Nâng chất lượng phân bổ dòng vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Việt Nam đang đứng trước cơ hội bứt tốc, "chuyển làn" sang quỹ đạo tăng trưởng mới. Theo đó, tín dụng được kỳ vọng là điểm tựa quan trọng, song mặt trái là rủi ro tăng trưởng "nóng" khiến nhiều ngưỡng an toàn bị thử thách. Điều này đòi hỏi chính sách tiền tệ hỗ trợ theo hướng thận trọng, ưu tiên thanh khoản và định hướng dòng vốn, hơn là cắt giảm lãi suất.
aa

Cơ hội bứt tốc

Triển vọng điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương, nhất là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), khó dự báo, đặc biệt khi nhiệm kỳ của Chủ tịch Fed sẽ kết thúc vào tháng 5/2026, tiềm ẩn tác động đến thị trường quốc tế. Dù vậy, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc gia vẫn đánh giá cao tiềm năng tăng trưởng trung hạn của Việt Nam.

Để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng 2 con số giai đoạn mới, theo tính toán của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), nền kinh tế Việt Nam cần bổ sung "nguồn nhiên liệu" khổng lồ, khoảng 250 - 350 tỷ USD, qua đó, nâng tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP từ 32% lên khoảng 40%.

Nâng chất lượng phân bổ dòng vốn
Năm 2025, tín dụng đạt mức tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua. Ảnh: Đức Thanh

Việt Nam là nền kinh tế dựa nhiều vào ngân hàng (bank-based economy), trong đó, dòng vốn tín dụng đóng vai trò "mạch dẫn" vốn chủ đạo. Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tăng trưởng tín dụng toàn ngành năm 2025 đạt khoảng 19%, mức cao nhất trong nhiều năm, đẩy dư nợ tín dụng/GDP của Việt Nam lên 146%, thuộc nhóm cao trong khu vực các nước có thu nhập trung bình thấp. Bước sang năm 2026, tín dụng tiếp tục được kỳ vọng tạo lực đẩy cho tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao.

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, việc đặt mục tiêu cao hơn qua từng năm giúp nền kinh tế trở nên thịnh vượng hơn, giàu có hơn. Cốt lõi nằm ở việc Việt Nam xác định đúng động lực và nguồn lực thực hiện, trong đó, tín dụng đóng vai trò kích hoạt và khuếch đại các nguồn lực nội tại của nền kinh tế.

"Vấn đề không nằm ở quy mô tín dụng đơn thuần, mà ở chất lượng phân bổ dòng vốn, hướng vào các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế" - TS. Châu Đình Linh nhấn mạnh.

Theo nhìn nhận của TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn cầu, mục tiêu GDP tăng trưởng 10% là rất cao. Khi GDP tăng trưởng nhanh, mặt lợi là giúp GDP bình quân đầu người ngày càng tăng và mở ra kỳ vọng trong vòng 20 năm tới, Việt Nam có thể gia nhập nhóm nước phát triển thu nhập cao.

"Nắn" tín dụng đi vào đúng trọng tâm

Với quyết tâm điều hành mạnh mẽ của Chính phủ, mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026 được đánh giá là khả thi, khi nền kinh tế hội tụ nhiều thời cơ thuận lợi.

Tham gia nhiều hội thảo đầu tư với các đối tác Trung Quốc, TS. Châu Đình Linh chia sẻ, Việt Nam được các nhà đầu tư đánh giá là điểm đến ưu tiên số 1 cho việc đặt nhà máy và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, sau những tác động từ chính sách thuế quan, xu hướng dịch chuyển dòng vốn càng trở nên rõ nét.

Tín dụng là bước đệm, tạo đà cho sản xuất

Tăng trưởng được thúc đẩy bởi dòng vốn tín dụng ngân hàng sẽ tiềm ẩn rủi ro nếu không đi kèm nỗ lực gia tăng năng lực sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa. Tín dụng chỉ là bước đệm, bước đà; đồng thời, cần khoanh vùng hợp lý để hạn chế rủi ro.

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

"Việt Nam cần xác định rõ các lĩnh vực xuất khẩu chủ lực, đồng thời "nắn" tín dụng đi vào đúng trọng tâm, kết hợp với sự hỗ trợ có chọn lọc của Chính phủ đối với các ngành ưu tiên, trọng tâm, trọng điểm. Những lĩnh vực này sẽ có điều kiện phát triển và từng bước chiếm lĩnh thị trường" - TS. Châu Đình Linh khuyến nghị.

Ở góc độ chính sách, việc triển khai những giải pháp sát thực để hiện thực hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Đề án Phát triển kinh tế nhà nước mang ý nghĩa then chốt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước lớn nhanh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Một điểm cần lưu tâm là dù "van" tín dụng đã mở rộng, nhưng dòng vốn chảy vào các động lực tăng trưởng chính vẫn hạn chế. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, năm 2025, tín dụng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 8,26%; tín dụng công nghiệp và xây dựng tăng 11,35%, thấp hơn mặt bằng chung; tín dụng dành cho nhóm thương mại, vận tải và viễn thông chỉ tăng 8,8%, đặc biệt thương mại chỉ đạt 7,89%.

Theo TS. Châu Đình Linh, tăng trưởng tín dụng chỉ thực sự bền vững khi gắn với nâng cao nội lực của doanh nghiệp và của nền kinh tế. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam tận dụng tốt cơ hội để trở thành mắt xích trong chuỗi cung ứng của khu vực FDI, doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn lớn, hình thành những sản phẩm đủ sức chiếm lĩnh thị trường.

Rủi ro "nóng hóa" tín dụng và lạm phát

Bên cạnh những lợi ích từ tăng trưởng GDP cao, TS. Nguyễn Trí Hiếu lưu ý, vấn đề đi kèm là tăng trưởng nóng, hậu quả có thể gây ra lạm phát. Vị chuyên gia này đồng tình về tỷ lệ 2/1, tức 1% tăng trưởng GDP cần 2% tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, khi phải đẩy một lượng tiền rất lớn vào lưu thông qua tín dụng sẽ tạo ra rủi ro. Nhiều tổ chức quốc tế từng cảnh cáo Việt Nam nhiều lần rằng, tỷ lệ cho vay trên GDP đã vượt ngưỡng.

Đồng quan điểm, GS.TS Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ở mức cao (8 - 10%), chính sách tiền tệ sẽ phải đối mặt với những áp lực đặc thù. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nếu tốc độ tăng tín dụng tiếp tục duy trì trên 13 - 14%/năm, lạm phát có thể tăng lên 4,5 - 5% trong năm 2026 - 2027.

"Nếu chính sách tiền tệ quá nới lỏng sẽ khuyến khích vay mượn ồ ạt, có thể vượt khả năng hấp thụ vốn đầu tư, tiềm ẩn dư thừa đầu tư, đầu tư kém hiệu quả, nợ xấu, bong bóng tài sản. Đồng thời, việc mở rộng cung tiền dễ dẫn đến áp lực lạm phát, đặc biệt nếu có cú sốc chi phí đầu vào hoặc bất ổn ngoại sinh" - GS.TS Trần Thọ Đạt phân tích.

Dự báo kịch bản điều hành năm 2026, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, Fed nới lỏng chính sách giúp giảm áp lực bên ngoài, nhưng bài toán trong nước năm 2026 lại nằm ở chỗ muốn tăng trưởng cao, thì nhu cầu vốn lớn, trong khi hệ thống ngân hàng có thể đã bước sang trạng thái "căng thanh khoản tương đối" sau một năm tín dụng tăng nhanh.

Điều này làm dư địa hạ lãi suất điều hành bị hạn chế, vì nếu hạ quá sớm có thể kích cầu tín dụng thêm, làm nóng tỷ giá hoặc đẩy rủi ro vào tài sản. Ngân hàng Nhà nước có thể hỗ trợ tăng trưởng, nhưng sẽ thiên về hỗ trợ bằng thanh khoản và định hướng dòng vốn hơn là cắt lãi suất mạnh.

"Bởi vậy, kịch bản hợp lý hơn là Ngân hàng Nhà nước giữ ổn định mặt bằng lãi suất điều hành, nhưng linh hoạt hơn ở công cụ điều tiết ngắn hạn (nghiệp vụ thị trường mở - OMO, tín phiếu, hoán đổi) để tránh sốc thanh khoản và giữ lãi suất thị trường 1 không tăng quá mạnh. Hướng nhìn này cũng tương đồng với một số nhận định rằng, Ngân hàng Nhà nước có xu hướng giữ lãi suất chính sách ổn định trong năm 2026 nếu lạm phát còn trong kiểm soát" - PGS.TS Nguyễn Hữu Huân nêu quan điểm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80