fed có thể trì hoãn nới lỏng, qua đó, gây áp lực lên tỷ giá USD/VND. Khả năng tăng lãi suất để ổn định tỷ giá của nhà điều hành cũng được tính đến.
aa

Giá dầu leo thang, kế hoạch nới lỏng của Fed có khả năng bị trì hoãn

Chỉ số USD (DXY) - chỉ số đo lường sức mạnh của đồng USD so với 6 loại tiền tệ khác - phiên sáng ngày 17/3 giao dịch quanh 99,9 điểm, tiệm cận vùng đỉnh cao nhất trong gần 1 năm. Đà tăng mạnh phiên thứ sáu tuần trước ngày 13/3 vượt mốc 100 điểm đã củng cố xu hướng phục hồi, với mức tăng khoảng 4,8% tính từ cuối tháng 1/2026 và cho thấy dòng tiền quay lại USD như một kênh trú ẩn an toàn.

Theo các chuyên gia, động lực chính của đà tăng đồng USD đến từ lo ngại lạm phát quay trở lại, trong bối cảnh giá dầu leo thang mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông. Nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu khiến thị trường ngày càng thận trọng với triển vọng giá cả.

Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến
Đồ họa tư liệu

Dù Cơ quan Năng lượng Quốc tế đã nỗ lực hạ nhiệt thị trường bằng kế hoạch xả 400 triệu thùng dầu từ kho dự trữ chiến lược, giá dầu vẫn duy trì biến động mạnh, với dầu Brent dao động quanh ngưỡng 100 USD/thùng. Mức giá cao kéo dài này làm gia tăng rủi ro lạm phát “ăn sâu”; đồng thời, buộc thị trường phải điều chỉnh lại kỳ vọng về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Theo ước tính của các nhà phân tích tại Ngân hàng MUFG (Nhật Bản), cứ mỗi 10 USD tăng thêm của giá dầu có thể đẩy lạm phát Mỹ tăng khoảng 0,2 điểm phần trăm. Nếu dầu duy trì quanh 100 USD/thùng, lạm phát có thể tăng gần 0,8 điểm phần trăm; trong kịch bản cực đoan hơn ở mức 150 USD/thùng, lạm phát thậm chí có thể vượt 4%.

Trong bối cảnh đó, thị trường thu hẹp kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất trong năm nay, khi áp lực giá năng lượng có thể buộc cơ quan này phải duy trì chính sách thắt chặt lâu hơn. Việc trì hoãn nới lỏng chính sách tiền tệ trong ngắn hạn, lại trở thành yếu tố hỗ trợ cho đồng USD.

USD phục hồi từ vùng yếu, cần theo dõi rủi ro biến động

TS. Nguyễn Trí Hiếu cho biết, DXY từng có thời điểm lên tới 110 điểm và vượt ngưỡng này, trong khi dưới 100 điểm vẫn được xem là vùng suy yếu của đồng USD. Tuy nhiên, việc chỉ số tăng từ 96 - 97 điểm trước đây cho thấy USD đã mạnh lên. Trong bối cảnh chiến sự còn căng thẳng, diễn biến của đồng USD cần được theo dõi sát để đánh giá khả năng xuất hiện biến động đáng kể và tác động tới tỷ giá USD/VND trong thời gian tới.

Vừa trở về từ Mỹ đầu tháng 3/2026, chuyên gia tài chính - ngân hàng TS. Nguyễn Trí Hiếu cho biết, người dân Mỹ đặc biệt quan tâm đến lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp. Ông Hiếu cho biết, giá xăng vừa qua tăng mạnh; tại một số bang như California, giá đã tăng từ 4,63 USD lên 5,34 USD/gallon (1 gallon tương đương khoảng 3,8 lít).

"Việc giá xăng tăng tạo lực đẩy lạm phát, bởi giá xăng dầu sẽ đi vào tất cả các ngõ ngách của nền kinh tế, kéo theo giá cả tăng và khiến lạm phát có thể bị đẩy lên" - ông Hiếu bày tỏ.

Bên cạnh đó, vị chuyên gia cho rằng, Chủ tịch Fed mới thay ông Jerome Powell nhiều khả năng theo đuổi chính sách tiền tệ nới lỏng hơn, nhằm hỗ trợ chương trình kinh tế của Tổng Thống Mỹ, thậm chí giảm lãi suất mạnh.

"Tuy nhiên, những biến động đang khiến triển vọng này trở nên bất định, vì nếu lạm phát tăng, mà tiếp tục giảm lãi suất giống như “đổ thêm dầu vào lửa”, làm lạm phát bùng lên. Trong khi đó, nếu kinh tế Mỹ suy yếu và rơi vào tình trạng "stagflation", vừa trì trệ vừa lạm phát, đây sẽ là trạng thái đình đốn rất nguy hiểm" - ông Hiếu bình luận.

USD tăng sức hút, tỷ giá chịu sức ép

Dự đoán về định hướng chính sách của Fed, ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) nhận định, nếu lạm phát có xu hướng gia tăng trở lại, Fed nhiều khả năng sẽ điều chỉnh lập trường chính sách. Trong kịch bản lạm phát tại Mỹ quay về quanh 4%, khả năng cân nhắc tăng lãi suất trở lại là không thể loại trừ. Mặt bằng lãi suất USD duy trì ở mức cao sẽ tạo sức ép đáng kể lên tỷ giá USD/VND trong nước.

Ông Minh cũng lưu ý, xu hướng dịch chuyển dòng tiền sang các tài sản mang tính phòng thủ như vàng và USD đang gia tăng, qua đó tiếp tục tạo áp lực lên thị trường ngoại hối Việt Nam.

Cùng chung quan điểm, chia sẻ với phóng viên, một giám đốc phân tích và nghiên cứu tại một công ty quản lý quỹ hàng đầu cho rằng, từ khi cuộc chiến nổ ra, đồng USD mạnh lên vì nhà đầu tư sợ rủi ro; đồng thời, trong các loại tài sản, USD vẫn được xem là ít rủi ro nhất. Theo đó, dòng tiền rút khỏi các tài sản rủi ro để chuyển sang nắm giữ USD, qua đó, làm gia tăng nhu cầu và đẩy giá đồng bạc xanh trên thị trường quốc tế.

"Ở Việt Nam còn có yếu tố tâm lý, khi có biến động, nhiều người có xu hướng giữ ngoại tệ và vàng, khiến áp lực tỷ giá lớn hơn. Trong trường hợp tỷ giá chịu áp lực mạnh, Ngân hàng Nhà nước có hai công cụ chính để bảo vệ tỷ giá là tăng lãi suất hoặc sử dụng dự trữ ngoại hối" - lãnh đạo công ty quản lý quỹ này nhìn nhận.

Theo dữ liệu của Chứng khoán Yuanta, tuần qua, tỷ giá tự do tăng mạnh lên 27.150 VND/USD, tương đương tăng 1,12%. Đà tăng này nối dài trong phiên 17/3, khi tỷ giá USD tự do vọt lên 27.340 - 27.390 VND/USD, tăng 190 đồng ở chiều mua và 200 đồng ở chiều bán so với phiên trước.

"Tỷ giá USD/VND sẽ còn chịu áp lực trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị khu vực Trung Đông vẫn cao. Tuy nhiên, trong tuần tới đồng USD có thể chững lại đà tăng sau nhịp tăng mạnh vừa qua, theo đó có thể giảm áp lực lên tỷ giá USD/VND" - Chứng khoán Yuanta nhận định./.

Khi áp lực tăng cao, kịch bản nâng lãi suất được đặt ra

Nhiều thống kê cho thấy, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã giảm về khoảng 80 tỷ USD, thấp hơn đáng kể so với mức khuyến nghị tối thiểu tương đương 3 tháng nhập khẩu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Nguyên nhân chủ yếu do tỷ giá USD/VND tăng liên tục trong 4 năm qua, buộc Ngân hàng Nhà nước phải bán ra lượng lớn ngoại tệ để bình ổn, khiến dư địa điều hành bị thu hẹp.

Trong khi đó, cán cân thanh toán cũng không dư dả. Dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước trong quý III/2025 cho thấy, cán cân vãng lai thặng dư 12,5 tỷ USD, chủ yếu nhờ xuất siêu hàng hóa 14,6 tỷ USD, nhưng bị bù trừ bởi dòng vốn gián tiếp rút ròng khoảng 2,5 tỷ USD và dòng vốn khác chảy ra mạnh. Đáng chú ý, mục “lỗi và sai sót” âm tới 10 tỷ USD. Ngoài ra, ba tháng liên tiếp (tháng 12/2025 - 2/2026), cán cân thương mại đã đảo chiều sang nhập siêu 3,5 tỷ USD, cho thấy áp lực nguồn cung USD và tỷ giá vẫn hiện hữu.

Theo đánh giá của giám đốc phân tích và nghiên cứu tại một công ty quản lý quỹ lớn, do dự trữ ngoại hối của Việt Nam khá mỏng, vì vậy, tăng lãi suất có thể là lựa chọn nếu áp lực tỷ giá quá lớn, đơn cử tỷ giá chính thức nếu có yếu tố kích hoạt, tăng lên 27.000 VND/USD trong thời gian ngắn, tức là mất giá 2 - 3% thì chắc chắn phải can thiệp.

"Có một yếu tố có thể tạo áp lực lên tỷ giá là nhu cầu nhập khẩu nhiên liệu. Đây là mặt hàng rất thiết yếu nên quan trọng nhất là phải có nguồn nhập ngay, song nếu nhập theo giá giao ngay thì sẽ rất cao" - vị này đánh giá.

Dù vậy, các chuyên gia nhìn chung đồng thuận rằng trong dài hạn, đồng USD có xu hướng suy yếu. Nguyên nhân là những yếu tố từng nâng đỡ sức mạnh của USD như thâm hụt ngân sách, nợ công gia tăng, kỷ luật tài khóa và tính độc lập của Fed đang dần suy giảm, trong khi nhiều quốc gia cũng từng bước giảm phụ thuộc vào USD..., tạo thêm áp lực lên vị thế của đồng tiền này trong dài hạn.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

(TBTCO) - Sacombank vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Đáng chú ý, cả hai lãnh đạo này trước đó đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc tại LPBank.
Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa công bố thông tin về việc ông Phạm Hồng Hải gửi đơn từ nhiệm vị trí Tổng Giám đốc sau 2 năm điều hành, trong bối cảnh OCB đang bước vào một chặng đường mới với nhiều mục tiêu lớn hơn, đòi hỏi những định hướng và mô hình điều hành phù hợp hơn trong bối cảnh mới.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80