Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ánh Tuyết
Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
aa

“Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR Dự báo thanh khoản ngân hàng chịu sức ép mới khi tiền gửi Kho bạc Nhà nước bị loại khỏi LDR

Nhiều ngân hàng có thể vượt trần 85% khi chuyển từ LDR sang CDR

Phòng Phân tích Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) vừa ban hành báo cáo đánh giá tác động của dự thảo thay thế Thông tư 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng đến tình hình thanh khoản của các ngân hàng.

Theo đó, Phòng Phân tích ACBS đánh giá việc sửa đổi cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) sang tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR), theo hướng thắt chặt hơn so với quy định cũ và khuyến khích các ngân hàng sớm áp dụng theo chuẩn mực quốc tế.

Ước tính của ACBS cho thấy CDR của một số ngân hàng sẽ cao hơn tỷ lệ quy định 85%. Tuy nhiên, do các ngân hàng được lựa chọn giữa việc áp dụng các tỷ lệ tiêu chuẩn (CDR) hay các tỷ lệ theo Basel III, nên tác động của dự thảo sửa đổi tới tình hình thanh khoản và khả năng tăng trưởng tín dụng của ngành ngân hàng sẽ không đáng kể.

Ngân hàng Nhà nước sửa đổi cách tính toán tỷ lệ LDR thành CDR theo hướng thực chất hơn, cũng như áp dụng một số tỷ lệ mới theo thông lệ quốc tế (chuẩn Basel III).

Cụ thể, dự thảo bổ sung dư nợ trái phiếu doanh nghiệp và trừ vốn chủ sở hữu khỏi tín dụng (C), loại trừ tiền gửi liên ngân hàng và bổ sung 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào huy động (D).

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo quy định hiện hành, tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động được điều chỉnh giảm dần qua từng năm và đã bị loại bỏ hoàn toàn kể từ năm 2026.

Trong khi đó, dự thảo mới điều chỉnh phương pháp tính theo hướng tiếp tục không tính tiền gửi không kỳ hạn vào nguồn vốn huy động, đồng thời loại trừ 80% giá trị tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.

“Tỷ lệ CDR sẽ tăng so với tỷ lệ LDR cũ, chủ yếu do tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác không còn được tính vào mẫu số D. Chúng tôi ước tính tỷ lệ CDR của hầu hết các ngân hàng sẽ tăng lên và có thể vượt mức trần quy định 85% trong trường hợp các ngân hàng không thay đổi cấu trúc nguồn vốn” - nhóm phân tích ACBS đánh giá.

ACBS đánh giá, một số ngân hàng thuộc nhóm ngân hàng có tỷ lệ CDR cao hơn đáng kể so với tỷ lệ LDR theo cách tính cũ như: VPBank, VIB, MB, VietinBank, BIDV, SacombankNamABank... Trong khi đó, tại một số ngân hàng khác như: ACB, Vietcombank, HDBank, Techcombank, OCB..., mức chênh lệch giữa hai cách tính không quá lớn.

Tuân thủ sớm LCR và NSFR với tỷ lệ 100%, có thể miễn tỷ lệ CDR

Bên cạnh đó, tại dự thảo Thông tư bổ sung một số tỷ lệ mới theo thông lệ quốc tế (chuẩn Basel III), trong đó đáng chú ý là các tỷ lệ LCR (Liquidity Coverage Ratio - tỷ lệ khả năng chi trả), NSFR (Net Stable Funding Ratio - tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng) và LEV (Leverage Ratio - tỷ lệ đòn bẩy).

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel 3. Ảnh minh họa.

Theo đó, LCR là tỷ lệ khả năng đáp ứng dòng tiền ra ròng trong 30 ngày, được tính bằng tài sản thanh khoản cao (tiền, chứng khoán) chia cho dòng tiền ra ròng dự kiến trong 30 ngày. Tỷ lệ này nhằm mục đích đo lường khả năng đảm bảo thanh khoản ngắn hạn của ngân hàng.

NSFR là tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng, được tính bằng tổng nguồn vốn ổn định gồm tiền gửi và vốn chủ sở hữu so với mức yêu cầu. Tỷ lệ này nhằm mục đích đo lường khả năng đáp ứng các hoạt động liên tục như tín dụng của ngân hàng.

Các ngân hàng phải đáp ứng ngưỡng tối thiểu tỷ lệ LCR và NSFR theo lộ trình kể từ đầu năm 2028, tuy nhiên, các ngân hàng có thể đăng ký áp dụng ngay. Đáng chú ý, theo nhóm phân tích ACBS, đối với các ngân hàng đã tuân thủ sớm hai tỷ lệ này 100% thì không cần tuân thủ tỷ lệ CDR, cũng như tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, dù vẫn phải báo cáo định kỳ tỷ lệ CDR.

Theo nhóm phân tích ACBS, việc ngân hàng tuân thủ sớm hai tỷ lệ LCR và NSFR này 100% được kỳ vọng sẽ thúc đẩy hệ thống ngân hàng đẩy nhanh lộ trình áp dụng theo thông lệ quốc tế. Trên thực tế, nhiều ngân hàng lớn hiện cũng đang theo đuổi mục tiêu tuân thủ các chuẩn mực Basel III.

“Cơ chế mới đồng thời giúp giảm áp lực duy trì các quy định mang tính “cơ học” trước đây, đặc biệt là tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Nhờ đó, mặt bằng lãi suất huy động trung và dài hạn - hiện vẫn phổ biến quanh 8 - 9% tại nhiều ngân hàng - sẽ có thêm dư địa để hạ nhiệt trong thời gian tới” - ACBS kỳ vọng.

Một tỷ lệ khác là LEV, được tính bằng vốn cấp 1 trên tổng trạng thái có rủi ro.

Theo ACBS, các ngân hàng cần duy trì ngưỡng tối thiểu 3%. Đối với các ngân hàng quan trọng trong hệ thống, chỉ được chia cổ tức nếu LEV lớn hơn 3%+ 50% x tỷ lệ bộ đệm bảo toàn vốn (CCB), tương đương khoảng 3,3 - 4,2%.

“Tỷ lệ này nhằm mục đích ngăn chặn các ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính quá đà. Tuy nhiên, theo dự thảo, Ngân hàng Nhà nước hiện chưa yêu cầu áp dụng đối với tỷ lệ này và tỷ lệ cũng này ít khắt khe hơn tỷ lệ an toàn vốn (CAR) đang được áp dụng” - nhóm phân tích ACBS nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cuộc đua tiền gửi không kỳ hạn với nhiều nhân tố dẫn dắt

Cuộc đua tiền gửi không kỳ hạn với nhiều nhân tố dẫn dắt

(TBTCO) - Cuộc cạnh tranh CASA (tiền gửi không kỳ hạn) trong ngành ngân hàng đang bước sang một giai đoạn mới. Khác với lợi thế trước đây chủ yếu đến từ "cuộc chơi" công nghệ và miễn phí dịch vụ, nay yếu tố quyết định là năng lực kiểm soát dòng tiền thực tế của khách hàng trong toàn bộ hệ sinh thái.
Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
ROX Living nâng sở hữu tại MSB vượt 1%, danh sách cổ đông lớn đón thêm nhiều tên tuổi mới

ROX Living nâng sở hữu tại MSB vượt 1%, danh sách cổ đông lớn đón thêm nhiều tên tuổi mới

(TBTCO) - ROX Living vừa nâng tỷ lệ sở hữu tại MSB lên trên 1% vốn điều lệ sau khi mua thành công gần 18,3 triệu cổ phiếu trong tổng số 100 triệu cổ phiếu đăng ký. Động thái này diễn ra khi cơ cấu cổ đông lớn của MSB có nhiều biến động, xuất hiện thêm một số tên tuổi mới.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

(TBTCO) - Top 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 12.710 tỷ đồng trong quý đầu năm, chiếm gần 52% thị phần; trong đó, DBV vươn lên vị trí thứ 4 và MIC trở lại top 5, cho thấy cuộc đua thị phần ngày càng nóng lên. Chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng giúp các doanh nghiệp tăng doanh thu và mở rộng thị phần.
NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

NCB và Sun Group ra mắt thẻ đồng thương hiệu, mở cánh cửa tới hệ sinh thái đặc quyền hàng đầu Việt Nam

(TBTCO) - Với NCB Visa Sun Signature, lần đầu tiên khách hàng có thể sở hữu một chiếc thẻ tín dụng ngân hàng tích hợp đồng thời các đặc quyền dành cho hội viên trong hệ sinh thái du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, bất động sản, hàng không và y tế cao cấp hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 13/6: Giá vàng bật tăng "phi mã", nhảy thêm 1,6 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 13/6: Giá vàng bật tăng "phi mã", nhảy thêm 1,6 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh lên tới 9,5 triệu đồng/lượng, đưa vàng miếng và vàng nhẫn tiến sát mốc 146 triệu đồng/lượng.
Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% đến hết năm 2026, đồng VND có thể chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực.
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 8 - 12/6, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 25.733,5 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh hơn 5 điểm phần trăm từ mức 9,35% đầu tuần. Cùng lúc, chỉ số DXY lùi dưới 100 điểm, giá vàng giảm sâu khiến tỷ giá USD tự do hạ về 26.240 - 26.270 VND/USD, thấp hơn 142 đồng so với giá bán của ngân hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 15,050
Kim TT/AVPL 14,850 15,100
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,850 15,100
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,500 14,900
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,450 14,850
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,380 14,830
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,500 150,500
Hà Nội - PNJ 147,500 150,500
Đà Nẵng - PNJ 147,500 150,500
Miền Tây - PNJ 147,500 150,500
Tây Nguyên - PNJ 147,500 150,500
Đông Nam Bộ - PNJ 147,500 150,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 15,050
Miếng SJC Nghệ An 14,800 15,050
Miếng SJC Thái Bình 14,800 15,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 15,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 15,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 15,050
NL 99.90 13,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,950
Trang sức 99.9 14,240 14,940
Trang sức 99.99 14,250 14,950
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 1,505
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 15,052
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 15,053
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 1,504
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 1,505
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 1,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,426 147,426
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,336 111,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,912 101,412
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,488 90,988
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,467 86,967
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,748 62,248
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 1,505
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 1,505
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 1,505
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 1,505
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 1,505
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 1,505
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 1,505
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 1,505
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 1,505
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 1,505
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 1,505
Cập nhật: 16/06/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18053 18328 18912
CAD 18283 18559 19178
CHF 32504 32888 33538
CNY 0 3849 3942
EUR 29886 30109 31192
GBP 34485 34877 35815
HKD 0 3224 3427
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15638
SGD 19961 20243 20823
THB 723 786 839
USD (1,2) 26021 0 0
USD (5,10,20) 26062 0 0
USD (50,100) 26091 26105 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,423
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 30,010 30,034 31,393
JPY 159.81 160.1 169.37
GBP 34,721 34,815 35,934
AUD 18,262 18,328 18,977
CAD 18,474 18,533 19,172
CHF 32,715 32,817 33,701
SGD 20,093 20,155 20,902
CNY - 3,819 3,955
HKD 3,290 3,300 3,431
KRW 16.01 16.7 18.12
THB 769.65 779.16 832
NZD 15,049 15,189 15,604
SEK - 2,756 2,847
DKK - 4,015 4,147
NOK - 2,723 2,812
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,075.17 - 6,842.18
TWD 752.68 - 909.68
SAR - 6,892.18 7,242.86
KWD - 83,429 88,559
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,423
EUR 29,963 30,083 31,272
GBP 34,754 34,894 35,914
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,568 32,699 33,616
JPY 160.23 160.87 168.71
AUD 18,254 18,327 18,920
SGD 20,186 20,267 20,853
THB 788 791 825
CAD 18,496 18,570 19,135
NZD 15,136 15,674
KRW 16.73 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26127 26127 26423
AUD 18234 18334 19265
CAD 18461 18561 19575
CHF 32731 32761 34348
CNY 3830.1 3855.1 3990.2
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30060 30090 31815
GBP 34792 34842 36610
HKD 0 3355 0
JPY 160.62 161.12 171.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15156 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20121 20251 20980
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15050000
SBJ 13000000 13000000 15050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,117 26,167 26,423
USD20 26,117 26,167 26,423
USD1 23,907 26,167 26,423
AUD 18,285 18,385 19,498
EUR 30,206 30,206 31,616
CAD 18,407 18,507 19,814
SGD 20,208 20,358 20,913
JPY 161.2 162.7 167.24
GBP 34,719 35,069 35,932
XAU 14,789,000 0 15,052,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/06/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80