Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, tín dụng tăng trưởng bứt phá, vượt xa chỉ tiêu điều hành và trở thành trụ đỡ quan trọng cho tăng trưởng GDP, song cũng kéo theo nhiều thách thức. Trao đổi với phóng viên đầu năm mới, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, bài toán cân bằng chính sách ngày càng khó, đòi hỏi tăng trưởng tín dụng phải chuyển dịch trọng tâm, thay vì theo đuổi tốc độ tăng đơn thuần.
aa

PV: Tính đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm - một mức tăng kỷ lục. Theo ông, đâu là động lực thực chất cho sự bứt phá này và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đã thực sự tương xứng?

Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Tín dụng tăng mạnh trong năm 2025 trước hết đến từ sự cộng hưởng của ba động lực chính.

Một là, định hướng điều hành chủ động của Ngân hàng Nhà nước khi nới hạn mức tăng trưởng tín dụng để phục vụ mục tiêu GDP cao, trong bối cảnh ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Việc mở "room" kịp thời đã giải phóng cầu tín dụng bị dồn nén từ năm trước, đặc biệt ở khu vực doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu và đầu tư hạ tầng.

Hai là, mặt bằng lãi suất cho vay nhìn chung được duy trì ở mức tương đối ổn định so với giai đoạn trước, giúp doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong việc mở rộng sản xuất, kinh doanh và tái cơ cấu dòng tiền.

Ba là, sự phục hồi của hoạt động kinh tế, nhất là đơn hàng xuất khẩu và đầu tư công, đã tạo ra nhu cầu vốn thực, khiến tín dụng tăng không chỉ do “đẩy cung”, mà có yếu tố “kéo cầu” khá rõ.

Về khả năng hấp thụ vốn, có thể nói, nền kinh tế cải thiện so với năm 2024, nhưng chưa hoàn toàn tương thích một cách bền vững với tốc độ tăng tín dụng cao như hiện nay. Một phần vốn đã chảy vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thực, góp phần hỗ trợ tăng trưởng GDP.

Tuy nhiên, vẫn tồn tại rủi ro khi một bộ phận tín dụng có xu hướng tìm đến các khu vực nhạy cảm với chu kỳ và tài sản, hoặc được sử dụng để đảo nợ, giãn áp lực tài chính hơn là tạo ra năng lực sản xuất mới. Điều này cho thấy, tín dụng đang đóng vai trò “đòn bẩy” quan trọng cho tăng trưởng ngắn hạn, nhưng về trung hạn, khả năng hấp thụ vốn hiệu quả của nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào chất lượng đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh và sự phục hồi của các kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng.

PV: Khi nền kinh tế bước vào chu kỳ tăng trưởng cao với mục tiêu GDP năm 2026 trên 10%, ngành ngân hàng đang đứng trước những cơ hội thuận lợi nào, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng Việt Nam đứng trước một bối cảnh vừa có những thuận lợi rõ nét, vừa đối mặt với những thách thức mang tính cấu trúc, khi cùng lúc gánh ba mục tiêu, đó là: hỗ trợ tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống.

Về thuận lợi, yếu tố bên ngoài, trước hết là môi trường tiền tệ quốc tế bớt căng hơn so với giai đoạn trước, khi chu kỳ thắt chặt của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã đảo chiều. Điều này giúp giảm áp lực lên tỷ giá, tạo thêm không gian để Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt thanh khoản và lãi suất, mà không phải “hy sinh” quá nhiều cho mục tiêu phòng thủ.

Ở trong nước, đà phục hồi của sản xuất, xuất khẩu và đầu tư công tạo ra cầu tín dụng thực, giúp tăng trưởng tín dụng gắn chặt hơn với hoạt động kinh tế, thay vì thuần túy là nới cung. Cùng với đó, hệ thống ngân hàng sau nhiều năm tái cơ cấu đã có nền tảng vốn, quản trị rủi ro và khuôn khổ giám sát tốt hơn, đủ khả năng “chịu tải” ở mức nhất định khi tín dụng tăng cao.

Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc
Năm 2025, tín dụng tăng trưởng bứt phá, vượt xa chỉ tiêu điều hành và trở thành trụ đỡ quan trọng cho tăng trưởng GDP. Ảnh: Đức Thanh

PV: Ông có thể phân tích rõ hơn về thách thức của ngành ngân hàng khi đồng thời theo đuổi nhiều mục tiêu khi hỗ trợ tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Thách thức cốt lõi của năm 2026 nằm ở sự căng thẳng nội tại của chính hệ thống ngân hàng. Sau một năm tín dụng tăng nhanh, nhiều ngân hàng bước vào năm 2026 với tỷ lệ LDR (cho vay/tổng tiền gửi) cao, thanh khoản không còn dư dả, khiến dư địa hạ lãi suất trở nên hạn chế. Áp lực cạnh tranh huy động có thể đẩy chi phí vốn lên, trong khi khả năng tăng lãi suất cho vay lại bị giới hạn bởi mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng, làm co hẹp biên lợi nhuận và sức chống chịu trước rủi ro.

Bài toán cân bằng chính sách

"Hỗ trợ tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào việc đẩy mạnh tín dụng về mặt số lượng, mà phải chuyển sang chất lượng và hướng dòng vốn tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên".

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân

Đồng thời, độ trễ của chu kỳ tín dụng cũng bắt đầu phát huy tác dụng. Nợ xấu tiềm ẩn có nguy cơ lộ diện khi các khoản vay được giải ngân mạnh trong giai đoạn trước bước vào kỳ trả nợ, đặc biệt ở các lĩnh vực nhạy cảm với lãi suất và giá tài sản.

Thành công của ngành ngân hàng sẽ không được đo bằng tốc độ tăng tín dụng đơn thuần, mà bằng khả năng giữ ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống, trong khi vẫn đóng vai trò là trụ cột tài trợ cho tăng trưởng kinh tế.

PV: Trong bối cảnh đó, nhiều dự báo cho rằng mặt bằng lãi suất cho vay năm 2026 có thể chịu áp lực tăng. Theo ông, xu hướng này sẽ tác động như thế nào tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tạo áp lực ra sao với hoạt động ngân hàng?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Nếu mặt bằng lãi suất cho vay năm 2026 chịu áp lực tăng, tác động sẽ lan tỏa theo cả hai chiều, làm suy giảm động lực tăng trưởng ở khu vực doanh nghiệp, đồng thời gia tăng sức ép nội tại lên chính hệ thống ngân hàng.

Về phía nền kinh tế, lãi suất cho vay tăng trong bối cảnh tăng trưởng vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng sẽ làm chi phí vốn của doanh nghiệp cao hơn, nhất là với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp thâm dụng vốn và các ngành có vòng quay dòng tiền dài. Điều này có thể khiến kế hoạch mở rộng sản xuất, đầu tư bị trì hoãn hoặc thu hẹp, qua đó, làm giảm hiệu quả lan tỏa của tín dụng tới tăng trưởng GDP.

Ở những lĩnh vực nhạy cảm với lãi suất và giá tài sản, lãi suất tăng còn có thể làm cầu suy yếu nhanh, khiến tăng trưởng đạt được chủ yếu nhờ “bơm vốn” nhưng hiệu quả đầu ra thấp hơn. Nói cách khác, lãi suất tăng làm rõ hơn ranh giới giữa tăng trưởng dựa trên năng suất và tăng trưởng dựa trên đòn bẩy tài chính.

Đối với hoạt động ngân hàng, áp lực lớn nhất không hẳn nằm ở khả năng tăng lãi suất cho vay, mà ở sự lệch pha giữa chi phí vốn và khả năng định giá đầu ra. Khi cạnh tranh huy động gay gắt, lãi suất tiền gửi có xu hướng tăng nhanh và lan rộng hơn, trong khi lãi suất cho vay lại khó điều chỉnh tương ứng do yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng và áp lực giữ khách hàng.

Kết quả là biên lãi ròng (NIM) bị co hẹp, đặc biệt ở những ngân hàng có cơ cấu vốn ngắn hạn lớn hoặc tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng nền vốn mỏng. Chi phí vốn tăng cũng làm giảm dư địa trích lập dự phòng và tích lũy vốn, khiến sức chống chịu của ngân hàng trước các cú sốc trở nên mong manh hơn.

Về chất lượng tín dụng, lãi suất cho vay tăng trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vẫn đang trong quá trình phục hồi sẽ làm gia tăng rủi ro trả nợ, nhất là với các khoản vay trung dài hạn được giải ngân trong giai đoạn lãi suất thấp trước đó. Điều này làm xác suất hình thành nợ xấu cao hơn, không chỉ ở các lĩnh vực rủi ro truyền thống như bất động sản hay xây dựng, mà cả ở những doanh nghiệp sản xuất có biên lợi nhuận mỏng. Khi đó, áp lực “kép” xuất hiện, NIM giảm trong khi chi phí dự phòng tăng, làm hiệu quả hoạt động ngân hàng suy giảm.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 15:30
Ngân hàng