Lợi nhuận và tín dụng tăng tốc

Ngành ngân hàng khép lại quý IV/2025 với kết quả tích cực khi tổng lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu của Công ty Chứng khoán SSI đạt 85,3 nghìn tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ và 13,8% so với quý trước, cao hơn kỳ vọng ban đầu. Các chuyên gia nhận định, kết quả này chủ yếu đến từ sự phục hồi của thu nhập từ các khoản nợ xấu đã xử lý tại một số ngân hàng và đà tăng trưởng tín dụng mạnh ở nhóm được cấp hạn mức cao.

Tuy nhiên, diễn biến lợi nhuận cho thấy sự phân hóa rõ rệt. TCB ghi nhận lợi nhuận tăng 95% so với cùng kỳ, VPB tăng 66% và HDB tăng 60%, trong khi ACB giảm 39% và STB lỗ 3,4 nghìn tỷ đồng. Bức tranh này phản ánh khác biệt về cấu trúc tài sản, chiến lược tăng trưởng và mức độ chủ động trong xử lý rủi ro của từng ngân hàng.

Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, tín dụng tăng gần 20%
Nguồn: SSI Research.

Tăng trưởng tín dụng đạt gần 20% tính từ đầu năm, riêng quý IV tăng 4,7%, mức cao nhất kể từ năm 2017. Động lực tăng trưởng tập trung ở các ngân hàng có hạn mức tín dụng cao, đặc biệt những đơn vị tham gia tái cơ cấu tổ chức tín dụng yếu kém. MBB tăng 15,2% so với quý trước, HDB tăng 17,5%, VPB tăng 5,4%; tính theo năm, các ngân hàng này đều đạt mức tăng trên 30%. BID cũng ghi nhận mức tăng 6% trong quý, cao hơn đáng kể so với các quý trước.

Hoạt động mua bán nợ sôi động hơn khi các ngân hàng chuyển nhượng khoản vay để tạo dư địa tăng trưởng mới. Cơ cấu tín dụng dịch chuyển sang cho vay mua nhà (tăng 8,4% so với quý trước) và xây dựng (tăng 19,4%), thay cho cho vay chủ đầu tư bất động sản. MBB, TCB, HDB và VPB dẫn dắt xu hướng này. Riêng HDB mua nợ 23 nghìn tỷ đồng trong quý, tương đương khoảng 4% tổng tín dụng, trong khi dư nợ cho vay công ty chứng khoán tăng thêm 30 nghìn tỷ đồng, chủ yếu tại MBB và HDB.

Trong khi đó, phần lớn ngân hàng thương mại cổ phần chỉ tăng trung bình 2,8% do hạn mức bị giới hạn. Nhờ vậy, nhóm được cấp hạn mức cao tiếp tục gia tăng thị phần, đưa tăng trưởng tín dụng khối cổ phần lên 6,5% so với quý trước và 25% từ đầu năm, cao hơn mức 2,9% và 15,4% của khối ngân hàng quốc doanh.

Tăng trưởng tín dụng cao kéo theo áp lực huy động gia tăng. Lãi suất tiền gửi tăng 120 - 180 điểm cơ bản trong quý IV nhằm thúc đẩy huy động vốn, đưa tăng trưởng huy động đạt 5,5% so với quý trước và duy trì tỷ lệ cho vay trên huy động quanh 100%. Thanh khoản chịu áp lực rõ rệt vào cuối năm khi giải ngân đầu tư công tăng tốc, giao dịch tiền mặt gia tăng theo quy định thuế mới và chênh lệch cơ cấu huy động - cho vay kéo dài. Dư nợ vay Ngân hàng Nhà nước tăng 46% so với quý trước, lên 280 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ trái phiếu Chính phủ trên tổng nguồn vốn giảm xuống 4,2% so với 6% đầu năm 2024.

Chất lượng tài sản cải thiện

Chất lượng tài sản toàn ngành cải thiện trong quý IV, ngoại trừ STB. Tỷ lệ nợ xấu giảm xuống 1,76% nhờ xử lý 40,6 nghìn tỷ đồng nợ xấu, mức cao kỷ lục trong một quý. Nếu không tính STB, tỷ lệ hình thành nợ xấu mới giảm về 0,4%, thấp nhất kể từ cuối năm 2020. Các nhóm nợ 2, 3 và 4 đồng loạt giảm, cho thấy xu hướng chuyển dịch tích cực. Tuy nhiên, dư nợ nhóm 5 vẫn ở mức cao tại CTG, BID, TCB, ACB và STB, hàm ý áp lực dự phòng chưa hoàn toàn kết thúc. Chỉ ACB và STB tăng mạnh chi phí dự phòng trong quý, trong khi phần lớn ngân hàng khác ghi nhận mức trích lập thấp hơn quý trước.

Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, tín dụng tăng gần 20%
Nguồn: SSI Research.

Biên lãi ròng duy trì ổn định trong quý IV dù lãi suất huy động tăng mạnh. Chi phí vốn bình quân chỉ tăng khoảng 10 điểm cơ bản do phần lớn tiền gửi lãi suất cao mới phát sinh cuối quý và chưa phản ánh đầy đủ vào chi phí. Đồng thời, lợi suất tài sản tăng 21 điểm cơ bản nhờ gia tăng cho vay vào các lĩnh vực có lợi suất cao hơn như xây dựng, cho vay mua nhà và điều chỉnh lãi suất thả nổi đối với khoản vay cũ.

Tuy vậy, khi mặt bằng lãi suất huy động cao được ghi nhận đầy đủ hơn, NIM nhiều khả năng chịu áp lực trong quý I/2026. Thu nhập ngoài lãi tiếp tục hỗ trợ lợi nhuận với thu nhập phí tăng 32,6% so với cùng kỳ và thu từ nợ xấu đã xử lý tăng 53%, trong khi lợi nhuận từ chứng khoán và ngoại hối suy giảm; riêng HDB ghi nhận khoản lãi đột biến từ thoái vốn VJC.

Bước sang năm 2026, triển vọng ngành ngân hàng nhìn chung tích cực nhưng không đồng đều. Nền tảng vĩ mô ổn định, giải ngân đầu tư công duy trì nhịp độ cao và môi trường pháp lý thuận lợi cho xử lý tài sản bảo đảm sẽ tiếp tục hỗ trợ nhu cầu tín dụng và thu hồi nợ.

Tuy nhiên, chi phí vốn tăng do mặt bằng lãi suất huy động duy trì ở mức cao từ cuối 2025 sẽ tạo áp lực trực tiếp lên NIM trong nửa đầu năm, đặc biệt với các ngân hàng có tỷ lệ CASA thấp hoặc phụ thuộc nhiều vào tiền gửi kỳ hạn dài. Hạn mức tín dụng dự kiến tiếp tục phân bổ có chọn lọc, khiến tốc độ tăng trưởng giữa các ngân hàng khó đồng đều như giai đoạn trước.

Bên cạnh đó, dư nợ nhóm 5 còn cao và rủi ro từ phân khúc bất động sản, nhất là nhóm khách hàng đầu tư, có thể ảnh hưởng đến chi phí dự phòng nếu thị trường hồi phục chậm hơn kỳ vọng. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng có nền tảng huy động bền vững, cơ cấu tài sản linh hoạt, khả năng kiểm soát chi phí vốn tốt và bộ đệm dự phòng dày sẽ có lợi thế rõ rệt về tăng trưởng và ổn định lợi nhuận trong năm 2026.