Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9%

(TBTCO) - Lãi suất huy động quý cuối năm 2025 tăng rầm rập khi 38 ngân hàng đồng loạt tăng, đẩy mặt bằng lãi suất vượt 7%/năm, trong khi kỳ hạn ngắn chạm trần. Cùng lúc, lãi suất liên ngân hàng dậy sóng, kỳ hạn 1 tuần vọt lên 8,61%/năm với doanh số kỷ lục gần 1,3 triệu tỷ đồng, cho thấy hệ thống nhạy cảm trước biến động lãi suất khi huy động "hụt hơi" so với tín dụng.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ

Lãi suất huy động tăng tới 2%/năm, kỳ hạn ngắn kịch trần

Khảo sát của phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam đối với biểu lãi suất huy động của các ngân hàng niêm yết ngày 5/1 cho thấy, nhiều ngân hàng chưa ngơi nghỉ trong "cuộc đua" lãi suất huy động, tập trung vào kỳ hạn 6 tháng - kỳ hạn “vàng” được người gửi tiền ưa chuộng. Trong bối cảnh đó, người dân có thêm nhiều lựa chọn, linh hoạt "chọn mặt gửi vàng" tại những ngân hàng đang nâng lãi suất tiền gửi.

Tăng trưởng huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, liên ngân hàng vọt lên gần 9%
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Đáng chú ý, trong tuần cuối năm 2025, VPBank bứt phá lên mốc 6%/năm ở kỳ hạn 6 tháng, tăng 0,2 điểm phần trăm, qua đó, thiết lập mặt bằng lãi suất mới cao hơn mặt bằng chung. Public Bank cũng thể hiện rõ chiến lược “chạy nước rút” khi điều chỉnh tăng mạnh 0,3 điểm phần trăm, trong khi Sacombank chọn bước đi thận trọng hơn với mức tăng 0,1 điểm phần trăm.

Tính chung quý IV/2025, bức tranh huy động vốn không chỉ sôi động ở việc 38 ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất, mà điểm nhấn thực sự nằm ở 11 nhà băng “chơi lớn”, với biên độ điều chỉnh trên 1 - 2,1 điểm phần trăm so với đầu quý. Chính nhóm này đã kéo mặt bằng lãi suất đi lên rõ rệt, tạo nên một cuộc đua huy động quyết liệt và hiếm thấy trong giai đoạn cuối năm.

Minh chứng rõ nét nhất cho "cơn khát" thanh khoản của hệ thống vào quý IV/2025 là PGBank với mức tăng cao nhất nhóm khảo sát, lên tới 2,1 điểm phần trăm chỉ trong 3 tháng, lên mức 7,1%/năm, vượt trội so với thị trường.

Theo sau là hàng loạt ngân hàng, từ OCB, PVcomBank... đều "đạp ga" tăng 1,3 điểm phần trăm.

Nhóm bám đuổi gồm: BacABank, VikkiBank, BVBank... cũng nhờ đà tăng mạnh trên 1% mà chính thức gia nhập "câu lạc bộ 6%" nhằm hút dòng tiền nhàn rỗi cực mạnh. Đáng chú ý, ngay cả những ngân hàng lớn như VPBank, ACB, cũng tăng trên 1%, đưa lãi suất huy động lên lần lượt 6%/năm và 4,5%/năm, cho thấy áp lực giữ chân khách hàng là bắt buộc đối với mọi quy mô ngân hàng.

Với kỳ hạn ngắn như 1 tháng, động thái của VIB đặc biệt đáng chú ý khi lãi suất kỳ hạn 1 tháng được đẩy lên 4,75%/năm, tăng mạnh 1,25 điểm phần trăm so với tuần trước. Đây là mức điều chỉnh hiếm thấy ở kỳ hạn rất ngắn.

Bức tranh huy động vốn quý IV/2025 kỳ hạn 1 tháng không kém phần sôi động, không chỉ dừng lại ở quy mô rộng lớn với 37 nhà băng tham gia, mà còn ghi nhận 10 ngân hàng đều chạm mốc 4,75%/năm. Đây là mức "kịch trần" quy định cho tiền gửi từ trên 1 tháng đến dưới 6 tháng.

Đáng chú ý, Sacombank với biên độ tăng kỷ lục 1,95 điểm phần trăm chỉ trong một quý nhằm hút khách hàng. Theo sau là PVcomBank, PGBank, VIB với mức tăng dồn dập lần lượt là 1,75 điểm phần trăm; 1,35 điểm phần trăm và 1,25 điểm phần trăm.

Việc các nhà băng đồng loạt chấp nhận trả mức giá cao nhất cho kỳ hạn 1 tháng cho thấy nhu cầu cấp bách về nguồn vốn để đáp ứng việc chi trả, thanh toán mùa cao điểm Tết.

Lãi suất liên ngân hàng dậy sóng, giao dịch kỷ lục trên 2 triệu tỷ đồng

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 24/12/2025, tổng dư nợ tín dụng đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87 % so với cuối năm 2024 và tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước.

Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng, nhu cầu vốn cuối năm tăng mạnh khiến lãi suất chịu áp lực. Trong khi đó, huy động vốn chỉ tăng 14,11%, thấp hơn nhiều so với tín dụng 17,87%. Bên cạnh đó, huy động còn chịu cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác, buộc ngân hàng phải điều chỉnh lãi suất để bảo đảm thanh khoản.

Bên cạnh đó, lãi suất liên ngân hàng cũng dậy sóng, lên mức cao kỷ lục. Thống kê từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngày 31/12, lãi suất liên ngân hàng phản ánh rõ trạng thái căng thẳng thanh khoản ngắn hạn tại thời điểm khóa sổ năm tài chính. Lãi suất qua đêm ở mức 1,77%/năm, hạ nhiệt đáng kể so với mức 7% trước đó, nhưng doanh số lên tới hơn 867.000 tỷ đồng, cho thấy nhu cầu cân đối thanh khoản tức thời rất lớn trong ngày cuối năm.

Đáng chú ý, các kỳ hạn ngắn ghi nhận lãi suất tăng vọt. Trong đó, kỳ hạn 1 tuần lên tới 8,61%/năm; kèm theo khối lượng giao dịch lớn kỷ lục gần 1,3 triệu tỷ đồng. Các kỳ hạn dài hơn cũng dao động 7 - 8,5%.

Huy động
Dù đánh giá cao sự linh hoạt của cơ quan điều hành, Chứng khoán BSC nhận thấy, các biện pháp này chưa thể giải quyết vấn đề cốt lõi của chênh lệch giữa tín dụng và huy động trên thị trường 1, khiến lãi suất thị trường 1 dự kiến tiếp tục tăng, còn lãi suất thị trường 2 duy trì ở mức cao cho đến khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất USD một cách đáng kể hơn.

Năm 2025 đã khép lại và ghi nhận nhiều con số kỷ lục đối với thị trường liên ngân hàng được Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) điểm lại.

Đó là hơn 390.000 tỷ đồng nghiệp vụ thị trường mở (OMO) lưu hành; hơn 70 nghìn tỷ đồng qua hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn USD.

Cùng với đó, khoảng 780.000 tỷ đồng tiền tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các tổ chức tín dụng yếu kém; khoảng 450.000 tỷ đồng tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại nhóm ngân hàng quốc doanh (có thời điểm vượt 500.000 tỷ đồng).

Dù vậy, tình trạng thiếu thanh khoản trong hệ thống vẫn diễn ra; cộng thêm yếu tố mùa vụ về cuối năm khiến lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 2 tuần lên hơn 8%, cao hơn cả mức trung bình lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng trên thị trường tiền gửi. Việc bơm thanh khoản qua nghiệp vụ OMO gặp giới hạn, vì nguồn tài sản đảm bảo là trái phiếu chính phủ mà các ngân hàng nắm giữ đang cạn dần, trong khi tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước chỉ dành cho 4 ngân hàng đang tham gia tái cơ cấu.

Trong bối cảnh đó, ngày 5/12/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lần đầu tiên sử dụng công cụ hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn. Theo đó, nhận hoán đổi USD với VND kỳ hạn 14 ngày, quy mô ban đầu 500 triệu USD, với lãi suất hoán đổi khoảng 1,1% (tương đương lãi suất VND khoảng 5%). Động thái này được BSC đánh giá là hợp lý khi huy động USD của các ngân hàng tăng trưởng rất tốt từ đầu năm, vượt 20% tính từ đầu năm đến nay.

Thống kê cũng cho thấy, tỷ lệ dư nợ cho vay/tiền gửi (LDR) tại nhóm ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng tư nhân quy mô lớn đang ở mức cao nhất trong 12 quý gần đây, khoảng 100%.

"Việc thiếu nguồn huy động thị trường 1 đang khiến các ngân hàng nói chung phải sử dụng nguồn thị trường 2 để cân đối LDR theo quy định (với trần 85% theo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN)" - Chứng khoán BSC nêu rõ./.

Ba rủi ro âm thầm tích tụ

"Rủi ro tiềm ẩn sẽ lớn dần nếu tình trạng huy động “hụt hơi” so với tín dụng kéo dài. Thứ nhất là rủi ro thanh khoản và rủi ro kỳ hạn, khi vốn ngắn hạn phải gánh cho vay trung dài hạn nhiều hơn, làm hệ thống nhạy cảm hơn với các cú sốc tâm lý hoặc biến động lãi suất. Thứ hai, rủi ro lợi nhuận và an toàn vốn, do chi phí huy động tăng nhanh hơn khả năng điều chỉnh lãi suất cho vay, kéo giảm NIM (biên lãi ròng) và sức chịu đựng của ngân hàng trước nợ xấu. Thứ ba, rủi ro chu kỳ, khi áp lực tăng trưởng tín dụng khiến một số ngân hàng nới lỏng chuẩn mực cho vay để giữ thị phần, tiềm ẩn hệ quả về chất lượng tài sản trong giai đoạn sau".

- PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 19/8 cho thấy, lãi suất huy động một tháng qua ít “gợn sóng”, trong khi lãi suất niêm yết cao nhất quanh 7%/năm, ưu đãi vẫn đẩy trên 9%/năm. Dù thanh khoản ngắn hạn dịu lại, mặt bằng lãi suất chưa giảm rõ rệt, khi sức ép không chỉ đến từ thanh khoản, mà còn từ những vấn đề cấu trúc trong bảng cân đối ngân hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 22:00
Ngân hàng