Nâng chất lượng phân bổ dòng vốn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Việt Nam đang đứng trước cơ hội bứt tốc, "chuyển làn" sang quỹ đạo tăng trưởng mới. Theo đó, tín dụng được kỳ vọng là điểm tựa quan trọng, song mặt trái là rủi ro tăng trưởng "nóng" khiến nhiều ngưỡng an toàn bị thử thách. Điều này đòi hỏi chính sách tiền tệ hỗ trợ theo hướng thận trọng, ưu tiên thanh khoản và định hướng dòng vốn, hơn là cắt giảm lãi suất.
aa

Cơ hội bứt tốc

Triển vọng điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương, nhất là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), khó dự báo, đặc biệt khi nhiệm kỳ của Chủ tịch Fed sẽ kết thúc vào tháng 5/2026, tiềm ẩn tác động đến thị trường quốc tế. Dù vậy, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc gia vẫn đánh giá cao tiềm năng tăng trưởng trung hạn của Việt Nam.

Để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng 2 con số giai đoạn mới, theo tính toán của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), nền kinh tế Việt Nam cần bổ sung "nguồn nhiên liệu" khổng lồ, khoảng 250 - 350 tỷ USD, qua đó, nâng tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP từ 32% lên khoảng 40%.

Nâng chất lượng phân bổ dòng vốn
Năm 2025, tín dụng đạt mức tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua. Ảnh: Đức Thanh

Việt Nam là nền kinh tế dựa nhiều vào ngân hàng (bank-based economy), trong đó, dòng vốn tín dụng đóng vai trò "mạch dẫn" vốn chủ đạo. Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tăng trưởng tín dụng toàn ngành năm 2025 đạt khoảng 19%, mức cao nhất trong nhiều năm, đẩy dư nợ tín dụng/GDP của Việt Nam lên 146%, thuộc nhóm cao trong khu vực các nước có thu nhập trung bình thấp. Bước sang năm 2026, tín dụng tiếp tục được kỳ vọng tạo lực đẩy cho tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao.

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, việc đặt mục tiêu cao hơn qua từng năm giúp nền kinh tế trở nên thịnh vượng hơn, giàu có hơn. Cốt lõi nằm ở việc Việt Nam xác định đúng động lực và nguồn lực thực hiện, trong đó, tín dụng đóng vai trò kích hoạt và khuếch đại các nguồn lực nội tại của nền kinh tế.

"Vấn đề không nằm ở quy mô tín dụng đơn thuần, mà ở chất lượng phân bổ dòng vốn, hướng vào các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế" - TS. Châu Đình Linh nhấn mạnh.

Theo nhìn nhận của TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn cầu, mục tiêu GDP tăng trưởng 10% là rất cao. Khi GDP tăng trưởng nhanh, mặt lợi là giúp GDP bình quân đầu người ngày càng tăng và mở ra kỳ vọng trong vòng 20 năm tới, Việt Nam có thể gia nhập nhóm nước phát triển thu nhập cao.

"Nắn" tín dụng đi vào đúng trọng tâm

Với quyết tâm điều hành mạnh mẽ của Chính phủ, mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026 được đánh giá là khả thi, khi nền kinh tế hội tụ nhiều thời cơ thuận lợi.

Tham gia nhiều hội thảo đầu tư với các đối tác Trung Quốc, TS. Châu Đình Linh chia sẻ, Việt Nam được các nhà đầu tư đánh giá là điểm đến ưu tiên số 1 cho việc đặt nhà máy và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, sau những tác động từ chính sách thuế quan, xu hướng dịch chuyển dòng vốn càng trở nên rõ nét.

Tín dụng là bước đệm, tạo đà cho sản xuất

Tăng trưởng được thúc đẩy bởi dòng vốn tín dụng ngân hàng sẽ tiềm ẩn rủi ro nếu không đi kèm nỗ lực gia tăng năng lực sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa. Tín dụng chỉ là bước đệm, bước đà; đồng thời, cần khoanh vùng hợp lý để hạn chế rủi ro.

TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

"Việt Nam cần xác định rõ các lĩnh vực xuất khẩu chủ lực, đồng thời "nắn" tín dụng đi vào đúng trọng tâm, kết hợp với sự hỗ trợ có chọn lọc của Chính phủ đối với các ngành ưu tiên, trọng tâm, trọng điểm. Những lĩnh vực này sẽ có điều kiện phát triển và từng bước chiếm lĩnh thị trường" - TS. Châu Đình Linh khuyến nghị.

Ở góc độ chính sách, việc triển khai những giải pháp sát thực để hiện thực hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Đề án Phát triển kinh tế nhà nước mang ý nghĩa then chốt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước lớn nhanh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Một điểm cần lưu tâm là dù "van" tín dụng đã mở rộng, nhưng dòng vốn chảy vào các động lực tăng trưởng chính vẫn hạn chế. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, năm 2025, tín dụng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 8,26%; tín dụng công nghiệp và xây dựng tăng 11,35%, thấp hơn mặt bằng chung; tín dụng dành cho nhóm thương mại, vận tải và viễn thông chỉ tăng 8,8%, đặc biệt thương mại chỉ đạt 7,89%.

Theo TS. Châu Đình Linh, tăng trưởng tín dụng chỉ thực sự bền vững khi gắn với nâng cao nội lực của doanh nghiệp và của nền kinh tế. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam tận dụng tốt cơ hội để trở thành mắt xích trong chuỗi cung ứng của khu vực FDI, doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn lớn, hình thành những sản phẩm đủ sức chiếm lĩnh thị trường.

Rủi ro "nóng hóa" tín dụng và lạm phát

Bên cạnh những lợi ích từ tăng trưởng GDP cao, TS. Nguyễn Trí Hiếu lưu ý, vấn đề đi kèm là tăng trưởng nóng, hậu quả có thể gây ra lạm phát. Vị chuyên gia này đồng tình về tỷ lệ 2/1, tức 1% tăng trưởng GDP cần 2% tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, khi phải đẩy một lượng tiền rất lớn vào lưu thông qua tín dụng sẽ tạo ra rủi ro. Nhiều tổ chức quốc tế từng cảnh cáo Việt Nam nhiều lần rằng, tỷ lệ cho vay trên GDP đã vượt ngưỡng.

Đồng quan điểm, GS.TS Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ở mức cao (8 - 10%), chính sách tiền tệ sẽ phải đối mặt với những áp lực đặc thù. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nếu tốc độ tăng tín dụng tiếp tục duy trì trên 13 - 14%/năm, lạm phát có thể tăng lên 4,5 - 5% trong năm 2026 - 2027.

"Nếu chính sách tiền tệ quá nới lỏng sẽ khuyến khích vay mượn ồ ạt, có thể vượt khả năng hấp thụ vốn đầu tư, tiềm ẩn dư thừa đầu tư, đầu tư kém hiệu quả, nợ xấu, bong bóng tài sản. Đồng thời, việc mở rộng cung tiền dễ dẫn đến áp lực lạm phát, đặc biệt nếu có cú sốc chi phí đầu vào hoặc bất ổn ngoại sinh" - GS.TS Trần Thọ Đạt phân tích.

Dự báo kịch bản điều hành năm 2026, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, Fed nới lỏng chính sách giúp giảm áp lực bên ngoài, nhưng bài toán trong nước năm 2026 lại nằm ở chỗ muốn tăng trưởng cao, thì nhu cầu vốn lớn, trong khi hệ thống ngân hàng có thể đã bước sang trạng thái "căng thanh khoản tương đối" sau một năm tín dụng tăng nhanh.

Điều này làm dư địa hạ lãi suất điều hành bị hạn chế, vì nếu hạ quá sớm có thể kích cầu tín dụng thêm, làm nóng tỷ giá hoặc đẩy rủi ro vào tài sản. Ngân hàng Nhà nước có thể hỗ trợ tăng trưởng, nhưng sẽ thiên về hỗ trợ bằng thanh khoản và định hướng dòng vốn hơn là cắt lãi suất mạnh.

"Bởi vậy, kịch bản hợp lý hơn là Ngân hàng Nhà nước giữ ổn định mặt bằng lãi suất điều hành, nhưng linh hoạt hơn ở công cụ điều tiết ngắn hạn (nghiệp vụ thị trường mở - OMO, tín phiếu, hoán đổi) để tránh sốc thanh khoản và giữ lãi suất thị trường 1 không tăng quá mạnh. Hướng nhìn này cũng tương đồng với một số nhận định rằng, Ngân hàng Nhà nước có xu hướng giữ lãi suất chính sách ổn định trong năm 2026 nếu lạm phát còn trong kiểm soát" - PGS.TS Nguyễn Hữu Huân nêu quan điểm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 146,500
Hà Nội - PNJ 143,500 146,500
Đà Nẵng - PNJ 143,500 146,500
Miền Tây - PNJ 143,500 146,500
Tây Nguyên - PNJ 143,500 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 14,650
Miếng SJC Nghệ An 14,350 14,650
Miếng SJC Thái Bình 14,350 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 14,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 14,653
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 143,564
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 9,876
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 88,609
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 84,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 60,621
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cập nhật: 17/09/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18002 18276 18855
CAD 18131 18406 19025
CHF 31089 31467 32114
CNY 0 3833 3929
EUR 29359 29580 30663
GBP 34216 34607 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14665 15250
SGD 19875 20157 20729
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26185
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18185 18285 19207
CAD 18314 18414 19429
CHF 31333 31363 32945
CNY 3816.2 3841.2 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29553 29583 31305
GBP 34518 34568 36326
HKD 0 3305 0
JPY 164.12 164.62 175.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14765 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20037 20167 20890
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 17/09/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30