Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, tín dụng tăng trưởng bứt phá, vượt xa chỉ tiêu điều hành và trở thành trụ đỡ quan trọng cho tăng trưởng GDP, song cũng kéo theo nhiều thách thức. Trao đổi với phóng viên đầu năm mới, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, bài toán cân bằng chính sách ngày càng khó, đòi hỏi tăng trưởng tín dụng phải chuyển dịch trọng tâm, thay vì theo đuổi tốc độ tăng đơn thuần.
aa

PV: Tính đến ngày 24/12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm - một mức tăng kỷ lục. Theo ông, đâu là động lực thực chất cho sự bứt phá này và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đã thực sự tương xứng?

Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Tín dụng tăng mạnh trong năm 2025 trước hết đến từ sự cộng hưởng của ba động lực chính.

Một là, định hướng điều hành chủ động của Ngân hàng Nhà nước khi nới hạn mức tăng trưởng tín dụng để phục vụ mục tiêu GDP cao, trong bối cảnh ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Việc mở "room" kịp thời đã giải phóng cầu tín dụng bị dồn nén từ năm trước, đặc biệt ở khu vực doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu và đầu tư hạ tầng.

Hai là, mặt bằng lãi suất cho vay nhìn chung được duy trì ở mức tương đối ổn định so với giai đoạn trước, giúp doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong việc mở rộng sản xuất, kinh doanh và tái cơ cấu dòng tiền.

Ba là, sự phục hồi của hoạt động kinh tế, nhất là đơn hàng xuất khẩu và đầu tư công, đã tạo ra nhu cầu vốn thực, khiến tín dụng tăng không chỉ do “đẩy cung”, mà có yếu tố “kéo cầu” khá rõ.

Về khả năng hấp thụ vốn, có thể nói, nền kinh tế cải thiện so với năm 2024, nhưng chưa hoàn toàn tương thích một cách bền vững với tốc độ tăng tín dụng cao như hiện nay. Một phần vốn đã chảy vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thực, góp phần hỗ trợ tăng trưởng GDP.

Tuy nhiên, vẫn tồn tại rủi ro khi một bộ phận tín dụng có xu hướng tìm đến các khu vực nhạy cảm với chu kỳ và tài sản, hoặc được sử dụng để đảo nợ, giãn áp lực tài chính hơn là tạo ra năng lực sản xuất mới. Điều này cho thấy, tín dụng đang đóng vai trò “đòn bẩy” quan trọng cho tăng trưởng ngắn hạn, nhưng về trung hạn, khả năng hấp thụ vốn hiệu quả của nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào chất lượng đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh và sự phục hồi của các kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng.

PV: Khi nền kinh tế bước vào chu kỳ tăng trưởng cao với mục tiêu GDP năm 2026 trên 10%, ngành ngân hàng đang đứng trước những cơ hội thuận lợi nào, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng Việt Nam đứng trước một bối cảnh vừa có những thuận lợi rõ nét, vừa đối mặt với những thách thức mang tính cấu trúc, khi cùng lúc gánh ba mục tiêu, đó là: hỗ trợ tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống.

Về thuận lợi, yếu tố bên ngoài, trước hết là môi trường tiền tệ quốc tế bớt căng hơn so với giai đoạn trước, khi chu kỳ thắt chặt của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã đảo chiều. Điều này giúp giảm áp lực lên tỷ giá, tạo thêm không gian để Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt thanh khoản và lãi suất, mà không phải “hy sinh” quá nhiều cho mục tiêu phòng thủ.

Ở trong nước, đà phục hồi của sản xuất, xuất khẩu và đầu tư công tạo ra cầu tín dụng thực, giúp tăng trưởng tín dụng gắn chặt hơn với hoạt động kinh tế, thay vì thuần túy là nới cung. Cùng với đó, hệ thống ngân hàng sau nhiều năm tái cơ cấu đã có nền tảng vốn, quản trị rủi ro và khuôn khổ giám sát tốt hơn, đủ khả năng “chịu tải” ở mức nhất định khi tín dụng tăng cao.

Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc
Năm 2025, tín dụng tăng trưởng bứt phá, vượt xa chỉ tiêu điều hành và trở thành trụ đỡ quan trọng cho tăng trưởng GDP. Ảnh: Đức Thanh

PV: Ông có thể phân tích rõ hơn về thách thức của ngành ngân hàng khi đồng thời theo đuổi nhiều mục tiêu khi hỗ trợ tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Thách thức cốt lõi của năm 2026 nằm ở sự căng thẳng nội tại của chính hệ thống ngân hàng. Sau một năm tín dụng tăng nhanh, nhiều ngân hàng bước vào năm 2026 với tỷ lệ LDR (cho vay/tổng tiền gửi) cao, thanh khoản không còn dư dả, khiến dư địa hạ lãi suất trở nên hạn chế. Áp lực cạnh tranh huy động có thể đẩy chi phí vốn lên, trong khi khả năng tăng lãi suất cho vay lại bị giới hạn bởi mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng, làm co hẹp biên lợi nhuận và sức chống chịu trước rủi ro.

Bài toán cân bằng chính sách

"Hỗ trợ tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào việc đẩy mạnh tín dụng về mặt số lượng, mà phải chuyển sang chất lượng và hướng dòng vốn tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên".

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân

Đồng thời, độ trễ của chu kỳ tín dụng cũng bắt đầu phát huy tác dụng. Nợ xấu tiềm ẩn có nguy cơ lộ diện khi các khoản vay được giải ngân mạnh trong giai đoạn trước bước vào kỳ trả nợ, đặc biệt ở các lĩnh vực nhạy cảm với lãi suất và giá tài sản.

Thành công của ngành ngân hàng sẽ không được đo bằng tốc độ tăng tín dụng đơn thuần, mà bằng khả năng giữ ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống, trong khi vẫn đóng vai trò là trụ cột tài trợ cho tăng trưởng kinh tế.

PV: Trong bối cảnh đó, nhiều dự báo cho rằng mặt bằng lãi suất cho vay năm 2026 có thể chịu áp lực tăng. Theo ông, xu hướng này sẽ tác động như thế nào tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tạo áp lực ra sao với hoạt động ngân hàng?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Nếu mặt bằng lãi suất cho vay năm 2026 chịu áp lực tăng, tác động sẽ lan tỏa theo cả hai chiều, làm suy giảm động lực tăng trưởng ở khu vực doanh nghiệp, đồng thời gia tăng sức ép nội tại lên chính hệ thống ngân hàng.

Về phía nền kinh tế, lãi suất cho vay tăng trong bối cảnh tăng trưởng vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng sẽ làm chi phí vốn của doanh nghiệp cao hơn, nhất là với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp thâm dụng vốn và các ngành có vòng quay dòng tiền dài. Điều này có thể khiến kế hoạch mở rộng sản xuất, đầu tư bị trì hoãn hoặc thu hẹp, qua đó, làm giảm hiệu quả lan tỏa của tín dụng tới tăng trưởng GDP.

Ở những lĩnh vực nhạy cảm với lãi suất và giá tài sản, lãi suất tăng còn có thể làm cầu suy yếu nhanh, khiến tăng trưởng đạt được chủ yếu nhờ “bơm vốn” nhưng hiệu quả đầu ra thấp hơn. Nói cách khác, lãi suất tăng làm rõ hơn ranh giới giữa tăng trưởng dựa trên năng suất và tăng trưởng dựa trên đòn bẩy tài chính.

Đối với hoạt động ngân hàng, áp lực lớn nhất không hẳn nằm ở khả năng tăng lãi suất cho vay, mà ở sự lệch pha giữa chi phí vốn và khả năng định giá đầu ra. Khi cạnh tranh huy động gay gắt, lãi suất tiền gửi có xu hướng tăng nhanh và lan rộng hơn, trong khi lãi suất cho vay lại khó điều chỉnh tương ứng do yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng và áp lực giữ khách hàng.

Kết quả là biên lãi ròng (NIM) bị co hẹp, đặc biệt ở những ngân hàng có cơ cấu vốn ngắn hạn lớn hoặc tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng nền vốn mỏng. Chi phí vốn tăng cũng làm giảm dư địa trích lập dự phòng và tích lũy vốn, khiến sức chống chịu của ngân hàng trước các cú sốc trở nên mong manh hơn.

Về chất lượng tín dụng, lãi suất cho vay tăng trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vẫn đang trong quá trình phục hồi sẽ làm gia tăng rủi ro trả nợ, nhất là với các khoản vay trung dài hạn được giải ngân trong giai đoạn lãi suất thấp trước đó. Điều này làm xác suất hình thành nợ xấu cao hơn, không chỉ ở các lĩnh vực rủi ro truyền thống như bất động sản hay xây dựng, mà cả ở những doanh nghiệp sản xuất có biên lợi nhuận mỏng. Khi đó, áp lực “kép” xuất hiện, NIM giảm trong khi chi phí dự phòng tăng, làm hiệu quả hoạt động ngân hàng suy giảm.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

(TBTCO) - Sáng 11/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.214 đồng, tăng 8 đồng trong cả tuần, nối dài chuỗi tăng lên 8 tuần liên tiếp. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng nhẹ 0,03%, lên 100,97 điểm. Tuần tới, thị trường sẽ hướng sự chú ý đến chỉ số CPI tháng 6 của Mỹ và phiên điều trần của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm thêm tín hiệu về lộ trình lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Kim TT/AVPL 14,300 14,650 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,650 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼100K 13,300 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼100K 13,250 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,600 ▼100K 14,100 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,550 ▼100K 14,050 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,480 ▼100K 14,030 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,860 ▼30K 14,560 ▼30K
Trang sức 99.99 13,870 ▼30K 14,570 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▼9K 14,752 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▼9K 14,753 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▼9K 147 ▼1332K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▼9K 1,471 ▲1323K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1278K 145 ▼1314K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▼891K 143,564 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼675K 108,911 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼80676K 9,876 ▼89496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▼549K 88,609 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▼525K 84,693 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▼375K 60,621 ▼375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cập nhật: 14/07/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17706 17979 18555
CAD 18108 18383 18999
CHF 31678 32058 32700
CNY 0 3833 3926
EUR 29308 29528 30603
GBP 34326 34717 35648
HKD 0 3220 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14915 15505
SGD 19773 20054 20626
THB 699 762 815
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,402 29,426 30,831
JPY 157.36 157.64 167.14
GBP 34,452 34,545 35,729
AUD 17,873 17,938 18,613
CAD 18,236 18,295 18,966
CHF 31,864 31,963 32,900
SGD 19,883 19,945 20,729
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.21 16.91 18.4
THB 747.41 756.64 809.55
NZD 14,871 15,009 15,455
SEK - 2,660 2,753
DKK - 3,933 4,072
NOK - 2,643 2,736
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.33 - 6,791.42
TWD 736.79 - 892.51
SAR - 6,873.09 7,239.02
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,346 29,464 30,654
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 31,699 31,826 32,746
JPY 157.68 158.31 166.21
AUD 17,822 17,894 18,487
SGD 19,941 20,021 20,608
THB 764 767 803
CAD 18,230 18,303 18,876
NZD 14,926 15,469
KRW 16.82 18.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26430
AUD 17849 17949 18872
CAD 18224 18324 19339
CHF 31848 31878 33452
CNY 3812.4 3837.4 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29446 29476 31199
GBP 34570 34620 36373
HKD 0 3355 0
JPY 158.21 158.71 169.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15001 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19914 20044 20772
THB 0 728.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,085 26,135 26,450
USD20 26,085 26,135 26,450
USD1 26,085 26,135 26,450
AUD 17,921 18,021 19,128
EUR 29,268 29,368 31,026
CAD 18,209 18,309 19,612
SGD 19,999 20,149 20,930
JPY 158.72 160.22 165.75
GBP 34,474 34,624 35,686
XAU 14,448,000 0 14,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80