Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, tín dụng tăng gần 20%

Thu Hương
(TBTCO) - Quý IV/2025, tín dụng toàn ngành ngân hàng tăng gần 20% tính từ đầu năm. Nhóm ngân hàng được cấp hạn mức cao tiếp tục mở rộng thị phần, góp phần đưa lợi nhuận vượt kỳ vọng dù sự phân hóa ngày càng rõ rệt.
aa

Lợi nhuận và tín dụng tăng tốc

Ngành ngân hàng khép lại quý IV/2025 với kết quả tích cực khi tổng lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu của Công ty Chứng khoán SSI đạt 85,3 nghìn tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ và 13,8% so với quý trước, cao hơn kỳ vọng ban đầu. Các chuyên gia nhận định, kết quả này chủ yếu đến từ sự phục hồi của thu nhập từ các khoản nợ xấu đã xử lý tại một số ngân hàng và đà tăng trưởng tín dụng mạnh ở nhóm được cấp hạn mức cao.

Tuy nhiên, diễn biến lợi nhuận cho thấy sự phân hóa rõ rệt. TCB ghi nhận lợi nhuận tăng 95% so với cùng kỳ, VPB tăng 66% và HDB tăng 60%, trong khi ACB giảm 39% và STB lỗ 3,4 nghìn tỷ đồng. Bức tranh này phản ánh khác biệt về cấu trúc tài sản, chiến lược tăng trưởng và mức độ chủ động trong xử lý rủi ro của từng ngân hàng.

Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, tín dụng tăng gần 20%
Nguồn: SSI Research.

Tăng trưởng tín dụng đạt gần 20% tính từ đầu năm, riêng quý IV tăng 4,7%, mức cao nhất kể từ năm 2017. Động lực tăng trưởng tập trung ở các ngân hàng có hạn mức tín dụng cao, đặc biệt những đơn vị tham gia tái cơ cấu tổ chức tín dụng yếu kém. MBB tăng 15,2% so với quý trước, HDB tăng 17,5%, VPB tăng 5,4%; tính theo năm, các ngân hàng này đều đạt mức tăng trên 30%. BID cũng ghi nhận mức tăng 6% trong quý, cao hơn đáng kể so với các quý trước.

Hoạt động mua bán nợ sôi động hơn khi các ngân hàng chuyển nhượng khoản vay để tạo dư địa tăng trưởng mới. Cơ cấu tín dụng dịch chuyển sang cho vay mua nhà (tăng 8,4% so với quý trước) và xây dựng (tăng 19,4%), thay cho cho vay chủ đầu tư bất động sản. MBB, TCB, HDB và VPB dẫn dắt xu hướng này. Riêng HDB mua nợ 23 nghìn tỷ đồng trong quý, tương đương khoảng 4% tổng tín dụng, trong khi dư nợ cho vay công ty chứng khoán tăng thêm 30 nghìn tỷ đồng, chủ yếu tại MBB và HDB.

Trong khi đó, phần lớn ngân hàng thương mại cổ phần chỉ tăng trung bình 2,8% do hạn mức bị giới hạn. Nhờ vậy, nhóm được cấp hạn mức cao tiếp tục gia tăng thị phần, đưa tăng trưởng tín dụng khối cổ phần lên 6,5% so với quý trước và 25% từ đầu năm, cao hơn mức 2,9% và 15,4% của khối ngân hàng quốc doanh.

Tăng trưởng tín dụng cao kéo theo áp lực huy động gia tăng. Lãi suất tiền gửi tăng 120 - 180 điểm cơ bản trong quý IV nhằm thúc đẩy huy động vốn, đưa tăng trưởng huy động đạt 5,5% so với quý trước và duy trì tỷ lệ cho vay trên huy động quanh 100%. Thanh khoản chịu áp lực rõ rệt vào cuối năm khi giải ngân đầu tư công tăng tốc, giao dịch tiền mặt gia tăng theo quy định thuế mới và chênh lệch cơ cấu huy động - cho vay kéo dài. Dư nợ vay Ngân hàng Nhà nước tăng 46% so với quý trước, lên 280 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ trái phiếu Chính phủ trên tổng nguồn vốn giảm xuống 4,2% so với 6% đầu năm 2024.

Chất lượng tài sản cải thiện

Chất lượng tài sản toàn ngành cải thiện trong quý IV, ngoại trừ STB. Tỷ lệ nợ xấu giảm xuống 1,76% nhờ xử lý 40,6 nghìn tỷ đồng nợ xấu, mức cao kỷ lục trong một quý. Nếu không tính STB, tỷ lệ hình thành nợ xấu mới giảm về 0,4%, thấp nhất kể từ cuối năm 2020. Các nhóm nợ 2, 3 và 4 đồng loạt giảm, cho thấy xu hướng chuyển dịch tích cực. Tuy nhiên, dư nợ nhóm 5 vẫn ở mức cao tại CTG, BID, TCB, ACB và STB, hàm ý áp lực dự phòng chưa hoàn toàn kết thúc. Chỉ ACB và STB tăng mạnh chi phí dự phòng trong quý, trong khi phần lớn ngân hàng khác ghi nhận mức trích lập thấp hơn quý trước.

Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, tín dụng tăng gần 20%
Nguồn: SSI Research.

Biên lãi ròng duy trì ổn định trong quý IV dù lãi suất huy động tăng mạnh. Chi phí vốn bình quân chỉ tăng khoảng 10 điểm cơ bản do phần lớn tiền gửi lãi suất cao mới phát sinh cuối quý và chưa phản ánh đầy đủ vào chi phí. Đồng thời, lợi suất tài sản tăng 21 điểm cơ bản nhờ gia tăng cho vay vào các lĩnh vực có lợi suất cao hơn như xây dựng, cho vay mua nhà và điều chỉnh lãi suất thả nổi đối với khoản vay cũ.

Tuy vậy, khi mặt bằng lãi suất huy động cao được ghi nhận đầy đủ hơn, NIM nhiều khả năng chịu áp lực trong quý I/2026. Thu nhập ngoài lãi tiếp tục hỗ trợ lợi nhuận với thu nhập phí tăng 32,6% so với cùng kỳ và thu từ nợ xấu đã xử lý tăng 53%, trong khi lợi nhuận từ chứng khoán và ngoại hối suy giảm; riêng HDB ghi nhận khoản lãi đột biến từ thoái vốn VJC.

Bước sang năm 2026, triển vọng ngành ngân hàng nhìn chung tích cực nhưng không đồng đều. Nền tảng vĩ mô ổn định, giải ngân đầu tư công duy trì nhịp độ cao và môi trường pháp lý thuận lợi cho xử lý tài sản bảo đảm sẽ tiếp tục hỗ trợ nhu cầu tín dụng và thu hồi nợ.

Tuy nhiên, chi phí vốn tăng do mặt bằng lãi suất huy động duy trì ở mức cao từ cuối 2025 sẽ tạo áp lực trực tiếp lên NIM trong nửa đầu năm, đặc biệt với các ngân hàng có tỷ lệ CASA thấp hoặc phụ thuộc nhiều vào tiền gửi kỳ hạn dài. Hạn mức tín dụng dự kiến tiếp tục phân bổ có chọn lọc, khiến tốc độ tăng trưởng giữa các ngân hàng khó đồng đều như giai đoạn trước.

Bên cạnh đó, dư nợ nhóm 5 còn cao và rủi ro từ phân khúc bất động sản, nhất là nhóm khách hàng đầu tư, có thể ảnh hưởng đến chi phí dự phòng nếu thị trường hồi phục chậm hơn kỳ vọng. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng có nền tảng huy động bền vững, cơ cấu tài sản linh hoạt, khả năng kiểm soát chi phí vốn tốt và bộ đệm dự phòng dày sẽ có lợi thế rõ rệt về tăng trưởng và ổn định lợi nhuận trong năm 2026.

Thu Hương

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80