Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chỉ số DXY quanh ngưỡng 100 điểm, phản ánh dòng tiền trú ẩn quay lại USD, kéo theo tỷ giá trong nước và thị trường tự do cùng nhích lên. Giá dầu duy trì quanh 100 USD/thùng làm gia tăng rủi ro lạm phát, khiến Fed có thể trì hoãn nới lỏng, qua đó, gây áp lực lên tỷ giá USD/VND. Khả năng tăng lãi suất để ổn định tỷ giá của nhà điều hành cũng được tính đến.
aa

Giá dầu leo thang, kế hoạch nới lỏng của Fed có khả năng bị trì hoãn

Chỉ số USD (DXY) - chỉ số đo lường sức mạnh của đồng USD so với 6 loại tiền tệ khác - phiên sáng ngày 17/3 giao dịch quanh 99,9 điểm, tiệm cận vùng đỉnh cao nhất trong gần 1 năm. Đà tăng mạnh phiên thứ sáu tuần trước ngày 13/3 vượt mốc 100 điểm đã củng cố xu hướng phục hồi, với mức tăng khoảng 4,8% tính từ cuối tháng 1/2026 và cho thấy dòng tiền quay lại USD như một kênh trú ẩn an toàn.

Theo các chuyên gia, động lực chính của đà tăng đồng USD đến từ lo ngại lạm phát quay trở lại, trong bối cảnh giá dầu leo thang mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông. Nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu khiến thị trường ngày càng thận trọng với triển vọng giá cả.

Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến
Đồ họa tư liệu

Dù Cơ quan Năng lượng Quốc tế đã nỗ lực hạ nhiệt thị trường bằng kế hoạch xả 400 triệu thùng dầu từ kho dự trữ chiến lược, giá dầu vẫn duy trì biến động mạnh, với dầu Brent dao động quanh ngưỡng 100 USD/thùng. Mức giá cao kéo dài này làm gia tăng rủi ro lạm phát “ăn sâu”; đồng thời, buộc thị trường phải điều chỉnh lại kỳ vọng về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Theo ước tính của các nhà phân tích tại Ngân hàng MUFG (Nhật Bản), cứ mỗi 10 USD tăng thêm của giá dầu có thể đẩy lạm phát Mỹ tăng khoảng 0,2 điểm phần trăm. Nếu dầu duy trì quanh 100 USD/thùng, lạm phát có thể tăng gần 0,8 điểm phần trăm; trong kịch bản cực đoan hơn ở mức 150 USD/thùng, lạm phát thậm chí có thể vượt 4%.

Trong bối cảnh đó, thị trường thu hẹp kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất trong năm nay, khi áp lực giá năng lượng có thể buộc cơ quan này phải duy trì chính sách thắt chặt lâu hơn. Việc trì hoãn nới lỏng chính sách tiền tệ trong ngắn hạn, lại trở thành yếu tố hỗ trợ cho đồng USD.

USD phục hồi từ vùng yếu, cần theo dõi rủi ro biến động

TS. Nguyễn Trí Hiếu cho biết, DXY từng có thời điểm lên tới 110 điểm và vượt ngưỡng này, trong khi dưới 100 điểm vẫn được xem là vùng suy yếu của đồng USD. Tuy nhiên, việc chỉ số tăng từ 96 - 97 điểm trước đây cho thấy USD đã mạnh lên. Trong bối cảnh chiến sự còn căng thẳng, diễn biến của đồng USD cần được theo dõi sát để đánh giá khả năng xuất hiện biến động đáng kể và tác động tới tỷ giá USD/VND trong thời gian tới.

Vừa trở về từ Mỹ đầu tháng 3/2026, chuyên gia tài chính - ngân hàng TS. Nguyễn Trí Hiếu cho biết, người dân Mỹ đặc biệt quan tâm đến lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp. Ông Hiếu cho biết, giá xăng vừa qua tăng mạnh; tại một số bang như California, giá đã tăng từ 4,63 USD lên 5,34 USD/gallon (1 gallon tương đương khoảng 3,8 lít).

"Việc giá xăng tăng tạo lực đẩy lạm phát, bởi giá xăng dầu sẽ đi vào tất cả các ngõ ngách của nền kinh tế, kéo theo giá cả tăng và khiến lạm phát có thể bị đẩy lên" - ông Hiếu bày tỏ.

Bên cạnh đó, vị chuyên gia cho rằng, Chủ tịch Fed mới thay ông Jerome Powell nhiều khả năng theo đuổi chính sách tiền tệ nới lỏng hơn, nhằm hỗ trợ chương trình kinh tế của Tổng Thống Mỹ, thậm chí giảm lãi suất mạnh.

"Tuy nhiên, những biến động đang khiến triển vọng này trở nên bất định, vì nếu lạm phát tăng, mà tiếp tục giảm lãi suất giống như “đổ thêm dầu vào lửa”, làm lạm phát bùng lên. Trong khi đó, nếu kinh tế Mỹ suy yếu và rơi vào tình trạng "stagflation", vừa trì trệ vừa lạm phát, đây sẽ là trạng thái đình đốn rất nguy hiểm" - ông Hiếu bình luận.

USD tăng sức hút, tỷ giá chịu sức ép

Dự đoán về định hướng chính sách của Fed, ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) nhận định, nếu lạm phát có xu hướng gia tăng trở lại, Fed nhiều khả năng sẽ điều chỉnh lập trường chính sách. Trong kịch bản lạm phát tại Mỹ quay về quanh 4%, khả năng cân nhắc tăng lãi suất trở lại là không thể loại trừ. Mặt bằng lãi suất USD duy trì ở mức cao sẽ tạo sức ép đáng kể lên tỷ giá USD/VND trong nước.

Ông Minh cũng lưu ý, xu hướng dịch chuyển dòng tiền sang các tài sản mang tính phòng thủ như vàng và USD đang gia tăng, qua đó tiếp tục tạo áp lực lên thị trường ngoại hối Việt Nam.

Cùng chung quan điểm, chia sẻ với phóng viên, một giám đốc phân tích và nghiên cứu tại một công ty quản lý quỹ hàng đầu cho rằng, từ khi cuộc chiến nổ ra, đồng USD mạnh lên vì nhà đầu tư sợ rủi ro; đồng thời, trong các loại tài sản, USD vẫn được xem là ít rủi ro nhất. Theo đó, dòng tiền rút khỏi các tài sản rủi ro để chuyển sang nắm giữ USD, qua đó, làm gia tăng nhu cầu và đẩy giá đồng bạc xanh trên thị trường quốc tế.

"Ở Việt Nam còn có yếu tố tâm lý, khi có biến động, nhiều người có xu hướng giữ ngoại tệ và vàng, khiến áp lực tỷ giá lớn hơn. Trong trường hợp tỷ giá chịu áp lực mạnh, Ngân hàng Nhà nước có hai công cụ chính để bảo vệ tỷ giá là tăng lãi suất hoặc sử dụng dự trữ ngoại hối" - lãnh đạo công ty quản lý quỹ này nhìn nhận.

Theo dữ liệu của Chứng khoán Yuanta, tuần qua, tỷ giá tự do tăng mạnh lên 27.150 VND/USD, tương đương tăng 1,12%. Đà tăng này nối dài trong phiên 17/3, khi tỷ giá USD tự do vọt lên 27.340 - 27.390 VND/USD, tăng 190 đồng ở chiều mua và 200 đồng ở chiều bán so với phiên trước.

"Tỷ giá USD/VND sẽ còn chịu áp lực trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị khu vực Trung Đông vẫn cao. Tuy nhiên, trong tuần tới đồng USD có thể chững lại đà tăng sau nhịp tăng mạnh vừa qua, theo đó có thể giảm áp lực lên tỷ giá USD/VND" - Chứng khoán Yuanta nhận định./.

Khi áp lực tăng cao, kịch bản nâng lãi suất được đặt ra

Nhiều thống kê cho thấy, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã giảm về khoảng 80 tỷ USD, thấp hơn đáng kể so với mức khuyến nghị tối thiểu tương đương 3 tháng nhập khẩu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Nguyên nhân chủ yếu do tỷ giá USD/VND tăng liên tục trong 4 năm qua, buộc Ngân hàng Nhà nước phải bán ra lượng lớn ngoại tệ để bình ổn, khiến dư địa điều hành bị thu hẹp.

Trong khi đó, cán cân thanh toán cũng không dư dả. Dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước trong quý III/2025 cho thấy, cán cân vãng lai thặng dư 12,5 tỷ USD, chủ yếu nhờ xuất siêu hàng hóa 14,6 tỷ USD, nhưng bị bù trừ bởi dòng vốn gián tiếp rút ròng khoảng 2,5 tỷ USD và dòng vốn khác chảy ra mạnh. Đáng chú ý, mục “lỗi và sai sót” âm tới 10 tỷ USD. Ngoài ra, ba tháng liên tiếp (tháng 12/2025 - 2/2026), cán cân thương mại đã đảo chiều sang nhập siêu 3,5 tỷ USD, cho thấy áp lực nguồn cung USD và tỷ giá vẫn hiện hữu.

Theo đánh giá của giám đốc phân tích và nghiên cứu tại một công ty quản lý quỹ lớn, do dự trữ ngoại hối của Việt Nam khá mỏng, vì vậy, tăng lãi suất có thể là lựa chọn nếu áp lực tỷ giá quá lớn, đơn cử tỷ giá chính thức nếu có yếu tố kích hoạt, tăng lên 27.000 VND/USD trong thời gian ngắn, tức là mất giá 2 - 3% thì chắc chắn phải can thiệp.

"Có một yếu tố có thể tạo áp lực lên tỷ giá là nhu cầu nhập khẩu nhiên liệu. Đây là mặt hàng rất thiết yếu nên quan trọng nhất là phải có nguồn nhập ngay, song nếu nhập theo giá giao ngay thì sẽ rất cao" - vị này đánh giá.

Dù vậy, các chuyên gia nhìn chung đồng thuận rằng trong dài hạn, đồng USD có xu hướng suy yếu. Nguyên nhân là những yếu tố từng nâng đỡ sức mạnh của USD như thâm hụt ngân sách, nợ công gia tăng, kỷ luật tài khóa và tính độc lập của Fed đang dần suy giảm, trong khi nhiều quốc gia cũng từng bước giảm phụ thuộc vào USD..., tạo thêm áp lực lên vị thế của đồng tiền này trong dài hạn.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

(TBTCO) - TPBank vừa chính thức ra mắt T’AioX – Chuyên gia Ngân hàng số trên App TPBank, đánh dấu bước tiến mới trong việc ứng dụng AI để thấu hiểu khách hàng qua từng điểm chạm. Bằng cách chuyển hóa các tính năng ngân hàng thành những cuộc hội thoại tự nhiên, T’AioX mang đến trải nghiệm quản lý tài chính, tra cứu giao dịch và săn ưu đãi một cách nhanh chóng, cá nhân hóa và đầy thú vị.
Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

(TBTCO) - Dù tín dụng tiếp đà tăng trưởng, nhiều ngân hàng đang chịu áp lực từ chi phí vốn leo thang, khiến thu nhập lãi thuần bị thu hẹp, thậm chí "đi lùi". Trong bối cảnh đó, nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành "trụ đỡ" quan trọng, song không phải ngân hàng nào cũng xây dựng được mô hình nguồn thu bền vững.
Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải bảo đảm tách bạch, minh bạch thông tin, kiểm soát chặt xung đột lợi ích và không để khách hàng nhầm lẫn giữa các vai trò của ngân hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,500 ▲1500K 145,400 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 141,500 ▲1500K 145,400 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 141,500 ▲1500K 145,400 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 141,500 ▲1500K 145,400 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 141,500 ▲1500K 145,400 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,500 ▲1500K 145,400 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
NL 99.99 13,500 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲200K
Trang sức 99.9 13,860 ▲140K 14,460 ▲140K
Trang sức 99.99 13,870 ▲140K 14,470 ▲140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▲14K 14,552 ▲140K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▲14K 14,553 ▲140K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1264K 145 ▼1291K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1264K 1,451 ▲14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 139 ▼1237K 1,435 ▲14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,079 ▲1386K 142,079 ▲1386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,986 ▲1050K 107,786 ▲1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,794 ▼78194K 9,774 ▼87014K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,894 ▲70190K 87,694 ▲79010K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,019 ▲816K 83,819 ▲816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,195 ▲583K 59,995 ▲583K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Cập nhật: 11/08/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17904 18178 18761
CAD 18222 18498 19113
CHF 31597 31977 32630
CNY 0 3840 3940
EUR 29531 29752 30829
GBP 34495 34887 35821
HKD 0 3200 3403
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15066 15654
SGD 19873 20155 20722
THB 707 770 823
USD (1,2) 25871 0 0
USD (5,10,20) 25911 0 0
USD (50,100) 25939 25953 26320
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,970 25,970 26,350
USD(1-2-5) 24,932 - -
USD(10-20) 24,932 - -
EUR 29,605 29,629 31,032
JPY 159.91 160.2 169.86
GBP 34,705 34,799 35,994
AUD 18,108 18,173 18,866
CAD 18,420 18,479 19,165
CHF 31,899 31,998 32,946
SGD 20,008 20,070 20,854
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.07 17.8 19.36
THB 756.05 765.39 819.2
NZD 15,052 15,192 15,643
SEK - 2,709 2,805
DKK - 3,971 4,111
NOK - 2,707 2,804
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,975.68 - 6,745.89
TWD 732.69 - 887.04
SAR - 6,847.64 7,212.42
KWD - 82,880 88,184
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,950 25,970 26,350
EUR 29,639 29,758 30,952
GBP 34,709 34,848 35,881
HKD 3,266 3,279 3,396
CHF 31,748 31,875 32,801
JPY 160.36 161 168.90
AUD 18,101 18,174 18,770
SGD 20,078 20,159 20,754
THB 773 776 813
CAD 18,431 18,505 19,094
NZD 15,139 15,685
KRW 17.68 19.67
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26350
AUD 18108 18208 19130
CAD 18423 18523 19537
CHF 31898 31928 33510
CNY 3817.1 3842.1 3977.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29751 29781 31506
GBP 34835 34885 36654
HKD 0 3355 0
JPY 160.92 161.42 171.93
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15192 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20052 20182 20905
THB 0 737.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14100000 14100000 14500000
SBJ 12500000 12500000 14500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,978 26,028 26,320
USD20 25,928 26,028 26,715
USD1 25,878 26,028 26,765
AUD 18,171 18,271 19,384
EUR 29,561 29,661 31,320
CAD 18,335 18,435 19,741
SGD 20,139 20,289 20,843
JPY 162.06 163.56 169.14
GBP 34,676 34,826 35,899
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,727 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/08/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80