Nâng chất lượng phân bổ dòng vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Việt Nam đang đứng trước cơ hội bứt tốc, "chuyển làn" sang quỹ đạo tăng trưởng mới. Theo đó, tín dụng được kỳ vọng là điểm tựa quan trọng, song mặt trái là rủi ro tăng trưởng "nóng" khiến nhiều ngưỡng an toàn bị thử thách. Điều này đòi hỏi chính sách tiền tệ hỗ trợ theo hướng thận trọng, ưu tiên thanh khoản và định hướng dòng vốn, hơn là cắt giảm lãi suất.
aa

Cơ hội bứt tốc

Triển vọng điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương, nhất là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), khó dự báo, đặc biệt khi nhiệm kỳ của Chủ tịch Fed sẽ kết thúc vào tháng 5/2026, tiềm ẩn tác động đến thị trường quốc tế. Dù vậy, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc gia vẫn đánh giá cao tiềm năng tăng trưởng trung hạn của Việt Nam.

Để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng 2 con số giai đoạn mới, theo tính toán của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), nền kinh tế Việt Nam cần bổ sung "nguồn nhiên liệu" khổng lồ, khoảng 250 - 350 tỷ USD, qua đó, nâng tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP từ 32% lên khoảng 40%.

Nâng chất lượng phân bổ dòng vốn
Năm 2025, tín dụng đạt mức tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua. Ảnh: Đức Thanh

Việt Nam là nền kinh tế dựa nhiều vào ngân hàng (bank-based economy), trong đó, dòng vốn tín dụng đóng vai trò "mạch dẫn" vốn chủ đạo. Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tăng trưởng tín dụng toàn ngành năm 2025 đạt khoảng 19%, mức cao nhất trong nhiều năm, đẩy dư nợ tín dụng/GDP của Việt Nam lên 146%, thuộc nhóm cao trong khu vực các nước có thu nhập trung bình thấp. Bước sang năm 2026, tín dụng tiếp tục được kỳ vọng tạo lực đẩy cho tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao.

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, việc đặt mục tiêu cao hơn qua từng năm giúp nền kinh tế trở nên thịnh vượng hơn, giàu có hơn. Cốt lõi nằm ở việc Việt Nam xác định đúng động lực và nguồn lực thực hiện, trong đó, tín dụng đóng vai trò kích hoạt và khuếch đại các nguồn lực nội tại của nền kinh tế.

"Vấn đề không nằm ở quy mô tín dụng đơn thuần, mà ở chất lượng phân bổ dòng vốn, hướng vào các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế" - TS. Châu Đình Linh nhấn mạnh.

Theo nhìn nhận của TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn cầu, mục tiêu GDP tăng trưởng 10% là rất cao. Khi GDP tăng trưởng nhanh, mặt lợi là giúp GDP bình quân đầu người ngày càng tăng và mở ra kỳ vọng trong vòng 20 năm tới, Việt Nam có thể gia nhập nhóm nước phát triển thu nhập cao.

"Nắn" tín dụng đi vào đúng trọng tâm

Với quyết tâm điều hành mạnh mẽ của Chính phủ, mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026 được đánh giá là khả thi, khi nền kinh tế hội tụ nhiều thời cơ thuận lợi.

Tham gia nhiều hội thảo đầu tư với các đối tác Trung Quốc, TS. Châu Đình Linh chia sẻ, Việt Nam được các nhà đầu tư đánh giá là điểm đến ưu tiên số 1 cho việc đặt nhà máy và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, sau những tác động từ chính sách thuế quan, xu hướng dịch chuyển dòng vốn càng trở nên rõ nét.

Tín dụng là bước đệm, tạo đà cho sản xuất

Tăng trưởng được thúc đẩy bởi dòng vốn tín dụng ngân hàng sẽ tiềm ẩn rủi ro nếu không đi kèm nỗ lực gia tăng năng lực sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa. Tín dụng chỉ là bước đệm, bước đà; đồng thời, cần khoanh vùng hợp lý để hạn chế rủi ro.

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

"Việt Nam cần xác định rõ các lĩnh vực xuất khẩu chủ lực, đồng thời "nắn" tín dụng đi vào đúng trọng tâm, kết hợp với sự hỗ trợ có chọn lọc của Chính phủ đối với các ngành ưu tiên, trọng tâm, trọng điểm. Những lĩnh vực này sẽ có điều kiện phát triển và từng bước chiếm lĩnh thị trường" - TS. Châu Đình Linh khuyến nghị.

Ở góc độ chính sách, việc triển khai những giải pháp sát thực để hiện thực hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Đề án Phát triển kinh tế nhà nước mang ý nghĩa then chốt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước lớn nhanh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Một điểm cần lưu tâm là dù "van" tín dụng đã mở rộng, nhưng dòng vốn chảy vào các động lực tăng trưởng chính vẫn hạn chế. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, năm 2025, tín dụng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 8,26%; tín dụng công nghiệp và xây dựng tăng 11,35%, thấp hơn mặt bằng chung; tín dụng dành cho nhóm thương mại, vận tải và viễn thông chỉ tăng 8,8%, đặc biệt thương mại chỉ đạt 7,89%.

Theo TS. Châu Đình Linh, tăng trưởng tín dụng chỉ thực sự bền vững khi gắn với nâng cao nội lực của doanh nghiệp và của nền kinh tế. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam tận dụng tốt cơ hội để trở thành mắt xích trong chuỗi cung ứng của khu vực FDI, doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn lớn, hình thành những sản phẩm đủ sức chiếm lĩnh thị trường.

Rủi ro "nóng hóa" tín dụng và lạm phát

Bên cạnh những lợi ích từ tăng trưởng GDP cao, TS. Nguyễn Trí Hiếu lưu ý, vấn đề đi kèm là tăng trưởng nóng, hậu quả có thể gây ra lạm phát. Vị chuyên gia này đồng tình về tỷ lệ 2/1, tức 1% tăng trưởng GDP cần 2% tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, khi phải đẩy một lượng tiền rất lớn vào lưu thông qua tín dụng sẽ tạo ra rủi ro. Nhiều tổ chức quốc tế từng cảnh cáo Việt Nam nhiều lần rằng, tỷ lệ cho vay trên GDP đã vượt ngưỡng.

Đồng quan điểm, GS.TS Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ở mức cao (8 - 10%), chính sách tiền tệ sẽ phải đối mặt với những áp lực đặc thù. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nếu tốc độ tăng tín dụng tiếp tục duy trì trên 13 - 14%/năm, lạm phát có thể tăng lên 4,5 - 5% trong năm 2026 - 2027.

"Nếu chính sách tiền tệ quá nới lỏng sẽ khuyến khích vay mượn ồ ạt, có thể vượt khả năng hấp thụ vốn đầu tư, tiềm ẩn dư thừa đầu tư, đầu tư kém hiệu quả, nợ xấu, bong bóng tài sản. Đồng thời, việc mở rộng cung tiền dễ dẫn đến áp lực lạm phát, đặc biệt nếu có cú sốc chi phí đầu vào hoặc bất ổn ngoại sinh" - GS.TS Trần Thọ Đạt phân tích.

Dự báo kịch bản điều hành năm 2026, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, Fed nới lỏng chính sách giúp giảm áp lực bên ngoài, nhưng bài toán trong nước năm 2026 lại nằm ở chỗ muốn tăng trưởng cao, thì nhu cầu vốn lớn, trong khi hệ thống ngân hàng có thể đã bước sang trạng thái "căng thanh khoản tương đối" sau một năm tín dụng tăng nhanh.

Điều này làm dư địa hạ lãi suất điều hành bị hạn chế, vì nếu hạ quá sớm có thể kích cầu tín dụng thêm, làm nóng tỷ giá hoặc đẩy rủi ro vào tài sản. Ngân hàng Nhà nước có thể hỗ trợ tăng trưởng, nhưng sẽ thiên về hỗ trợ bằng thanh khoản và định hướng dòng vốn hơn là cắt lãi suất mạnh.

"Bởi vậy, kịch bản hợp lý hơn là Ngân hàng Nhà nước giữ ổn định mặt bằng lãi suất điều hành, nhưng linh hoạt hơn ở công cụ điều tiết ngắn hạn (nghiệp vụ thị trường mở - OMO, tín phiếu, hoán đổi) để tránh sốc thanh khoản và giữ lãi suất thị trường 1 không tăng quá mạnh. Hướng nhìn này cũng tương đồng với một số nhận định rằng, Ngân hàng Nhà nước có xu hướng giữ lãi suất chính sách ổn định trong năm 2026 nếu lạm phát còn trong kiểm soát" - PGS.TS Nguyễn Hữu Huân nêu quan điểm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

MIC 360: Đột phá giải pháp bảo hiểm “quốc dân”, bảo vệ toàn diện hộ kinh doanh và gia đình Việt

MIC 360: Đột phá giải pháp bảo hiểm “quốc dân”, bảo vệ toàn diện hộ kinh doanh và gia đình Việt

(TBTCO) - Trong bối cảnh rủi ro thiên tai và biến cố sức khỏe ngày càng phức tạp, Bảo hiểm Quân đội (MIC) chính thức ra mắt bộ sản phẩm MIC 360. Với mức phí chỉ từ 100.000 đồng/năm cùng quy trình bồi thường online “không hóa đơn”, sản phẩm được kỳ vọng sẽ thay đổi định kiến về bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam.
Sun Life Việt Nam ra mắt Bảo hiểm hưu trí Sun Life, giúp doanh nghiệp kiến tạo phúc lợi dài hạn trong cuộc đua giữ chân nhân tài

Sun Life Việt Nam ra mắt Bảo hiểm hưu trí Sun Life, giúp doanh nghiệp kiến tạo phúc lợi dài hạn trong cuộc đua giữ chân nhân tài

(TBTCO) - Với nhiều năm kinh nghiệm trong việc cung cấp các giải pháp hưu trí trên thị trường, Sun Life Việt Nam tiếp tục cho ra mắt sản phẩm Bảo hiểm hưu trí Sun Life - giải pháp phúc lợi hưu trí mới với nhiều quyền lợi được cải tiến nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng chính sách phúc lợi dài hạn của doanh nghiệp. Sản phẩm còn hỗ trợ người lao động chủ động bảo vệ rủi ro trong thời gian làm việc, đồng thời tích lũy tài chính vững vàng cho giai đoạn nghỉ hưu.
Hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm

Hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm

(TBTCO) - Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 928/QĐ-TTg ngày 25/5/2026, với mục tiêu hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm, góp phần nâng cao đời sống của người dân, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Rox Living “đảo chiều” giao dịch tại MSB, dự chi nghìn tỷ đồng gom thêm 100 triệu cổ phiếu

Rox Living “đảo chiều” giao dịch tại MSB, dự chi nghìn tỷ đồng gom thêm 100 triệu cổ phiếu

(TBTCO) - Công ty cổ phần Rox Living không bán ra cổ phiếu MSB nào trong hơn 31,15 triệu cổ phiếu đã đăng ký trước đó, đồng thời tiếp tục đăng ký mua thêm 100 triệu cổ phiếu MSB nhằm nâng tỷ lệ sở hữu lên hơn 4,2% vốn điều lệ tại Ngân hàng MSB. Hiện MSB có nhiều cổ đông tổ chức lớn nắm giữ từ 2 - 6% vốn điều lệ.
Tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn

Tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn

(TBTCO) - Nhóm phân tích của VPBankS cho rằng, tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) sử dụng thay thế cho tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn là chỉ tiêu đánh giá toàn diện và nhạy cảm với rủi ro hơn, đồng thời khuyến khích các ngân hàng từng bước kéo dài kỳ hạn huy động, tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn.
Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

(TBTCO) - Tín dụng kinh doanh bất động sản quý đầu năm đang dần giảm nhiệt khi nhiều ngân hàng chủ động hãm đà cho vay dưới áp lực siết room tín dụng, thậm chí đã có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ giảm so với đầu năm. Tuy nhiên, việc giảm phụ thuộc vào lĩnh vực này vẫn không dễ, khi dư nợ bất động sản tại nhiều ngân hàng tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng.
Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

(TBTCO) - Ngày 25/5/2026, Công ty cổ phần Vinhomes chính thức triển khai chương trình hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản, góp phần đưa nguồn vàng nhàn rỗi đang tích trữ trong dân trở thành dòng vốn năng động phục vụ tăng trưởng. Chương trình được triển khai trong 5 năm, với sự đồng hành của các công ty vàng bạc đá quý nhằm bảo đảm an toàn tối đa về quyền lợi và giá trị tài sản cho khách hàng.
Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

(TBTCO) - Sự nhập cuộc ngày càng mạnh mẽ của các ngân hàng đang khiến thị trường bảo hiểm phi nhân thọ bước vào một giai đoạn cạnh tranh mới. Khi nhóm doanh nghiệp gắn với ngân hàng đã nắm khoảng 35% thị phần, “ván cờ” thị phần trở nên khó đoán hơn, kéo theo những tính toán chiến lược mới của doanh nghiệp hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,850 16,150
Kim TT/AVPL 15,850 16,150
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,850 16,150
Nguyên Liệu 99.99 14,850 15,050
Nguyên Liệu 99.9 14,800 15,000
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,600 16,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,550 15,950
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,480 15,930
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,500 161,500
Hà Nội - PNJ 158,500 161,500
Đà Nẵng - PNJ 158,500 161,500
Miền Tây - PNJ 158,500 161,500
Tây Nguyên - PNJ 158,500 161,500
Đông Nam Bộ - PNJ 158,500 161,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 16,150
Miếng SJC Nghệ An 15,850 16,150
Miếng SJC Thái Bình 15,850 16,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 16,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 16,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 16,150
NL 99.90 14,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500
Trang sức 99.9 15,340 16,040
Trang sức 99.99 15,350 16,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,585 16,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,585 16,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 161
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 1,611
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 1,595
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 157,921
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 119,787
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 108,621
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 97,455
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 93,148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 66,668
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 1,615
Cập nhật: 27/05/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18335 18611 19184
CAD 18554 18831 19447
CHF 32936 33321 33961
CNY 0 3842 3934
EUR 30037 30310 31335
GBP 34712 35105 36031
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15086 15671
SGD 20071 20354 20882
THB 722 785 839
USD (1,2) 26079 0 0
USD (5,10,20) 26120 0 0
USD (50,100) 26148 26163 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,164 26,164 26,394
USD(1-2-5) 25,118 - -
USD(10-20) 25,118 - -
EUR 30,223 30,247 31,506
JPY 161.52 161.81 170.6
GBP 34,965 35,060 36,073
AUD 18,580 18,647 19,241
CAD 18,773 18,833 19,415
CHF 33,263 33,366 34,144
SGD 20,256 20,319 20,998
CNY - 3,821 3,944
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.21 16.9 18.27
THB 773.13 782.68 833.14
NZD 15,120 15,260 15,624
SEK - 2,791 2,872
DKK - 4,044 4,163
NOK - 2,798 2,885
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,226.83 - 6,990.8
TWD 757.96 - 912.92
SAR - 6,922.12 7,248.72
KWD - 83,835 88,684
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,144 26,164 26,394
EUR 30,109 30,230 31,409
GBP 34,938 35,078 36,087
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,062 33,195 34,131
JPY 161.90 162.55 169.87
AUD 18,546 18,620 19,210
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 790 793 828
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,196 15,729
KRW 16.75 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26190 26190 26394
AUD 18518 18618 19541
CAD 18735 18835 19849
CHF 33185 33215 34794
CNY 3822 3847 3982.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30211 30241 31966
GBP 34997 35047 36818
HKD 0 3355 0
JPY 161.96 162.46 173
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15194 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20228 20358 21086
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15850000 15850000 16150000
SBJ 14000000 14000000 16150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,178 26,228 26,394
USD20 26,178 26,228 26,394
USD1 26,178 26,228 26,394
AUD 18,565 18,665 19,775
EUR 30,348 30,348 31,754
CAD 18,676 18,776 20,081
SGD 20,312 20,462 21,027
JPY 162.51 164.01 170
GBP 34,885 35,235 36,097
XAU 15,848,000 0 16,152,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/05/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80