Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất huy động quý cuối năm 2025 tăng rầm rập khi 38 ngân hàng đồng loạt tăng, đẩy mặt bằng lãi suất vượt 7%/năm, trong khi kỳ hạn ngắn chạm trần. Cùng lúc, lãi suất liên ngân hàng dậy sóng, kỳ hạn 1 tuần vọt lên 8,61%/năm với doanh số kỷ lục gần 1,3 triệu tỷ đồng, cho thấy hệ thống nhạy cảm trước biến động lãi suất khi huy động "hụt hơi" so với tín dụng.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ

Lãi suất huy động tăng tới 2%/năm, kỳ hạn ngắn kịch trần

Khảo sát của phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam đối với biểu lãi suất huy động của các ngân hàng niêm yết ngày 5/1 cho thấy, nhiều ngân hàng chưa ngơi nghỉ trong "cuộc đua" lãi suất huy động, tập trung vào kỳ hạn 6 tháng - kỳ hạn “vàng” được người gửi tiền ưa chuộng. Trong bối cảnh đó, người dân có thêm nhiều lựa chọn, linh hoạt "chọn mặt gửi vàng" tại những ngân hàng đang nâng lãi suất tiền gửi.

Tăng trưởng huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, liên ngân hàng vọt lên gần 9%
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Đáng chú ý, trong tuần cuối năm 2025, VPBank bứt phá lên mốc 6%/năm ở kỳ hạn 6 tháng, tăng 0,2 điểm phần trăm, qua đó, thiết lập mặt bằng lãi suất mới cao hơn mặt bằng chung. Public Bank cũng thể hiện rõ chiến lược “chạy nước rút” khi điều chỉnh tăng mạnh 0,3 điểm phần trăm, trong khi Sacombank chọn bước đi thận trọng hơn với mức tăng 0,1 điểm phần trăm.

Tính chung quý IV/2025, bức tranh huy động vốn không chỉ sôi động ở việc 38 ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất, mà điểm nhấn thực sự nằm ở 11 nhà băng “chơi lớn”, với biên độ điều chỉnh trên 1 - 2,1 điểm phần trăm so với đầu quý. Chính nhóm này đã kéo mặt bằng lãi suất đi lên rõ rệt, tạo nên một cuộc đua huy động quyết liệt và hiếm thấy trong giai đoạn cuối năm.

Minh chứng rõ nét nhất cho "cơn khát" thanh khoản của hệ thống vào quý IV/2025 là PGBank với mức tăng cao nhất nhóm khảo sát, lên tới 2,1 điểm phần trăm chỉ trong 3 tháng, lên mức 7,1%/năm, vượt trội so với thị trường.

Theo sau là hàng loạt ngân hàng, từ OCB, PVcomBank... đều "đạp ga" tăng 1,3 điểm phần trăm.

Nhóm bám đuổi gồm: BacABank, VikkiBank, BVBank... cũng nhờ đà tăng mạnh trên 1% mà chính thức gia nhập "câu lạc bộ 6%" nhằm hút dòng tiền nhàn rỗi cực mạnh. Đáng chú ý, ngay cả những ngân hàng lớn như VPBank, ACB, cũng tăng trên 1%, đưa lãi suất huy động lên lần lượt 6%/năm và 4,5%/năm, cho thấy áp lực giữ chân khách hàng là bắt buộc đối với mọi quy mô ngân hàng.

Với kỳ hạn ngắn như 1 tháng, động thái của VIB đặc biệt đáng chú ý khi lãi suất kỳ hạn 1 tháng được đẩy lên 4,75%/năm, tăng mạnh 1,25 điểm phần trăm so với tuần trước. Đây là mức điều chỉnh hiếm thấy ở kỳ hạn rất ngắn.

Bức tranh huy động vốn quý IV/2025 kỳ hạn 1 tháng không kém phần sôi động, không chỉ dừng lại ở quy mô rộng lớn với 37 nhà băng tham gia, mà còn ghi nhận 10 ngân hàng đều chạm mốc 4,75%/năm. Đây là mức "kịch trần" quy định cho tiền gửi từ trên 1 tháng đến dưới 6 tháng.

Đáng chú ý, Sacombank với biên độ tăng kỷ lục 1,95 điểm phần trăm chỉ trong một quý nhằm hút khách hàng. Theo sau là PVcomBank, PGBank, VIB với mức tăng dồn dập lần lượt là 1,75 điểm phần trăm; 1,35 điểm phần trăm và 1,25 điểm phần trăm.

Việc các nhà băng đồng loạt chấp nhận trả mức giá cao nhất cho kỳ hạn 1 tháng cho thấy nhu cầu cấp bách về nguồn vốn để đáp ứng việc chi trả, thanh toán mùa cao điểm Tết.

Lãi suất liên ngân hàng dậy sóng, giao dịch kỷ lục trên 2 triệu tỷ đồng

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến ngày 24/12/2025, tổng dư nợ tín dụng đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87 % so với cuối năm 2024 và tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước.

Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng, nhu cầu vốn cuối năm tăng mạnh khiến lãi suất chịu áp lực. Trong khi đó, huy động vốn chỉ tăng 14,11%, thấp hơn nhiều so với tín dụng 17,87%. Bên cạnh đó, huy động còn chịu cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác, buộc ngân hàng phải điều chỉnh lãi suất để bảo đảm thanh khoản.

Bên cạnh đó, lãi suất liên ngân hàng cũng dậy sóng, lên mức cao kỷ lục. Thống kê từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngày 31/12, lãi suất liên ngân hàng phản ánh rõ trạng thái căng thẳng thanh khoản ngắn hạn tại thời điểm khóa sổ năm tài chính. Lãi suất qua đêm ở mức 1,77%/năm, hạ nhiệt đáng kể so với mức 7% trước đó, nhưng doanh số lên tới hơn 867.000 tỷ đồng, cho thấy nhu cầu cân đối thanh khoản tức thời rất lớn trong ngày cuối năm.

Đáng chú ý, các kỳ hạn ngắn ghi nhận lãi suất tăng vọt. Trong đó, kỳ hạn 1 tuần lên tới 8,61%/năm; kèm theo khối lượng giao dịch lớn kỷ lục gần 1,3 triệu tỷ đồng. Các kỳ hạn dài hơn cũng dao động 7 - 8,5%.

Huy động
Dù đánh giá cao sự linh hoạt của cơ quan điều hành, Chứng khoán BSC nhận thấy, các biện pháp này chưa thể giải quyết vấn đề cốt lõi của chênh lệch giữa tín dụng và huy động trên thị trường 1, khiến lãi suất thị trường 1 dự kiến tiếp tục tăng, còn lãi suất thị trường 2 duy trì ở mức cao cho đến khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất USD một cách đáng kể hơn.

Năm 2025 đã khép lại và ghi nhận nhiều con số kỷ lục đối với thị trường liên ngân hàng được Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) điểm lại.

Đó là hơn 390.000 tỷ đồng nghiệp vụ thị trường mở (OMO) lưu hành; hơn 70 nghìn tỷ đồng qua hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn USD.

Cùng với đó, khoảng 780.000 tỷ đồng tiền tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các tổ chức tín dụng yếu kém; khoảng 450.000 tỷ đồng tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại nhóm ngân hàng quốc doanh (có thời điểm vượt 500.000 tỷ đồng).

Dù vậy, tình trạng thiếu thanh khoản trong hệ thống vẫn diễn ra; cộng thêm yếu tố mùa vụ về cuối năm khiến lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 2 tuần lên hơn 8%, cao hơn cả mức trung bình lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng trên thị trường tiền gửi. Việc bơm thanh khoản qua nghiệp vụ OMO gặp giới hạn, vì nguồn tài sản đảm bảo là trái phiếu chính phủ mà các ngân hàng nắm giữ đang cạn dần, trong khi tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước chỉ dành cho 4 ngân hàng đang tham gia tái cơ cấu.

Trong bối cảnh đó, ngày 5/12/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lần đầu tiên sử dụng công cụ hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn. Theo đó, nhận hoán đổi USD với VND kỳ hạn 14 ngày, quy mô ban đầu 500 triệu USD, với lãi suất hoán đổi khoảng 1,1% (tương đương lãi suất VND khoảng 5%). Động thái này được BSC đánh giá là hợp lý khi huy động USD của các ngân hàng tăng trưởng rất tốt từ đầu năm, vượt 20% tính từ đầu năm đến nay.

Thống kê cũng cho thấy, tỷ lệ dư nợ cho vay/tiền gửi (LDR) tại nhóm ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng tư nhân quy mô lớn đang ở mức cao nhất trong 12 quý gần đây, khoảng 100%.

"Việc thiếu nguồn huy động thị trường 1 đang khiến các ngân hàng nói chung phải sử dụng nguồn thị trường 2 để cân đối LDR theo quy định (với trần 85% theo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN)" - Chứng khoán BSC nêu rõ./.

Ba rủi ro âm thầm tích tụ

"Rủi ro tiềm ẩn sẽ lớn dần nếu tình trạng huy động “hụt hơi” so với tín dụng kéo dài. Thứ nhất là rủi ro thanh khoản và rủi ro kỳ hạn, khi vốn ngắn hạn phải gánh cho vay trung dài hạn nhiều hơn, làm hệ thống nhạy cảm hơn với các cú sốc tâm lý hoặc biến động lãi suất. Thứ hai, rủi ro lợi nhuận và an toàn vốn, do chi phí huy động tăng nhanh hơn khả năng điều chỉnh lãi suất cho vay, kéo giảm NIM (biên lãi ròng) và sức chịu đựng của ngân hàng trước nợ xấu. Thứ ba, rủi ro chu kỳ, khi áp lực tăng trưởng tín dụng khiến một số ngân hàng nới lỏng chuẩn mực cho vay để giữ thị phần, tiềm ẩn hệ quả về chất lượng tài sản trong giai đoạn sau".

- PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ vẫn còn hiện tượng một số ngân hàng thương mại thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực tăng cường kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất tại địa bàn. Trường hợp phát hiện vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và báo cáo ngay về Ngân hàng Nhà nước.
Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.
Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 16,200
Kim TT/AVPL 15,900 16,200
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 16,200
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 16,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 16,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 15,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 162,000
Hà Nội - PNJ 159,000 162,000
Đà Nẵng - PNJ 159,000 162,000
Miền Tây - PNJ 159,000 162,000
Tây Nguyên - PNJ 159,000 162,000
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 162,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 16,200
Miếng SJC Nghệ An 15,900 16,200
Miếng SJC Thái Bình 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 16,200
NL 99.90 14,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500
Trang sức 99.9 15,390 16,090
Trang sức 99.99 15,400 16,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 16,202
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 16,203
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 1,615
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 1,616
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 160
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 158,416
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 120,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 108,961
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 9,776
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 93,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 66,877
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Cập nhật: 26/05/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18354 18630 19206
CAD 18545 18822 19440
CHF 33075 33461 34097
CNY 0 3844 3936
EUR 30048 30321 31352
GBP 34757 35150 36084
HKD 0 3233 3435
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15159 15750
SGD 20090 20373 20899
THB 727 790 843
USD (1,2) 26090 0 0
USD (5,10,20) 26132 0 0
USD (50,100) 26160 26175 26392
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,162 26,162 26,392
USD(1-2-5) 25,116 - -
USD(10-20) 25,116 - -
EUR 30,256 30,280 31,540
JPY 161.84 162.13 170.93
GBP 35,006 35,101 36,102
AUD 18,594 18,661 19,263
CAD 18,786 18,846 19,433
CHF 33,397 33,501 34,294
SGD 20,268 20,331 21,011
CNY - 3,824 3,947
HKD 3,307 3,317 3,435
KRW 16.12 16.81 18.19
THB 776.68 786.27 836.69
NZD 15,191 15,332 15,697
SEK - 2,797 2,879
DKK - 4,049 4,167
NOK - 2,812 2,895
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,246.13 - 7,012.46
TWD 759.19 - 914.39
SAR - 6,926.08 7,252.83
KWD - 83,883 88,734
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,142 26,162 26,392
EUR 30,104 30,225 31,404
GBP 34,903 35,043 36,051
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,105 33,238 34,177
JPY 161.98 162.63 169.97
AUD 18,521 18,595 19,184
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 793 796 831
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,235 15,769
KRW 16.74 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26200 26200 26392
AUD 18535 18635 19563
CAD 18726 18826 19842
CHF 33309 33339 34931
CNY 3824.8 3849.8 3985.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30229 30259 31987
GBP 35057 35107 36870
HKD 0 3355 0
JPY 162.3 162.8 173.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15267 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20248 20378 21109
THB 0 756.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16200000
SBJ 14000000 14000000 16200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,392
USD20 26,185 26,235 26,392
USD1 23,880 26,235 26,392
AUD 18,594 18,694 19,817
EUR 30,388 30,388 31,825
CAD 18,701 18,801 20,124
SGD 20,348 20,498 21,077
JPY 162.98 164.48 169.16
GBP 34,945 35,295 36,189
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,792 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/05/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80