Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất huy động quý cuối năm 2025 tăng rầm rập khi 38 ngân hàng đồng loạt tăng, đẩy mặt bằng lãi suất vượt 7%/năm, trong khi kỳ hạn ngắn chạm trần. Cùng lúc, lãi suất liên ngân hàng dậy sóng, kỳ hạn 1 tuần vọt lên 8,61%/năm với doanh số kỷ lục gần 1,3 triệu tỷ đồng, cho thấy hệ thống nhạy cảm trước biến động lãi suất khi huy động "hụt hơi" so với tín dụng.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ

Lãi suất huy động tăng tới 2%/năm, kỳ hạn ngắn kịch trần

Khảo sát của phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam đối với biểu lãi suất huy động của các ngân hàng niêm yết ngày 5/1 cho thấy, nhiều ngân hàng chưa ngơi nghỉ trong "cuộc đua" lãi suất huy động, tập trung vào kỳ hạn 6 tháng - kỳ hạn “vàng” được người gửi tiền ưa chuộng. Trong bối cảnh đó, người dân có thêm nhiều lựa chọn, linh hoạt "chọn mặt gửi vàng" tại những ngân hàng đang nâng lãi suất tiền gửi.

Tăng trưởng huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, liên ngân hàng vọt lên gần 9%
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Đáng chú ý, trong tuần cuối năm 2025, VPBank bứt phá lên mốc 6%/năm ở kỳ hạn 6 tháng, tăng 0,2 điểm phần trăm, qua đó, thiết lập mặt bằng lãi suất mới cao hơn mặt bằng chung. Public Bank cũng thể hiện rõ chiến lược “chạy nước rút” khi điều chỉnh tăng mạnh 0,3 điểm phần trăm, trong khi Sacombank chọn bước đi thận trọng hơn với mức tăng 0,1 điểm phần trăm.

Tính chung quý IV/2025, bức tranh huy động vốn không chỉ sôi động ở việc 38 ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất, mà điểm nhấn thực sự nằm ở 11 nhà băng “chơi lớn”, với biên độ điều chỉnh trên 1 - 2,1 điểm phần trăm so với đầu quý. Chính nhóm này đã kéo mặt bằng lãi suất đi lên rõ rệt, tạo nên một cuộc đua huy động quyết liệt và hiếm thấy trong giai đoạn cuối năm.

Minh chứng rõ nét nhất cho "cơn khát" thanh khoản của hệ thống vào quý IV/2025 là PGBank với mức tăng cao nhất nhóm khảo sát, lên tới 2,1 điểm phần trăm chỉ trong 3 tháng, lên mức 7,1%/năm, vượt trội so với thị trường.

Theo sau là hàng loạt ngân hàng, từ OCB, PVcomBank... đều "đạp ga" tăng 1,3 điểm phần trăm.

Nhóm bám đuổi gồm: BacABank, VikkiBank, BVBank... cũng nhờ đà tăng mạnh trên 1% mà chính thức gia nhập "câu lạc bộ 6%" nhằm hút dòng tiền nhàn rỗi cực mạnh. Đáng chú ý, ngay cả những ngân hàng lớn như VPBank, ACB, cũng tăng trên 1%, đưa lãi suất huy động lên lần lượt 6%/năm và 4,5%/năm, cho thấy áp lực giữ chân khách hàng là bắt buộc đối với mọi quy mô ngân hàng.

Với kỳ hạn ngắn như 1 tháng, động thái của VIB đặc biệt đáng chú ý khi lãi suất kỳ hạn 1 tháng được đẩy lên 4,75%/năm, tăng mạnh 1,25 điểm phần trăm so với tuần trước. Đây là mức điều chỉnh hiếm thấy ở kỳ hạn rất ngắn.

Bức tranh huy động vốn quý IV/2025 kỳ hạn 1 tháng không kém phần sôi động, không chỉ dừng lại ở quy mô rộng lớn với 37 nhà băng tham gia, mà còn ghi nhận 10 ngân hàng đều chạm mốc 4,75%/năm. Đây là mức "kịch trần" quy định cho tiền gửi từ trên 1 tháng đến dưới 6 tháng.

Đáng chú ý, Sacombank với biên độ tăng kỷ lục 1,95 điểm phần trăm chỉ trong một quý nhằm hút khách hàng. Theo sau là PVcomBank, PGBank, VIB với mức tăng dồn dập lần lượt là 1,75 điểm phần trăm; 1,35 điểm phần trăm và 1,25 điểm phần trăm.

Việc các nhà băng đồng loạt chấp nhận trả mức giá cao nhất cho kỳ hạn 1 tháng cho thấy nhu cầu cấp bách về nguồn vốn để đáp ứng việc chi trả, thanh toán mùa cao điểm Tết.

Lãi suất liên ngân hàng dậy sóng, giao dịch kỷ lục trên 2 triệu tỷ đồng

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 24/12/2025, tổng dư nợ tín dụng đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87 % so với cuối năm 2024 và tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước.

Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng, nhu cầu vốn cuối năm tăng mạnh khiến lãi suất chịu áp lực. Trong khi đó, huy động vốn chỉ tăng 14,11%, thấp hơn nhiều so với tín dụng 17,87%. Bên cạnh đó, huy động còn chịu cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác, buộc ngân hàng phải điều chỉnh lãi suất để bảo đảm thanh khoản.

Bên cạnh đó, lãi suất liên ngân hàng cũng dậy sóng, lên mức cao kỷ lục. Thống kê từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngày 31/12, lãi suất liên ngân hàng phản ánh rõ trạng thái căng thẳng thanh khoản ngắn hạn tại thời điểm khóa sổ năm tài chính. Lãi suất qua đêm ở mức 1,77%/năm, hạ nhiệt đáng kể so với mức 7% trước đó, nhưng doanh số lên tới hơn 867.000 tỷ đồng, cho thấy nhu cầu cân đối thanh khoản tức thời rất lớn trong ngày cuối năm.

Đáng chú ý, các kỳ hạn ngắn ghi nhận lãi suất tăng vọt. Trong đó, kỳ hạn 1 tuần lên tới 8,61%/năm; kèm theo khối lượng giao dịch lớn kỷ lục gần 1,3 triệu tỷ đồng. Các kỳ hạn dài hơn cũng dao động 7 - 8,5%.

Huy động
Dù đánh giá cao sự linh hoạt của cơ quan điều hành, Chứng khoán BSC nhận thấy, các biện pháp này chưa thể giải quyết vấn đề cốt lõi của chênh lệch giữa tín dụng và huy động trên thị trường 1, khiến lãi suất thị trường 1 dự kiến tiếp tục tăng, còn lãi suất thị trường 2 duy trì ở mức cao cho đến khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất USD một cách đáng kể hơn.

Năm 2025 đã khép lại và ghi nhận nhiều con số kỷ lục đối với thị trường liên ngân hàng được Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) điểm lại.

Đó là hơn 390.000 tỷ đồng nghiệp vụ thị trường mở (OMO) lưu hành; hơn 70 nghìn tỷ đồng qua hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn USD.

Cùng với đó, khoảng 780.000 tỷ đồng tiền tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các tổ chức tín dụng yếu kém; khoảng 450.000 tỷ đồng tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại nhóm ngân hàng quốc doanh (có thời điểm vượt 500.000 tỷ đồng).

Dù vậy, tình trạng thiếu thanh khoản trong hệ thống vẫn diễn ra; cộng thêm yếu tố mùa vụ về cuối năm khiến lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 2 tuần lên hơn 8%, cao hơn cả mức trung bình lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng trên thị trường tiền gửi. Việc bơm thanh khoản qua nghiệp vụ OMO gặp giới hạn, vì nguồn tài sản đảm bảo là trái phiếu chính phủ mà các ngân hàng nắm giữ đang cạn dần, trong khi tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước chỉ dành cho 4 ngân hàng đang tham gia tái cơ cấu.

Trong bối cảnh đó, ngày 5/12/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lần đầu tiên sử dụng công cụ hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn. Theo đó, nhận hoán đổi USD với VND kỳ hạn 14 ngày, quy mô ban đầu 500 triệu USD, với lãi suất hoán đổi khoảng 1,1% (tương đương lãi suất VND khoảng 5%). Động thái này được BSC đánh giá là hợp lý khi huy động USD của các ngân hàng tăng trưởng rất tốt từ đầu năm, vượt 20% tính từ đầu năm đến nay.

Thống kê cũng cho thấy, tỷ lệ dư nợ cho vay/tiền gửi (LDR) tại nhóm ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng tư nhân quy mô lớn đang ở mức cao nhất trong 12 quý gần đây, khoảng 100%.

"Việc thiếu nguồn huy động thị trường 1 đang khiến các ngân hàng nói chung phải sử dụng nguồn thị trường 2 để cân đối LDR theo quy định (với trần 85% theo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN)" - Chứng khoán BSC nêu rõ./.

Ba rủi ro âm thầm tích tụ

"Rủi ro tiềm ẩn sẽ lớn dần nếu tình trạng huy động “hụt hơi” so với tín dụng kéo dài. Thứ nhất là rủi ro thanh khoản và rủi ro kỳ hạn, khi vốn ngắn hạn phải gánh cho vay trung dài hạn nhiều hơn, làm hệ thống nhạy cảm hơn với các cú sốc tâm lý hoặc biến động lãi suất. Thứ hai, rủi ro lợi nhuận và an toàn vốn, do chi phí huy động tăng nhanh hơn khả năng điều chỉnh lãi suất cho vay, kéo giảm NIM (biên lãi ròng) và sức chịu đựng của ngân hàng trước nợ xấu. Thứ ba, rủi ro chu kỳ, khi áp lực tăng trưởng tín dụng khiến một số ngân hàng nới lỏng chuẩn mực cho vay để giữ thị phần, tiềm ẩn hệ quả về chất lượng tài sản trong giai đoạn sau".

- PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 23 - 27/3 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh đầu tuần rồi hạ nhiệt về cuối tuần, với tỷ giá USD tự do có lúc chạm 28.000 đồng, nối dài đà tăng 5 tuần. Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt theo hướng “bơm hút" nhịp nhàng, vừa bán USD kỳ hạn và hút ròng để giảm áp lực tỷ giá; sau đó, nhanh chóng bơm ròng trở lại khi lãi suất liên ngân hàng vượt 8%.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,970 17,270
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,970 17,270
Nguyên Liệu 99.99 15,850 16,050
Nguyên Liệu 99.9 15,800 16,000
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,650 17,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,600 17,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,530 16,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,200 172,200
Hà Nội - PNJ 169,200 172,200
Đà Nẵng - PNJ 169,200 172,200
Miền Tây - PNJ 169,200 172,200
Tây Nguyên - PNJ 169,200 172,200
Đông Nam Bộ - PNJ 169,200 172,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,970 17,270
Miếng SJC Nghệ An 16,970 17,270
Miếng SJC Thái Bình 16,970 17,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,950 17,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,950 17,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,950 17,250
NL 99.90 15,550
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,580
Trang sức 99.9 16,440 17,140
Trang sức 99.99 16,450 17,150
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 1,727
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,697 17,272
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,697 17,273
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,694 1,724
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,694 1,725
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,674 1,709
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,708 169,208
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,438 128,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,474 116,374
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,509 104,409
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,895 99,795
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,522 71,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 1,727
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 1,727
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 1,727
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 1,727
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 1,727
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 1,727
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 1,727
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 1,727
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 1,727
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 1,727
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,697 1,727
Cập nhật: 11/04/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18074 18349 18924
CAD 18500 18777 19393
CHF 32686 33070 33723
CNY 0 3800 3870
EUR 30206 30480 31508
GBP 34591 34983 35915
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15073 15658
SGD 20121 20404 20930
THB 735 798 852
USD (1,2) 26069 0 0
USD (5,10,20) 26110 0 0
USD (50,100) 26138 26158 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,360
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 30,313 30,337 31,601
JPY 161.2 161.49 170.27
GBP 34,783 34,877 35,875
AUD 18,286 18,352 18,934
CAD 18,720 18,780 19,359
CHF 32,986 33,089 33,868
SGD 20,269 20,332 21,013
CNY - 3,789 3,912
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.37 17.07 18.47
THB 782.26 791.92 842.99
NZD 15,067 15,207 15,566
SEK - 2,783 2,865
DKK - 4,057 4,175
NOK - 2,725 2,809
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,213.63 - 6,976.01
TWD 749.69 - 902.95
SAR - 6,916.97 7,243.76
KWD - 83,839 88,688
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 30,207 30,328 31,508
GBP 34,719 34,858 35,864
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,698 32,829 33,755
JPY 161.50 162.15 169.45
AUD 18,273 18,346 18,938
SGD 20,318 20,400 20,984
THB 799 802 837
CAD 18,700 18,775 19,341
NZD 15,151 15,682
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26360
AUD 18254 18354 19280
CAD 18681 18781 19795
CHF 32941 32971 34550
CNY 3795.5 3820.5 3955.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30381 30411 32133
GBP 34881 34931 36702
HKD 0 3355 0
JPY 161.84 162.34 172.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15181 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20277 20407 21138
THB 0 763.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16970000 16970000 17270000
SBJ 15000000 15000000 17270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,360
USD20 26,135 26,185 26,360
USD1 26,135 26,185 26,360
AUD 18,282 18,382 19,522
EUR 30,482 30,482 31,943
CAD 18,609 18,709 20,050
SGD 20,331 20,481 21,450
JPY 162.15 163.65 168.5
GBP 34,738 35,088 36,011
XAU 16,968,000 0 17,272,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/04/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80