Dự báo thanh khoản ngân hàng chịu sức ép mới khi tiền gửi Kho bạc Nhà nước bị loại khỏi LDR

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Từ năm 2026, tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước bị loại trừ 100% khỏi tổng tiền gửi khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi (LDR). Trong bối cảnh lượng tiền gửi Kho bạc có thời điểm lên tới 500 nghìn tỷ đồng, quy định này dự báo gia tăng áp lực thanh khoản, buộc ngân hàng xoay trục huy động vốn và đẩy tăng lãi suất, đặc biệt ở các kỳ hạn trung và dài hạn.
aa
CASA lao dốc, LDR lập đỉnh 5 năm, ngân hàng trước áp lực tái cấu trúc nguồn vốn "Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9%

Theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 26/2022/TT-NHNN ngày 31/12/2022 sửa đổi Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, từ ngày 1/1/2026, 100% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước chính thức bị loại trừ khỏi tổng tiền gửi khi xác định tỷ lệ LDR.

Trước đó, Ngân hàng Nhà nước áp dụng lộ trình rút dần đối với nguồn vốn đặc thù này, nhằm tạo dư địa cho hệ thống ngân hàng giảm lãi suất, hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19. Theo quy định tại Thông tư số 26/2022/TT-NHNN, Ngân hàng Nhà nước cho phép tạm thời đưa một phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào tổng nguồn vốn huy động khi tính LDR, kèm theo lộ trình thu hẹp dần.

Cụ thể, tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc tiếp tục bị loại khỏi tổng tiền gửi, trong khi tiền gửi có kỳ hạn chỉ được tính 50% đến hết năm 2023, tăng lên 60% trong năm 2024, lên 80% trong năm 2025 và bị loại trừ hoàn toàn từ năm 2026. Qua đó, thu hẹp dần vai trò “vốn đệm” của tiền gửi Kho bạc Nhà nước đối với thanh khoản ngân hàng.

Dự báo thanh khoản ngân hàng chịu sức ép mới khi tiền gửi Kho bạc Nhà nước bị loại khỏi LDR
Nguồn: AFA Capital tổng hợp từ Thông tư số 22/2019/TT-NHNN và Thông tư số 16/2022/TT-NHNN.

Thực tế cho thấy, tiền gửi Kho bạc Nhà nước có quy mô lớn và chi phí thấp, với lượng tiền gửi Kho bạc để tại các ngân hàng quốc doanh liên tục duy trì mức cao kỷ lục, lên tới 450 nghìn tỷ đồng trong năm 2025, có thời điểm vượt 500 nghìn tỷ đồng, theo báo cáo của Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC). Tuy nhiên, lượng tiền gửi này được đánh giá mang tính mùa vụ cao, phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ thu - chi ngân sách nhà nước.

Cũng theo thống kê của Công Ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại BIDV khoảng 152 nghìn tỷ đồng, tương đương 5,2% tổng nợ phải trả của ngân hàng này.

Tại VietinBank, quy mô tiền gửi Kho bạc Nhà nước cũng đạt 152 nghìn tỷ đồng, chiếm 5,8% tổng nợ phải trả. Trong khi đó, Vietcombank đang nắm giữ khoảng 157 nghìn tỷ đồng tiền gửi từ Kho bạc Nhà nước, tương đương 7,3% tổng nợ phải trả.

Dự báo thanh khoản ngân hàng chịu sức ép mới khi tiền gửi Kho bạc Nhà nước bị loại khỏi LDR
Công ty Chứng khoán Yuanta dự báo, việc loại trừ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khỏi công thức tính LDR có thể khiến tỷ lệ này tăng thêm khoảng 1 điểm phần trăm, qua đó làm gia tăng áp lực thanh khoản đối với các ngân hàng.

Xét trên góc độ toàn hệ thống, BSC cho rằng, hệ số LDR thị trường 1 ước đạt gần 99% vào cuối tháng 9/2025. Riêng tỷ lệ tín dụng/huy động tiền gửi đã lên khoảng 110%, khi huy động chỉ tăng 12% đến cuối tháng 11/2025, thấp hơn đáng kể so với mức tăng trên 16% của tín dụng.

Từ đầu quý III/2025, chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và tiền gửi duy trì bình quân hơn 3 điểm phần trăm.

Khi nguồn vốn này bị loại trừ hoàn toàn khỏi công thức tính tỷ lệ LDR từ năm 2026, trong bối cảnh dư nợ cho vay không đổi, tỷ lệ LDR của nhiều ngân hàng sẽ tăng lên, qua đó, làm thu hẹp đáng kể dư địa tăng trưởng tín dụng tại một số tổ chức.

Trong bối cảnh không còn “vùng đệm” từ tiền gửi Kho bạc, các ngân hàng buộc phải đẩy mạnh huy động vốn từ dân cư và doanh nghiệp để kéo LDR xuống, dẫn đến áp lực cạnh tranh lãi suất gia tăng, đặc biệt ở các kỳ hạn trung và dài hạn.

Trước đó, tại cuộc họp do Ngân hàng Nhà nước tổ chức, đại diện một số ngân hàng thương mại nhà nước cho rằng, cần cân nhắc điều chỉnh cách tính tiền gửi của Kho bạc Nhà nước trong tổng huy động vốn khi xác định tỷ lệ LDR. Việc điều chỉnh sẽ giúp mở rộng dư địa nguồn vốn cho các ngân hàng thương mại, qua đó tăng khả năng đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế trong bối cảnh cầu vốn đang gia tăng./.

Áp lực LDR gia tăng, ngân hàng buộc xoay trục nguồn vốn

BSC cho biết, để cân đối LDR, các ngân hàng tư nhân lớn chủ yếu bù đắp bằng giấy tờ có giá (như trái phiếu tổ chức tín dụng, chứng chỉ tiền gửi), trong khi nhóm ngân hàng tư nhân nhỏ hơn thường dựa nhiều vào vốn liên ngân hàng. Tỷ trọng giấy tờ có giá trong tổng huy động thị trường 1 của hệ thống đạt trên 10% tại cuối tháng 9/2025, thuộc nhóm cao nhất lịch sử.

Cùng với đó, trong bối cảnh thiếu nguồn huy động thị trường 1, các ngân hàng phải gia tăng sử dụng vốn thị trường 2 để tuân thủ trần LDR 85% theo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

(TBTCO) - Sáng 12/6, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.155 đồng, tăng 2 đồng; tỷ giá USD tự do giao dịch thấp hơn mức niêm yết tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 99,78 điểm khi kỳ vọng hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông cải thiện tâm lý nhà đầu tư, trong bối cảnh Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất, còn ECB vừa tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 1 - 5/6 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm áp sát 11%, doanh số vay mượn "nóng" vượt 1 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước nhanh chóng kích hoạt nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ trị giá 1 tỷ USD, bơm mạnh hỗ trợ thanh khoản. Khi áp lực hạ nhiệt, cơ quan điều hành quay lại hút ròng 26.372,11 tỷ đồng, trong bối cảnh tỷ giá vẫn tương đối ổn định.
Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo của Chứng khoán SHS cho thấy áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao khi chênh lệch giữa tín dụng và huy động vượt 1,9 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026. Đáng chú ý, tổng phương tiện thanh toán (M2) từng giảm khoảng 1,25 triệu tỷ đồng, phản ánh lượng tiền trong nền kinh tế bị thu hẹp, qua đó gia tăng áp lực huy động vốn.
VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.
Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.
Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Theo dự báo của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, áp lực thanh khoản hệ thống ngân hàng và xu hướng tăng của lãi suất chưa sớm chấm dứt, trong bối cảnh tăng trưởng huy động tiếp tục thấp hơn tín dụng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,850 14,050
Nguyên Liệu 99.9 13,800 14,000
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,250 14,650
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,200 14,600
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,130 14,580
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,700
NL 99.90 13,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 14/06/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17994 18268 18858
CAD 18273 18549 19165
CHF 32343 32726 33384
CNY 0 3848 3942
EUR 29799 30021 31102
GBP 34464 34856 35794
HKD 0 3226 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15035 15621
SGD 19935 20217 20801
THB 718 781 836
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,412
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 29,989 30,013 31,325
JPY 160.01 160.3 169.32
GBP 34,712 34,806 35,867
AUD 18,203 18,269 18,886
CAD 18,518 18,577 19,187
CHF 32,707 32,809 33,646
SGD 20,094 20,156 20,869
CNY - 3,825 3,956
HKD 3,298 3,308 3,433
KRW 15.98 16.67 18.06
THB 766.48 775.95 827.55
NZD 15,009 15,148 15,536
SEK - 2,742 2,828
DKK - 4,012 4,138
NOK - 2,726 2,811
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,069.64 - 6,823.74
TWD 752.62 - 908.21
SAR - 6,905.98 7,245.63
KWD - 83,539 88,540
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,412
EUR 29,898 30,018 31,205
GBP 34,676 34,815 35,833
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,520 32,651 33,566
JPY 160.23 160.87 168.69
AUD 18,194 18,267 18,859
SGD 20,143 20,224 20,808
THB 783 786 821
CAD 18,497 18,571 19,136
NZD 15,083 15,619
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26142 26142 26412
AUD 18185 18285 19210
CAD 18465 18565 19579
CHF 32668 32698 34276
CNY 3830.9 3855.9 3991.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30024 30054 31779
GBP 34804 34854 36615
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15151 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20119 20249 20977
THB 0 750 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 12000000 12000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,120 26,170 26,412
USD20 26,120 26,170 26,412
USD1 23,898 26,170 26,412
AUD 18,179 18,329 19,463
EUR 30,052 30,152 31,603
CAD 18,350 18,503 19,835
SGD 20,185 20,335 20,924
JPY 160.83 162.73 167.52
GBP 34,629 35,029 35,940
XAU 14,238,000 0 14,542,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/06/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80