Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, tín dụng tăng trưởng bứt phá, vượt xa chỉ tiêu điều hành và trở thành trụ đỡ quan trọng cho tăng trưởng GDP, song cũng kéo theo nhiều thách thức. Trao đổi với phóng viên đầu năm mới, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, bài toán cân bằng chính sách ngày càng khó, đòi hỏi tăng trưởng tín dụng phải chuyển dịch trọng tâm, thay vì theo đuổi tốc độ tăng đơn thuần.
aa

PV: Tính đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm - một mức tăng kỷ lục. Theo ông, đâu là động lực thực chất cho sự bứt phá này và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đã thực sự tương xứng?

Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Tín dụng tăng mạnh trong năm 2025 trước hết đến từ sự cộng hưởng của ba động lực chính.

Một là, định hướng điều hành chủ động của Ngân hàng Nhà nước khi nới hạn mức tăng trưởng tín dụng để phục vụ mục tiêu GDP cao, trong bối cảnh ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Việc mở "room" kịp thời đã giải phóng cầu tín dụng bị dồn nén từ năm trước, đặc biệt ở khu vực doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu và đầu tư hạ tầng.

Hai là, mặt bằng lãi suất cho vay nhìn chung được duy trì ở mức tương đối ổn định so với giai đoạn trước, giúp doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong việc mở rộng sản xuất, kinh doanh và tái cơ cấu dòng tiền.

Ba là, sự phục hồi của hoạt động kinh tế, nhất là đơn hàng xuất khẩu và đầu tư công, đã tạo ra nhu cầu vốn thực, khiến tín dụng tăng không chỉ do “đẩy cung”, mà có yếu tố “kéo cầu” khá rõ.

Về khả năng hấp thụ vốn, có thể nói, nền kinh tế cải thiện so với năm 2024, nhưng chưa hoàn toàn tương thích một cách bền vững với tốc độ tăng tín dụng cao như hiện nay. Một phần vốn đã chảy vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thực, góp phần hỗ trợ tăng trưởng GDP.

Tuy nhiên, vẫn tồn tại rủi ro khi một bộ phận tín dụng có xu hướng tìm đến các khu vực nhạy cảm với chu kỳ và tài sản, hoặc được sử dụng để đảo nợ, giãn áp lực tài chính hơn là tạo ra năng lực sản xuất mới. Điều này cho thấy, tín dụng đang đóng vai trò “đòn bẩy” quan trọng cho tăng trưởng ngắn hạn, nhưng về trung hạn, khả năng hấp thụ vốn hiệu quả của nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào chất lượng đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh và sự phục hồi của các kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng.

PV: Khi nền kinh tế bước vào chu kỳ tăng trưởng cao với mục tiêu GDP năm 2026 trên 10%, ngành ngân hàng đang đứng trước những cơ hội thuận lợi nào, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng Việt Nam đứng trước một bối cảnh vừa có những thuận lợi rõ nét, vừa đối mặt với những thách thức mang tính cấu trúc, khi cùng lúc gánh ba mục tiêu, đó là: hỗ trợ tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống.

Về thuận lợi, yếu tố bên ngoài, trước hết là môi trường tiền tệ quốc tế bớt căng hơn so với giai đoạn trước, khi chu kỳ thắt chặt của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã đảo chiều. Điều này giúp giảm áp lực lên tỷ giá, tạo thêm không gian để Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt thanh khoản và lãi suất, mà không phải “hy sinh” quá nhiều cho mục tiêu phòng thủ.

Ở trong nước, đà phục hồi của sản xuất, xuất khẩu và đầu tư công tạo ra cầu tín dụng thực, giúp tăng trưởng tín dụng gắn chặt hơn với hoạt động kinh tế, thay vì thuần túy là nới cung. Cùng với đó, hệ thống ngân hàng sau nhiều năm tái cơ cấu đã có nền tảng vốn, quản trị rủi ro và khuôn khổ giám sát tốt hơn, đủ khả năng “chịu tải” ở mức nhất định khi tín dụng tăng cao.

Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc
Năm 2025, tín dụng tăng trưởng bứt phá, vượt xa chỉ tiêu điều hành và trở thành trụ đỡ quan trọng cho tăng trưởng GDP. Ảnh: Đức Thanh

PV: Ông có thể phân tích rõ hơn về thách thức của ngành ngân hàng khi đồng thời theo đuổi nhiều mục tiêu khi hỗ trợ tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Thách thức cốt lõi của năm 2026 nằm ở sự căng thẳng nội tại của chính hệ thống ngân hàng. Sau một năm tín dụng tăng nhanh, nhiều ngân hàng bước vào năm 2026 với tỷ lệ LDR (cho vay/tổng tiền gửi) cao, thanh khoản không còn dư dả, khiến dư địa hạ lãi suất trở nên hạn chế. Áp lực cạnh tranh huy động có thể đẩy chi phí vốn lên, trong khi khả năng tăng lãi suất cho vay lại bị giới hạn bởi mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng, làm co hẹp biên lợi nhuận và sức chống chịu trước rủi ro.

Bài toán cân bằng chính sách

"Hỗ trợ tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào việc đẩy mạnh tín dụng về mặt số lượng, mà phải chuyển sang chất lượng và hướng dòng vốn tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên".

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân

Đồng thời, độ trễ của chu kỳ tín dụng cũng bắt đầu phát huy tác dụng. Nợ xấu tiềm ẩn có nguy cơ lộ diện khi các khoản vay được giải ngân mạnh trong giai đoạn trước bước vào kỳ trả nợ, đặc biệt ở các lĩnh vực nhạy cảm với lãi suất và giá tài sản.

Thành công của ngành ngân hàng sẽ không được đo bằng tốc độ tăng tín dụng đơn thuần, mà bằng khả năng giữ ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống, trong khi vẫn đóng vai trò là trụ cột tài trợ cho tăng trưởng kinh tế.

PV: Trong bối cảnh đó, nhiều dự báo cho rằng mặt bằng lãi suất cho vay năm 2026 có thể chịu áp lực tăng. Theo ông, xu hướng này sẽ tác động như thế nào tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tạo áp lực ra sao với hoạt động ngân hàng?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Nếu mặt bằng lãi suất cho vay năm 2026 chịu áp lực tăng, tác động sẽ lan tỏa theo cả hai chiều, làm suy giảm động lực tăng trưởng ở khu vực doanh nghiệp, đồng thời gia tăng sức ép nội tại lên chính hệ thống ngân hàng.

Về phía nền kinh tế, lãi suất cho vay tăng trong bối cảnh tăng trưởng vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng sẽ làm chi phí vốn của doanh nghiệp cao hơn, nhất là với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp thâm dụng vốn và các ngành có vòng quay dòng tiền dài. Điều này có thể khiến kế hoạch mở rộng sản xuất, đầu tư bị trì hoãn hoặc thu hẹp, qua đó, làm giảm hiệu quả lan tỏa của tín dụng tới tăng trưởng GDP.

Ở những lĩnh vực nhạy cảm với lãi suất và giá tài sản, lãi suất tăng còn có thể làm cầu suy yếu nhanh, khiến tăng trưởng đạt được chủ yếu nhờ “bơm vốn” nhưng hiệu quả đầu ra thấp hơn. Nói cách khác, lãi suất tăng làm rõ hơn ranh giới giữa tăng trưởng dựa trên năng suất và tăng trưởng dựa trên đòn bẩy tài chính.

Đối với hoạt động ngân hàng, áp lực lớn nhất không hẳn nằm ở khả năng tăng lãi suất cho vay, mà ở sự lệch pha giữa chi phí vốn và khả năng định giá đầu ra. Khi cạnh tranh huy động gay gắt, lãi suất tiền gửi có xu hướng tăng nhanh và lan rộng hơn, trong khi lãi suất cho vay lại khó điều chỉnh tương ứng do yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng và áp lực giữ khách hàng.

Kết quả là biên lãi ròng (NIM) bị co hẹp, đặc biệt ở những ngân hàng có cơ cấu vốn ngắn hạn lớn hoặc tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng nền vốn mỏng. Chi phí vốn tăng cũng làm giảm dư địa trích lập dự phòng và tích lũy vốn, khiến sức chống chịu của ngân hàng trước các cú sốc trở nên mong manh hơn.

Về chất lượng tín dụng, lãi suất cho vay tăng trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vẫn đang trong quá trình phục hồi sẽ làm gia tăng rủi ro trả nợ, nhất là với các khoản vay trung dài hạn được giải ngân trong giai đoạn lãi suất thấp trước đó. Điều này làm xác suất hình thành nợ xấu cao hơn, không chỉ ở các lĩnh vực rủi ro truyền thống như bất động sản hay xây dựng, mà cả ở những doanh nghiệp sản xuất có biên lợi nhuận mỏng. Khi đó, áp lực “kép” xuất hiện, NIM giảm trong khi chi phí dự phòng tăng, làm hiệu quả hoạt động ngân hàng suy giảm.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

(TBTCO) - Trong năm 2025, Sun Life Việt Nam cho biết tiếp tục chiếm thị phần lớn mảng bảo hiểm hưu trí tự nguyện, duy trì tài chính an toàn và chiến lược đầu tư dài hạn.
Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

(TBTCO) - Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, NCB thông qua kế hoạch kinh doanh 2026, với mục tiêu dư nợ cho vay đạt 131.686 tỷ đồng, tăng 35%; đồng thời, thông qua phương án chào bán riêng lẻ 1 tỷ cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 29.280 tỷ đồng. Lãnh đạo NCB cũng nhấn mạnh, mục tiêu hoàn thành phương án cơ cấu lại cuối năm 2027, sớm đưa NCB trở lại "đường đua" bình thường.
Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

(TBTCO) - Hàng chục ngàn lượt khách hàng sẽ được hưởng lợi từ chương trình “Lướt Shopee, săn deal Thẻ” với ưu đãi giảm giá trực tiếp lên tới 100.000 VND khi mua sắm trên Shopee và thanh toán bằng Thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK
Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

(TBTCO) - Sáng 2/4, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.107 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.851,65 - 26.362 VND/USD. Trước đó, Sacombank gây chú ý khi giá mua vào tăng mạnh 101 đồng, trong khi bán ra chỉ tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,11% xuống 99,54 điểm, cho thấy USD suy yếu nhẹ.
Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 33/2026/TT-BTC quy định về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/5/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026. Thông tư nhấn mạnh nguyên tắc việc sử dụng vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đảm bảo bảo toàn vốn khi thực hiện hoạt động đầu tư và gia tăng nguồn vốn hoạt động.
Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển ngân hàng số và đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống. Tính đến ngày 23/3, hệ thống đã cảnh báo 3,5 triệu lượt khách hàng; trong đó hơn 1,1 triệu lượt đã dừng hoặc hủy giao dịch, với tổng giá trị khoảng 3,99 nghìn tỷ đồng, góp phần hạn chế rủi ro gian lận.
Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời, trình loạt đề xuất mang tính "bước ngoặt" như đổi tên, chuyển trụ sở và gia hạn Đề án tái cơ cấu. Ngân hàng chưa có kế hoạch chia cổ tức, tiếp tục tích lũy vốn, nâng lợi nhuận giữ lại lũy kế lên 30.125,2 tỷ đồng.
Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

(TBTCO) - Khảo sát từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, kỳ vọng tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2026 bị điều chỉnh giảm lần lượt 0,45 điểm phần trăm và 2,1 điểm phần trăm so với kỳ trước. Rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Đáng chú ý, 11,3% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận sụt giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,000 17,350
Kim TT/AVPL 17,010 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,000 17,350
Nguyên Liệu 99.99 15,550 15,750
Nguyên Liệu 99.9 15,500 15,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,450 16,850
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,330 16,780
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,500 173,000
Hà Nội - PNJ 169,500 173,000
Đà Nẵng - PNJ 169,500 173,000
Miền Tây - PNJ 169,500 173,000
Tây Nguyên - PNJ 169,500 173,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,500 173,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,000 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,000 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 17,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 17,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 17,300
NL 99.90 15,520
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550
Trang sức 99.9 16,490 17,190
Trang sức 99.99 16,500 17,200
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 170 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 170 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,698 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,698 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,678 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 1,735
Cập nhật: 03/04/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17571 17843 18419
CAD 18386 18663 19280
CHF 32267 32650 33298
CNY 0 3470 3830
EUR 29715 29987 31012
GBP 33958 34347 35273
HKD 0 3228 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19916 20198 20726
THB 719 782 835
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,945 29,969 31,208
JPY 160.99 161.28 169.95
GBP 34,280 34,373 35,351
AUD 17,844 17,908 18,471
CAD 18,633 18,693 19,264
CHF 32,650 32,752 33,506
SGD 20,102 20,165 20,833
CNY - 3,760 3,880
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.07 16.76 18.12
THB 770.41 779.93 830.4
NZD 14,766 14,903 15,252
SEK - 2,734 2,813
DKK - 4,008 4,123
NOK - 2,665 2,742
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,113.41 - 6,860.69
TWD 745.48 - 897.54
SAR - 6,917.38 7,241.41
KWD - 83,795 88,608
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,943 30,063 31,240
GBP 34,385 34,523 35,524
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,583 32,714 33,636
JPY 161.88 162.53 169.85
AUD 17,861 17,933 18,518
SGD 20,165 20,246 20,824
THB 788 791 825
CAD 18,633 18,708 19,272
NZD 14,880 15,408
KRW 16.69 18.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26222 26222 26362
AUD 17748 17848 18779
CAD 18568 18668 19682
CHF 32523 32553 34140
CNY 3758.7 3783.7 3918.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29900 29930 31653
GBP 34258 34308 36069
HKD 0 3355 0
JPY 161.45 161.95 172.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20072 20202 20935
THB 0 748.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17000000 17000000 17350000
SBJ 16000000 16000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,168 26,218 26,362
USD20 26,168 26,218 26,362
USD1 26,168 26,218 26,362
AUD 17,807 17,907 19,016
EUR 30,073 30,073 31,484
CAD 18,526 18,626 19,935
SGD 20,160 20,310 20,875
JPY 162.13 163.63 168.21
GBP 34,211 34,561 35,428
XAU 16,878,000 0 17,282,000
CNY 0 0 0
THB 0 0 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/04/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80