Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, tín dụng tăng trưởng bứt phá, vượt xa chỉ tiêu điều hành và trở thành trụ đỡ quan trọng cho tăng trưởng GDP, song cũng kéo theo nhiều thách thức. Trao đổi với phóng viên đầu năm mới, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, bài toán cân bằng chính sách ngày càng khó, đòi hỏi tăng trưởng tín dụng phải chuyển dịch trọng tâm, thay vì theo đuổi tốc độ tăng đơn thuần.
aa

PV: Tính đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm - một mức tăng kỷ lục. Theo ông, đâu là động lực thực chất cho sự bứt phá này và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đã thực sự tương xứng?

Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Tín dụng tăng mạnh trong năm 2025 trước hết đến từ sự cộng hưởng của ba động lực chính.

Một là, định hướng điều hành chủ động của Ngân hàng Nhà nước khi nới hạn mức tăng trưởng tín dụng để phục vụ mục tiêu GDP cao, trong bối cảnh ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Việc mở "room" kịp thời đã giải phóng cầu tín dụng bị dồn nén từ năm trước, đặc biệt ở khu vực doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu và đầu tư hạ tầng.

Hai là, mặt bằng lãi suất cho vay nhìn chung được duy trì ở mức tương đối ổn định so với giai đoạn trước, giúp doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong việc mở rộng sản xuất, kinh doanh và tái cơ cấu dòng tiền.

Ba là, sự phục hồi của hoạt động kinh tế, nhất là đơn hàng xuất khẩu và đầu tư công, đã tạo ra nhu cầu vốn thực, khiến tín dụng tăng không chỉ do “đẩy cung”, mà có yếu tố “kéo cầu” khá rõ.

Về khả năng hấp thụ vốn, có thể nói, nền kinh tế cải thiện so với năm 2024, nhưng chưa hoàn toàn tương thích một cách bền vững với tốc độ tăng tín dụng cao như hiện nay. Một phần vốn đã chảy vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thực, góp phần hỗ trợ tăng trưởng GDP.

Tuy nhiên, vẫn tồn tại rủi ro khi một bộ phận tín dụng có xu hướng tìm đến các khu vực nhạy cảm với chu kỳ và tài sản, hoặc được sử dụng để đảo nợ, giãn áp lực tài chính hơn là tạo ra năng lực sản xuất mới. Điều này cho thấy, tín dụng đang đóng vai trò “đòn bẩy” quan trọng cho tăng trưởng ngắn hạn, nhưng về trung hạn, khả năng hấp thụ vốn hiệu quả của nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào chất lượng đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh và sự phục hồi của các kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng.

PV: Khi nền kinh tế bước vào chu kỳ tăng trưởng cao với mục tiêu GDP năm 2026 trên 10%, ngành ngân hàng đang đứng trước những cơ hội thuận lợi nào, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng Việt Nam đứng trước một bối cảnh vừa có những thuận lợi rõ nét, vừa đối mặt với những thách thức mang tính cấu trúc, khi cùng lúc gánh ba mục tiêu, đó là: hỗ trợ tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống.

Về thuận lợi, yếu tố bên ngoài, trước hết là môi trường tiền tệ quốc tế bớt căng hơn so với giai đoạn trước, khi chu kỳ thắt chặt của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã đảo chiều. Điều này giúp giảm áp lực lên tỷ giá, tạo thêm không gian để Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt thanh khoản và lãi suất, mà không phải “hy sinh” quá nhiều cho mục tiêu phòng thủ.

Ở trong nước, đà phục hồi của sản xuất, xuất khẩu và đầu tư công tạo ra cầu tín dụng thực, giúp tăng trưởng tín dụng gắn chặt hơn với hoạt động kinh tế, thay vì thuần túy là nới cung. Cùng với đó, hệ thống ngân hàng sau nhiều năm tái cơ cấu đã có nền tảng vốn, quản trị rủi ro và khuôn khổ giám sát tốt hơn, đủ khả năng “chịu tải” ở mức nhất định khi tín dụng tăng cao.

Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc
Năm 2025, tín dụng tăng trưởng bứt phá, vượt xa chỉ tiêu điều hành và trở thành trụ đỡ quan trọng cho tăng trưởng GDP. Ảnh: Đức Thanh

PV: Ông có thể phân tích rõ hơn về thách thức của ngành ngân hàng khi đồng thời theo đuổi nhiều mục tiêu khi hỗ trợ tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Thách thức cốt lõi của năm 2026 nằm ở sự căng thẳng nội tại của chính hệ thống ngân hàng. Sau một năm tín dụng tăng nhanh, nhiều ngân hàng bước vào năm 2026 với tỷ lệ LDR (cho vay/tổng tiền gửi) cao, thanh khoản không còn dư dả, khiến dư địa hạ lãi suất trở nên hạn chế. Áp lực cạnh tranh huy động có thể đẩy chi phí vốn lên, trong khi khả năng tăng lãi suất cho vay lại bị giới hạn bởi mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng, làm co hẹp biên lợi nhuận và sức chống chịu trước rủi ro.

Bài toán cân bằng chính sách

"Hỗ trợ tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào việc đẩy mạnh tín dụng về mặt số lượng, mà phải chuyển sang chất lượng và hướng dòng vốn tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên".

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân

Đồng thời, độ trễ của chu kỳ tín dụng cũng bắt đầu phát huy tác dụng. Nợ xấu tiềm ẩn có nguy cơ lộ diện khi các khoản vay được giải ngân mạnh trong giai đoạn trước bước vào kỳ trả nợ, đặc biệt ở các lĩnh vực nhạy cảm với lãi suất và giá tài sản.

Thành công của ngành ngân hàng sẽ không được đo bằng tốc độ tăng tín dụng đơn thuần, mà bằng khả năng giữ ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống, trong khi vẫn đóng vai trò là trụ cột tài trợ cho tăng trưởng kinh tế.

PV: Trong bối cảnh đó, nhiều dự báo cho rằng mặt bằng lãi suất cho vay năm 2026 có thể chịu áp lực tăng. Theo ông, xu hướng này sẽ tác động như thế nào tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tạo áp lực ra sao với hoạt động ngân hàng?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Nếu mặt bằng lãi suất cho vay năm 2026 chịu áp lực tăng, tác động sẽ lan tỏa theo cả hai chiều, làm suy giảm động lực tăng trưởng ở khu vực doanh nghiệp, đồng thời gia tăng sức ép nội tại lên chính hệ thống ngân hàng.

Về phía nền kinh tế, lãi suất cho vay tăng trong bối cảnh tăng trưởng vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng sẽ làm chi phí vốn của doanh nghiệp cao hơn, nhất là với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp thâm dụng vốn và các ngành có vòng quay dòng tiền dài. Điều này có thể khiến kế hoạch mở rộng sản xuất, đầu tư bị trì hoãn hoặc thu hẹp, qua đó, làm giảm hiệu quả lan tỏa của tín dụng tới tăng trưởng GDP.

Ở những lĩnh vực nhạy cảm với lãi suất và giá tài sản, lãi suất tăng còn có thể làm cầu suy yếu nhanh, khiến tăng trưởng đạt được chủ yếu nhờ “bơm vốn” nhưng hiệu quả đầu ra thấp hơn. Nói cách khác, lãi suất tăng làm rõ hơn ranh giới giữa tăng trưởng dựa trên năng suất và tăng trưởng dựa trên đòn bẩy tài chính.

Đối với hoạt động ngân hàng, áp lực lớn nhất không hẳn nằm ở khả năng tăng lãi suất cho vay, mà ở sự lệch pha giữa chi phí vốn và khả năng định giá đầu ra. Khi cạnh tranh huy động gay gắt, lãi suất tiền gửi có xu hướng tăng nhanh và lan rộng hơn, trong khi lãi suất cho vay lại khó điều chỉnh tương ứng do yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng và áp lực giữ khách hàng.

Kết quả là biên lãi ròng (NIM) bị co hẹp, đặc biệt ở những ngân hàng có cơ cấu vốn ngắn hạn lớn hoặc tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng nền vốn mỏng. Chi phí vốn tăng cũng làm giảm dư địa trích lập dự phòng và tích lũy vốn, khiến sức chống chịu của ngân hàng trước các cú sốc trở nên mong manh hơn.

Về chất lượng tín dụng, lãi suất cho vay tăng trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vẫn đang trong quá trình phục hồi sẽ làm gia tăng rủi ro trả nợ, nhất là với các khoản vay trung dài hạn được giải ngân trong giai đoạn lãi suất thấp trước đó. Điều này làm xác suất hình thành nợ xấu cao hơn, không chỉ ở các lĩnh vực rủi ro truyền thống như bất động sản hay xây dựng, mà cả ở những doanh nghiệp sản xuất có biên lợi nhuận mỏng. Khi đó, áp lực “kép” xuất hiện, NIM giảm trong khi chi phí dự phòng tăng, làm hiệu quả hoạt động ngân hàng suy giảm.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Rox Living “đảo chiều” giao dịch tại MSB, dự chi nghìn tỷ đồng gom thêm 100 triệu cổ phiếu

Rox Living “đảo chiều” giao dịch tại MSB, dự chi nghìn tỷ đồng gom thêm 100 triệu cổ phiếu

(TBTCO) - Công ty cổ phần Rox Living không bán ra cổ phiếu MSB nào trong hơn 31,15 triệu cổ phiếu đã đăng ký trước đó, đồng thời tiếp tục đăng ký mua thêm 100 triệu cổ phiếu MSB nhằm nâng tỷ lệ sở hữu lên hơn 4,2% vốn điều lệ tại Ngân hàng MSB. Hiện MSB có nhiều cổ đông tổ chức lớn nắm giữ từ 2 - 6% vốn điều lệ.
Tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn

Tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn

(TBTCO) - Nhóm phân tích của VPBankS cho rằng, tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) sử dụng thay thế cho tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn là chỉ tiêu đánh giá toàn diện và nhạy cảm với rủi ro hơn, đồng thời khuyến khích các ngân hàng từng bước kéo dài kỳ hạn huy động, tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn.
Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

(TBTCO) - Tín dụng kinh doanh bất động sản quý đầu năm đang dần giảm nhiệt khi nhiều ngân hàng chủ động hãm đà cho vay dưới áp lực siết room tín dụng, thậm chí đã có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ giảm so với đầu năm. Tuy nhiên, việc giảm phụ thuộc vào lĩnh vực này vẫn không dễ, khi dư nợ bất động sản tại nhiều ngân hàng tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng.
Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

(TBTCO) - Ngày 25/5/2026, Công ty cổ phần Vinhomes chính thức triển khai chương trình hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản, góp phần đưa nguồn vàng nhàn rỗi đang tích trữ trong dân trở thành dòng vốn năng động phục vụ tăng trưởng. Chương trình được triển khai trong 5 năm, với sự đồng hành của các công ty vàng bạc đá quý nhằm bảo đảm an toàn tối đa về quyền lợi và giá trị tài sản cho khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 25/5, tỷ giá trung tâm đầu tuần được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.136 đồng, tăng 2 đồng. Trong khi chỉ số DXY duy trì quanh 99,24 điểm, tiến gần ngưỡng tâm lý 100 điểm. Đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục nâng lãi suất trước cuối năm, trong bối cảnh thị trường theo dõi sát diễn biến địa chính trị và áp lực lạm phát.
Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

(TBTCO) - Sự nhập cuộc ngày càng mạnh mẽ của các ngân hàng đang khiến thị trường bảo hiểm phi nhân thọ bước vào một giai đoạn cạnh tranh mới. Khi nhóm doanh nghiệp gắn với ngân hàng đã nắm khoảng 35% thị phần, “ván cờ” thị phần trở nên khó đoán hơn, kéo theo những tính toán chiến lược mới của doanh nghiệp hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Mở cửa phiên ngày 25/5, giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, mặt bằng giá giao dịch ở quanh mức 159 - 162 triệu đồng/lượng.
VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

(TBTCO) - Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tổng công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) đã ký kết thỏa thuận hợp tác nhằm thiết lập khuôn khổ hợp tác toàn diện trong giai đoạn 2026 – 2027, hướng tới mục tiêu đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Kim TT/AVPL 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼50K 15,050 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼50K 15,000 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,600 ▼50K 16,000 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,550 ▼50K 15,950 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,480 ▼50K 15,930 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NL 99.90 14,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500
Trang sức 99.9 15,340 ▼50K 16,040 ▼50K
Trang sức 99.99 15,350 ▼50K 16,050 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,585 ▲1426K 16,152 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,585 ▲1426K 16,153 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 ▼1427K 161 ▼1454K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 ▼1427K 1,611 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 ▼1409K 1,595 ▲1435K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 ▼495K 157,921 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 ▼375K 119,787 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 ▼340K 108,621 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 ▲79669K 97,455 ▲87679K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 ▼291K 93,148 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 ▼209K 66,668 ▼209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cập nhật: 26/05/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18342 18618 19191
CAD 18549 18826 19442
CHF 32964 33350 33999
CNY 0 3842 3935
EUR 30018 30291 31316
GBP 34733 35126 36057
HKD 0 3232 3434
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15108 15696
SGD 20087 20370 20894
THB 724 787 840
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26126 0 0
USD (50,100) 26154 26169 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,164 26,164 26,394
USD(1-2-5) 25,118 - -
USD(10-20) 25,118 - -
EUR 30,143 30,167 31,427
JPY 161.24 161.53 170.28
GBP 34,912 35,007 36,009
AUD 18,535 18,602 19,195
CAD 18,735 18,795 19,375
CHF 33,224 33,327 34,113
SGD 20,209 20,272 20,945
CNY - 3,810 3,933
HKD 3,296 3,306 3,424
KRW 16.08 16.77 18.14
THB 771.75 781.28 832.18
NZD 15,103 15,243 15,600
SEK - 2,784 2,867
DKK - 4,034 4,153
NOK - 2,800 2,883
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,222.52 - 6,984.38
TWD 757.37 - 912.24
SAR - 6,903.38 7,229.28
KWD - 83,608 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,144 26,164 26,394
EUR 30,109 30,230 31,409
GBP 34,938 35,078 36,087
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,062 33,195 34,131
JPY 161.90 162.55 169.87
AUD 18,546 18,620 19,210
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 790 793 828
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,196 15,729
KRW 16.75 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26394
AUD 18526 18626 19549
CAD 18727 18827 19842
CHF 33220 33250 34833
CNY 3822.6 3847.6 3983
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30197 30227 31950
GBP 35034 35084 36837
HKD 0 3355 0
JPY 162.22 162.72 173.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15217 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20246 20376 21102
THB 0 753.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15850000 15850000 16150000
SBJ 14000000 14000000 16150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,394
USD20 26,185 26,235 26,394
USD1 23,882 26,235 26,394
AUD 18,589 18,689 19,808
EUR 30,369 30,369 31,798
CAD 18,692 18,792 20,108
SGD 20,333 20,483 21,060
JPY 162.79 164.29 170
GBP 34,958 35,308 36,188
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/05/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80