Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
aa

Diễn biến thị trường trong nước

Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố ở mức 25.123 đồng, tiếp tục tăng 5 đồng so với phiên trước, sau khi đã tăng 6 đồng vào đầu tuần. Tỷ giá USD tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng điều chỉnh tăng tương ứng.

Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch USD trong khoảng 23.866,85 - 26.379,15 VND/USD.

Trong khi đó, thị trường tự do ghi nhận tỷ giá USD/VND phổ biến quanh 26.350 - 26.380 đồng, tiếp tục rớt 70 đồng chiều mua và 90 đồng chiều bán so với phiên trước đó.

Khảo sát tại các ngân hàng phiên cuối tuần trước cho thấy, tỷ giá USD tiếp tục duy trì xu hướng tăng. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.093 - 26.373 VND/USD, cùng tăng 6 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra. BIDV niêm yết USD ở mức 26.123 - 26.373 VND/USD, tăng 6 đồng; Agribank giao dịch ở mức 26.113 - 26.373 VND/USD, tăng 6 đồng.

ACB tăng mạnh hơn với mức tăng 20 đồng chiều mua vào, đưa tỷ giá USD lên 26.110 - 26.373 VND/USD. VIB là ngân hàng điều chỉnh mạnh nhất chiều mua vào khi tăng 30 đồng, lên 26.120 - 26.373 VND/USD.

Tỷ giá USD, EUR, GBP giao dịch tại các ngân hàng thương mại lớn chốt phiên 11/5 gồm: Vietcombank, BIDV, Sacombank, ACB, HSBC, Techcombank như sau:

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Đối với tỷ giá EUR, xu hướng tăng chiếm ưu thế tại nhiều ngân hàng. Vietcombank niêm yết tỷ giá EUR ở mức 30.171 - 31.762 VND/EUR, tăng lần lượt 97 đồng và 103 đồng ở hai chiều mua vào - bán ra. VIB tăng mạnh nhất thị trường với mức tăng 166 đồng chiều mua vào và 180 đồng chiều bán ra, đưa tỷ giá lên 30.463 - 31.823 VND/EUR. HSBC cũng tăng khá mạnh 98 đồng chiều mua vào và 106 đồng chiều bán ra, lên 30.298 - 31.472 VND/EUR. BIDV tăng 63 đồng ở cả hai chiều, giao dịch tại 30.507 - 31.827 VND/EUR.

Trong khi đó, tỷ giá GBP biến động trái chiều giữa các ngân hàng. Vietcombank tăng mạnh 95 đồng chiều mua vào và 99 đồng chiều bán ra, niêm yết ở mức 34.853 - 36.332 VND/GBP. HSBC cũng tăng đáng kể 109 đồng chiều mua vào và 119 đồng chiều bán ra, lên 34.828 - 36.221 VND/GBP. BIDV tăng 37 đồng chiều mua vào và 40 đồng chiều bán ra, giao dịch tại 35.220 - 36.352 VND/GBP.

Ở chiều ngược lại, Techcombank giảm 22 đồng chiều mua vào và 31 đồng chiều bán ra, còn 34.993 - 36.312 VND/GBP. Sacombank cũng điều chỉnh giảm nhẹ 9 đồng chiều mua vào và 8 đồng chiều bán ra, xuống mức 35.303 - 37.114 VND/GBP.

Diễn biến thị trường thế giới

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - tăng nhẹ 0,07%, lên mức 98,02 điểm, cho thấy đồng USD phục hồi nhẹ. Theo đó, đồng USD tăng giá so với Euro khi tỷ giá USD/EUR lên mức 0,8497 EUR/USD, tăng 0,12%. So với bảng Anh, tỷ giá USD/GBP đạt 0,7355 GBP/USD, tăng 0,1%, phản ánh áp lực suy yếu nhẹ của đồng bảng trước sức mạnh của đồng bạc xanh.

Đồng USD cũng tăng so với đồng yên Nhật, với tỷ giá USD/JPY lên 157,37 JPY/USD, tăng 0,17%. Trong khi đó, tỷ giá USD/CNY giữ ở mức 6,7950 CNY/USD.

Đồng USD tăng nhẹ trong phiên đầu tuần khi thị trường lo ngại các nỗ lực ngoại giao nhằm chấm dứt xung đột Trung Đông đang gặp trở ngại mới. Đồng bạc xanh hiện đang dao động quanh vùng trước chiến tranh.

Các nhà phân tích cho rằng, đồng USD tiếp tục được hỗ trợ nhờ vai trò của Mỹ là một trong những quốc gia xuất khẩu năng lượng lớn nhất thế giới. Điều này được xem là yếu tố giúp kinh tế Mỹ có khả năng chống chịu tốt hơn trước nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng nếu eo biển Hormuz bị phong tỏa kéo dài. Trung Quốc hiện là quốc gia nhập khẩu dầu thô lớn nhất của Iran, do đó mọi diễn biến tại khu vực này đều có thể ảnh hưởng mạnh tới quan hệ Mỹ - Trung, cũng như thị trường tiền tệ toàn cầu.

Trước đó, thị trường từng kỳ vọng Tổng thống Donald Trump có thể thúc đẩy một thỏa thuận với Iran trước chuyến thăm Trung Quốc dự kiến diễn ra cuối tuần này. Tuy nhiên, theo các nhà phân tích của Tập đoàn ING (Hà Lan), sự lạc quan này đã nhanh chóng suy yếu. ING cho rằng nếu Trung Quốc không tạo áp lực đáng kể nhằm thúc đẩy một thỏa thuận, thị trường sẽ tiếp tục định giá theo kịch bản bế tắc kéo dài, giá dầu duy trì ở mức cao và áp lực lạm phát toàn cầu gia tăng.

Tổng thống Donald Trump sẽ thăm Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, thảo luận các vấn đề then chốt với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, trong bối cảnh Mỹ và Trung Quốc đều đang tìm kiếm những nhượng bộ chiến lược từ phía đối phương. Phía Mỹ mong muốn Trung Quốc sử dụng ảnh hưởng đối với Iran nhằm thúc đẩy một thỏa thuận theo các điều khoản của Washington, trong khi Trung Quốc muốn Mỹ nới lỏng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đối với chất bán dẫn tiên tiến. Ở chiều ngược lại, Mỹ cũng muốn Bắc Kinh giảm bớt các hạn chế xuất khẩu đất hiếm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

(TBTCO) - Sacombank vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Đáng chú ý, cả hai lãnh đạo này trước đó đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc tại LPBank.
Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa công bố thông tin về việc ông Phạm Hồng Hải gửi đơn từ nhiệm vị trí Tổng Giám đốc sau 2 năm điều hành, trong bối cảnh OCB đang bước vào một chặng đường mới với nhiều mục tiêu lớn hơn, đòi hỏi những định hướng và mô hình điều hành phù hợp hơn trong bối cảnh mới.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
Kim TT/AVPL 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
Nguyên Liệu 99.99 15,400 ▲160K 15,600 ▲160K
Nguyên Liệu 99.9 15,350 ▲160K 15,550 ▲160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,150 ▲130K 16,550 ▲130K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,100 ▲130K 16,500 ▲130K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,030 ▲130K 16,480 ▲130K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,500 ▲1300K 166,500 ▲1300K
Hà Nội - PNJ 163,500 ▲1300K 166,500 ▲1300K
Đà Nẵng - PNJ 163,500 ▲1300K 166,500 ▲1300K
Miền Tây - PNJ 163,500 ▲1300K 166,500 ▲1300K
Tây Nguyên - PNJ 163,500 ▲1300K 166,500 ▲1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 163,500 ▲1300K 166,500 ▲1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,400 ▲180K 16,700 ▲180K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,890 ▲180K 16,590 ▲180K
Trang sức 99.99 15,900 ▲180K 16,600 ▲180K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 164 ▼1458K 167 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 164 ▼1458K 16,702 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 164 ▼1458K 16,703 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,635 ▲18K 1,665 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,635 ▲18K 1,666 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,615 ▲17K 165 ▼1468K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 156,866 ▲1683K 163,366 ▲1683K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,012 ▲1275K 123,912 ▲1275K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,461 ▲1156K 112,361 ▲1156K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 9,191 ▼81682K 10,081 ▼89692K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,455 ▲992K 96,355 ▲992K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 60,062 ▲709K 68,962 ▲709K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 164 ▼1458K 167 ▼1485K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 164 ▼1458K 167 ▼1485K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 164 ▼1458K 167 ▼1485K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 164 ▼1458K 167 ▼1485K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 164 ▼1458K 167 ▼1485K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 164 ▼1458K 167 ▼1485K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 164 ▼1458K 167 ▼1485K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 164 ▼1458K 167 ▼1485K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 164 ▼1458K 167 ▼1485K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 164 ▼1458K 167 ▼1485K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 164 ▼1458K 167 ▼1485K
Cập nhật: 12/05/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18499 18776 19349
CAD 18694 18972 19590
CHF 33111 33497 34143
CNY 0 3832 3925
EUR 30328 30603 31631
GBP 34958 35351 36286
HKD 0 3232 3434
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15359 15947
SGD 20169 20452 20976
THB 728 791 845
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26148 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26379
AUD 18687 18787 19720
CAD 18877 18977 19989
CHF 33378 33408 34991
CNY 3813.3 3838.3 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30515 30545 32271
GBP 35269 35319 37079
HKD 0 3355 0
JPY 163.65 164.15 174.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15471 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20340 20470 21191
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16750000
SBJ 14000000 14000000 16750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80