Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất huy động quý cuối năm 2025 tăng rầm rập khi 38 ngân hàng đồng loạt tăng, đẩy mặt bằng lãi suất vượt 7%/năm, trong khi kỳ hạn ngắn chạm trần. Cùng lúc, lãi suất liên ngân hàng dậy sóng, kỳ hạn 1 tuần vọt lên 8,61%/năm với doanh số kỷ lục gần 1,3 triệu tỷ đồng, cho thấy hệ thống nhạy cảm trước biến động lãi suất khi huy động "hụt hơi" so với tín dụng.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ

Lãi suất huy động tăng tới 2%/năm, kỳ hạn ngắn kịch trần

Khảo sát của phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam đối với biểu lãi suất huy động của các ngân hàng niêm yết ngày 5/1 cho thấy, nhiều ngân hàng chưa ngơi nghỉ trong "cuộc đua" lãi suất huy động, tập trung vào kỳ hạn 6 tháng - kỳ hạn “vàng” được người gửi tiền ưa chuộng. Trong bối cảnh đó, người dân có thêm nhiều lựa chọn, linh hoạt "chọn mặt gửi vàng" tại những ngân hàng đang nâng lãi suất tiền gửi.

Tăng trưởng huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, liên ngân hàng vọt lên gần 9%
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Đáng chú ý, trong tuần cuối năm 2025, VPBank bứt phá lên mốc 6%/năm ở kỳ hạn 6 tháng, tăng 0,2 điểm phần trăm, qua đó, thiết lập mặt bằng lãi suất mới cao hơn mặt bằng chung. Public Bank cũng thể hiện rõ chiến lược “chạy nước rút” khi điều chỉnh tăng mạnh 0,3 điểm phần trăm, trong khi Sacombank chọn bước đi thận trọng hơn với mức tăng 0,1 điểm phần trăm.

Tính chung quý IV/2025, bức tranh huy động vốn không chỉ sôi động ở việc 38 ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất, mà điểm nhấn thực sự nằm ở 11 nhà băng “chơi lớn”, với biên độ điều chỉnh trên 1 - 2,1 điểm phần trăm so với đầu quý. Chính nhóm này đã kéo mặt bằng lãi suất đi lên rõ rệt, tạo nên một cuộc đua huy động quyết liệt và hiếm thấy trong giai đoạn cuối năm.

Minh chứng rõ nét nhất cho "cơn khát" thanh khoản của hệ thống vào quý IV/2025 là PGBank với mức tăng cao nhất nhóm khảo sát, lên tới 2,1 điểm phần trăm chỉ trong 3 tháng, lên mức 7,1%/năm, vượt trội so với thị trường.

Theo sau là hàng loạt ngân hàng, từ OCB, PVcomBank... đều "đạp ga" tăng 1,3 điểm phần trăm.

Nhóm bám đuổi gồm: BacABank, VikkiBank, BVBank... cũng nhờ đà tăng mạnh trên 1% mà chính thức gia nhập "câu lạc bộ 6%" nhằm hút dòng tiền nhàn rỗi cực mạnh. Đáng chú ý, ngay cả những ngân hàng lớn như VPBank, ACB, cũng tăng trên 1%, đưa lãi suất huy động lên lần lượt 6%/năm và 4,5%/năm, cho thấy áp lực giữ chân khách hàng là bắt buộc đối với mọi quy mô ngân hàng.

Với kỳ hạn ngắn như 1 tháng, động thái của VIB đặc biệt đáng chú ý khi lãi suất kỳ hạn 1 tháng được đẩy lên 4,75%/năm, tăng mạnh 1,25 điểm phần trăm so với tuần trước. Đây là mức điều chỉnh hiếm thấy ở kỳ hạn rất ngắn.

Bức tranh huy động vốn quý IV/2025 kỳ hạn 1 tháng không kém phần sôi động, không chỉ dừng lại ở quy mô rộng lớn với 37 nhà băng tham gia, mà còn ghi nhận 10 ngân hàng đều chạm mốc 4,75%/năm. Đây là mức "kịch trần" quy định cho tiền gửi từ trên 1 tháng đến dưới 6 tháng.

Đáng chú ý, Sacombank với biên độ tăng kỷ lục 1,95 điểm phần trăm chỉ trong một quý nhằm hút khách hàng. Theo sau là PVcomBank, PGBank, VIB với mức tăng dồn dập lần lượt là 1,75 điểm phần trăm; 1,35 điểm phần trăm và 1,25 điểm phần trăm.

Việc các nhà băng đồng loạt chấp nhận trả mức giá cao nhất cho kỳ hạn 1 tháng cho thấy nhu cầu cấp bách về nguồn vốn để đáp ứng việc chi trả, thanh toán mùa cao điểm Tết.

Lãi suất liên ngân hàng dậy sóng, giao dịch kỷ lục trên 2 triệu tỷ đồng

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 24/12/2025, tổng dư nợ tín dụng đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87 % so với cuối năm 2024 và tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước.

Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng, nhu cầu vốn cuối năm tăng mạnh khiến lãi suất chịu áp lực. Trong khi đó, huy động vốn chỉ tăng 14,11%, thấp hơn nhiều so với tín dụng 17,87%. Bên cạnh đó, huy động còn chịu cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác, buộc ngân hàng phải điều chỉnh lãi suất để bảo đảm thanh khoản.

Bên cạnh đó, lãi suất liên ngân hàng cũng dậy sóng, lên mức cao kỷ lục. Thống kê từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngày 31/12, lãi suất liên ngân hàng phản ánh rõ trạng thái căng thẳng thanh khoản ngắn hạn tại thời điểm khóa sổ năm tài chính. Lãi suất qua đêm ở mức 1,77%/năm, hạ nhiệt đáng kể so với mức 7% trước đó, nhưng doanh số lên tới hơn 867.000 tỷ đồng, cho thấy nhu cầu cân đối thanh khoản tức thời rất lớn trong ngày cuối năm.

Đáng chú ý, các kỳ hạn ngắn ghi nhận lãi suất tăng vọt. Trong đó, kỳ hạn 1 tuần lên tới 8,61%/năm; kèm theo khối lượng giao dịch lớn kỷ lục gần 1,3 triệu tỷ đồng. Các kỳ hạn dài hơn cũng dao động 7 - 8,5%.

Huy động
Dù đánh giá cao sự linh hoạt của cơ quan điều hành, Chứng khoán BSC nhận thấy, các biện pháp này chưa thể giải quyết vấn đề cốt lõi của chênh lệch giữa tín dụng và huy động trên thị trường 1, khiến lãi suất thị trường 1 dự kiến tiếp tục tăng, còn lãi suất thị trường 2 duy trì ở mức cao cho đến khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất USD một cách đáng kể hơn.

Năm 2025 đã khép lại và ghi nhận nhiều con số kỷ lục đối với thị trường liên ngân hàng được Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) điểm lại.

Đó là hơn 390.000 tỷ đồng nghiệp vụ thị trường mở (OMO) lưu hành; hơn 70 nghìn tỷ đồng qua hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn USD.

Cùng với đó, khoảng 780.000 tỷ đồng tiền tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các tổ chức tín dụng yếu kém; khoảng 450.000 tỷ đồng tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại nhóm ngân hàng quốc doanh (có thời điểm vượt 500.000 tỷ đồng).

Dù vậy, tình trạng thiếu thanh khoản trong hệ thống vẫn diễn ra; cộng thêm yếu tố mùa vụ về cuối năm khiến lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 2 tuần lên hơn 8%, cao hơn cả mức trung bình lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng trên thị trường tiền gửi. Việc bơm thanh khoản qua nghiệp vụ OMO gặp giới hạn, vì nguồn tài sản đảm bảo là trái phiếu chính phủ mà các ngân hàng nắm giữ đang cạn dần, trong khi tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước chỉ dành cho 4 ngân hàng đang tham gia tái cơ cấu.

Trong bối cảnh đó, ngày 5/12/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lần đầu tiên sử dụng công cụ hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn. Theo đó, nhận hoán đổi USD với VND kỳ hạn 14 ngày, quy mô ban đầu 500 triệu USD, với lãi suất hoán đổi khoảng 1,1% (tương đương lãi suất VND khoảng 5%). Động thái này được BSC đánh giá là hợp lý khi huy động USD của các ngân hàng tăng trưởng rất tốt từ đầu năm, vượt 20% tính từ đầu năm đến nay.

Thống kê cũng cho thấy, tỷ lệ dư nợ cho vay/tiền gửi (LDR) tại nhóm ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng tư nhân quy mô lớn đang ở mức cao nhất trong 12 quý gần đây, khoảng 100%.

"Việc thiếu nguồn huy động thị trường 1 đang khiến các ngân hàng nói chung phải sử dụng nguồn thị trường 2 để cân đối LDR theo quy định (với trần 85% theo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN)" - Chứng khoán BSC nêu rõ./.

Ba rủi ro âm thầm tích tụ

"Rủi ro tiềm ẩn sẽ lớn dần nếu tình trạng huy động “hụt hơi” so với tín dụng kéo dài. Thứ nhất là rủi ro thanh khoản và rủi ro kỳ hạn, khi vốn ngắn hạn phải gánh cho vay trung dài hạn nhiều hơn, làm hệ thống nhạy cảm hơn với các cú sốc tâm lý hoặc biến động lãi suất. Thứ hai, rủi ro lợi nhuận và an toàn vốn, do chi phí huy động tăng nhanh hơn khả năng điều chỉnh lãi suất cho vay, kéo giảm NIM (biên lãi ròng) và sức chịu đựng của ngân hàng trước nợ xấu. Thứ ba, rủi ro chu kỳ, khi áp lực tăng trưởng tín dụng khiến một số ngân hàng nới lỏng chuẩn mực cho vay để giữ thị phần, tiềm ẩn hệ quả về chất lượng tài sản trong giai đoạn sau".

- PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

(TBTCO) - Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định thanh khoản hệ thống vẫn dồi dào dù tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn 3,8% suốt 5 năm, đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 112 - 114%. Khi cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục nới các công cụ hỗ trợ thanh khoản.
Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

(TBTCO) - Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Đại diện Ngân hàng Nhà nước cũng thông tin về chính sách loại trừ room tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên và 18 dự án của các doanh nghiệp lớn.
Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

Đổi "thước đo" sang CDR có kích hoạt cuộc đua huy động vốn?

(TBTCO) - Đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) và áp trần 85% đang nhận nhiều góp ý, do hầu hết ngân hàng vượt ngưỡng này và có thể buộc hệ thống đua lãi suất để huy động thêm 2,6 triệu tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Kim TT/AVPL 14,300 14,650 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,650 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼100K 13,300 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼100K 13,250 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,600 ▼100K 14,100 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,550 ▼100K 14,050 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,480 ▼100K 14,030 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,860 ▼30K 14,560 ▼30K
Trang sức 99.99 13,870 ▼30K 14,570 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▼9K 14,752 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▼9K 14,753 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▼9K 147 ▼1332K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▼9K 1,471 ▲1323K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1278K 145 ▼1314K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▼891K 143,564 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼675K 108,911 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼80676K 9,876 ▼89496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▼549K 88,609 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▼525K 84,693 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▼375K 60,621 ▼375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cập nhật: 14/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17690 17963 18538
CAD 18079 18354 18969
CHF 31610 31990 32630
CNY 0 3833 3925
EUR 29288 29508 30582
GBP 34271 34662 35592
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14902 15491
SGD 19766 20048 20613
THB 699 762 815
USD (1,2) 25992 0 0
USD (5,10,20) 26033 0 0
USD (50,100) 26062 26076 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,402 29,426 30,831
JPY 157.36 157.64 167.14
GBP 34,452 34,545 35,729
AUD 17,873 17,938 18,613
CAD 18,236 18,295 18,966
CHF 31,864 31,963 32,900
SGD 19,883 19,945 20,729
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.21 16.91 18.4
THB 747.41 756.64 809.55
NZD 14,871 15,009 15,455
SEK - 2,660 2,753
DKK - 3,933 4,072
NOK - 2,643 2,736
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.33 - 6,791.42
TWD 736.79 - 892.51
SAR - 6,873.09 7,239.02
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,346 29,464 30,654
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 31,699 31,826 32,746
JPY 157.68 158.31 166.21
AUD 17,822 17,894 18,487
SGD 19,941 20,021 20,608
THB 764 767 803
CAD 18,230 18,303 18,876
NZD 14,926 15,469
KRW 16.82 18.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26430
AUD 17849 17949 18872
CAD 18224 18324 19339
CHF 31848 31878 33452
CNY 3812.4 3837.4 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29446 29476 31199
GBP 34570 34620 36373
HKD 0 3355 0
JPY 158.21 158.71 169.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15001 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19914 20044 20772
THB 0 728.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,079 26,129 26,450
USD20 26,079 26,129 26,450
USD1 26,079 26,129 26,450
AUD 17,901 18,001 19,106
EUR 29,253 29,353 31,009
CAD 18,174 18,274 19,580
SGD 19,998 20,148 20,820
JPY 158.69 160.19 165.75
GBP 34,463 34,613 35,675
XAU 14,448,000 0 14,752,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80