Quảng Ninh cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng hiện đại

Tiến Dũng
Trong chiến lược phát triển của tỉnh Quảng Ninh, cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng hiện đại đã được xác định là một trong những mục tiêu trọng tâm giai đoạn 2025 - 2030. Định hướng của tỉnh là phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, đồng thời thúc đẩy các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao và năng lượng tái tạo.
aa
Quảng Ninh: Tổ chức hàng trăm chuyến xe miễn phí đưa công nhân mỏ về quê đón tết Quảng Ninh đặt mục tiêu thu ngân sách 86.000 tỷ đồng trong năm 2026 Thuế tỉnh Quảng Ninh triển khai các giải pháp quản lý thuế mạnh mẽ ngay từ đầu năm Quảng Ninh phát triển toàn diện kinh tế biển

Đổi mới và phát triển các ngành công nghiệp

Trong giai đoạn 2025 - 2030, Quảng Ninh đặt mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GRDP (tổng sản phẩm trên địa bàn) đạt trên 12%/năm; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP đạt trên 18%. Đây là những chỉ tiêu rất cao, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn từ chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và cộng đồng. Quảng Ninh xác định, nếu có thể đạt được những mục tiêu này, tỉnh sẽ vững vàng hơn trong việc phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

Một trong những mục tiêu quan trọng của Quảng Ninh trong việc cơ cấu lại ngành công nghiệp là thúc đẩy các ngành công nghiệp mũi nhọn, bao gồm công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghệ cao. Tỉnh đã nhận diện rõ ràng vai trò đặc biệt của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quá trình phát triển bền vững. Ngành này không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, mà còn tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động, đóng góp vào sự chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh.

Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang được tỉnh đặc biệt chú trọng phát triển tại các khu công nghiệp (KCN) và khu kinh tế (KKT) trên địa bàn, như KCN Sông Khoai, KCN Bắc Tiền Phong và KCN Nam Tiền Phong. Những KCN này được đầu tư đồng bộ về hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia sản xuất, kinh doanh.

Quảng Ninh cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng hiện đại
Nhà máy sản xuất tấm Silic Jinko Solar tại KCN Sông Khoai, tỉnh Quảng Ninh. Ảnh T.D

Theo lãnh đạo Ban Quản lý KKT tỉnh Quảng Ninh, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh tập trung chủ yếu ở các KCN, KKT nên hằng năm, đơn vị đều xây dựng các phương án, kịch bản để hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp hoàn thiện các thủ tục, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, mở rộng nhà xưởng sản xuất, mở rộng thị trường; đồng thời tham mưu xây dựng cho tỉnh các chương trình xúc tiến, hỗ trợ đầu tư nước ngoài trong việc thu hút, mời gọi nhà đầu tư.

Các dự án lớn như Nhà máy Yaskawa Việt Nam Mechatronics System tại KCN Sông Khoai (tổng vốn đầu tư 49,2 triệu USD) hay Nhà máy Sản xuất cơ khí chính xác Castem Việt Nam (tổng vốn đầu tư 18,6 triệu USD) là những minh chứng rõ ràng cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Quảng Ninh.

Một trong những yếu tố quan trọng giúp Quảng Ninh đạt được mục tiêu phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tỉnh đã và đang tích cực triển khai các chính sách thu hút đầu tư, với mục tiêu thu hút từ 2 - 2,5 tỷ USD vốn FDI mỗi năm.

Để đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp trong thời gian tới, Quảng Ninh cũng đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, chế biến chế tạo, năng lượng tái tạo và dịch vụ logistics. Tỉnh đã phối hợp với các trường đại học và các cơ sở đào tạo để cung cấp đội ngũ lao động có trình độ cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành công nghiệp mũi nhọn.

Phát triển công nghiệp xanh và bền vững

Một chiến lược quan trọng trong cơ cấu lại ngành công nghiệp của Quảng Ninh là phát triển công nghiệp xanh, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Tỉnh đã bắt đầu triển khai các dự án năng lượng tái tạo như nhà máy điện gió, điện khí LNG và các dự án điện sinh khối. Những dự án này không chỉ giúp cung cấp năng lượng bền vững cho sự phát triển của các ngành công nghiệp, mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng đang hướng tới việc sử dụng công nghệ tiên tiến, giảm thiểu chất thải và tối ưu hóa quy trình sản xuất để giảm thiểu tác động đến môi trường. Quảng Ninh kỳ vọng, với sự chuyển đổi này, tỉnh sẽ trở thành một trong những địa phương đi đầu trong việc phát triển công nghiệp xanh và bền vững của cả nước.

Những kết quả đạt được trong quá trình cơ cấu lại ngành công nghiệp của Quảng Ninh là rất rõ ràng. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã có bước phát triển mạnh mẽ, không chỉ về quy mô mà còn về chất lượng. Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã duy trì ở mức trên 20% mỗi năm, đóng góp quan trọng vào ngân sách của tỉnh và tạo ra hàng nghìn việc làm mới. Tỉnh cũng đã thu hút hàng tỷ USD vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Quảng Ninh cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng hiện đại
Quảng Ninh đặt mục tiêu tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP giai đoạn 2025 - 2030 đạt trên 18%. Ảnh Đ.P

Trong tương lai, Quảng Ninh sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp công nghệ cao, hướng đến nền công nghiệp hiện đại và bền vững. Với những chiến lược phát triển rõ ràng và các dự án công nghiệp trọng điểm, Quảng Ninh sẽ tiếp tục khẳng định vai trò là một trung tâm công nghiệp của khu vực phía Bắc và cả nước.

Có thể thấy, Quảng Ninh đã và đang thực hiện một bước chuyển mình mạnh mẽ trong việc cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững. Tỉnh không chỉ chú trọng phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, mà còn đẩy mạnh các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao, năng lượng tái tạo, nhằm xây dựng một nền kinh tế xanh, sáng tạo và bền vững./.

Tiến Dũng

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80