"Mở van" dự trữ bắt buộc trên 50 nghìn tỷ đồng, tiếp sức thanh khoản cho 4 ngân hàng

Ánh Tuyết
Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng vừa cho ý kiến về việc thực hiện quyền giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho 4 ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc, gồm: Vietcombank, MB, VPBank và HDBank. Theo MBS, với tổng tiền gửi khoảng 3,78 triệu tỷ đồng cuối 2025, động thái này có thể giải phóng khoảng 54,5 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ thanh khoản hệ thống trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng từng vọt lên hơn 18%.
aa
Ước tính 50.000 tỷ đồng được giải phóng nhờ giảm dự trữ bắt buộc cho 4 ngân hàng lớn Qua “vùng tối” sau hơn 1 năm chuyển giao, ngân hàng yếu kém báo lãi kèm nợ xấu lao dốc Cho vay bứt tốc năm 2025, có ngân hàng "nhấn ga" gần 40%

“Nới van” dự trữ bắt buộc, 4 ngân hàng được giảm 50% tỷ lệ

Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) vừa có Văn bản số 469/QLGS4 về việc thực hiện quyền giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc.

Việc giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc căn cứ Điều 16 Thông tư số 30/2019/TT-NHNN ngày 27/12/2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về thực hiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (đã được sửa đổi, bổ sung); điểm p khoản 1 Điều 185 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định quyền, nghĩa vụ của bên nhận chuyển giao bắt buộc được “giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc”; cùng Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 26/12/2025 của Chính phủ về việc áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đối với các phương án nhận chuyển giao bắt buộc đã được phê duyệt...

Bên cạnh đó, phương án chuyển giao bắt buộc các ngân hàng và Nghị quyết của Chính phủ phê duyệt phương án chuyển giao bắt buộc đã được Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trước đây sao gửi các đơn vị.

Theo đó, tại 04 Phương án chuyển giao bắt buộc được Chính phủ phê duyệt, các tổ chức tín dụng đã đề xuất được thực hiện các quyền của tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 theo quy định của pháp luật.

"Mở van" dự trữ bắt buộc trên 50 nghìn tỷ đồng, tiếp sức thanh khoản cho 4 ngân hàng. Ảnh minh họa.

Đồng thời, căn cứ ý kiến của Vụ Chính sách tiền tệ tại Tờ trình số 37/TTr-CSTT2 ngày 05/02/2026 đã được Phó Thống đốc phê duyệt và công văn đề nghị của các ngân hàng trong tháng 1/2026, Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng có ý kiến về việc giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng nhân chuyển giao bắt buộc.

Theo đó, giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc, gồm: Vietcombank, MB, VPBankHDBank. Tháng bắt đầu áp dụng theo đề nghị của các ngân hàng hoặc theo tháng có văn bản của Sở Giao dịch thông báo việc áp dụng giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

Thời hạn áp dụng giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc được thực hiện trong thời gian thực hiện phương án chuyển giao bắt buộc.

“Bơm oxy” thanh khoản khi ngân hàng lớn kín room quý I/2026

Tính đến đầu năm 2025, 4 thương vụ chuyển giao bắt buộc đáng chú ý đã được công bố: Vietcombank nhận CBBank, MBBank nhận OceanBank, VPBank nhận GPBank và HDBank tiếp nhận DongABank. Để những ngân hàng khỏe mạnh đủ động lực “gánh vác” trọng trách, Nhà nước dành cho các nhà băng này nhiều ưu đãi mang tính đặc thù; trong đó, có giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

Theo quy định hiện hành, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được áp dụng đối với tiền gửi bằng VND ở mức 3% đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng và 1% đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên. Với tiền gửi bằng ngoại tệ, tỷ lệ cao hơn đáng kể, lần lượt 8% và 6% cho hai nhóm kỳ hạn nói trên.

Nguồn vốn huy động càng ngắn hạn thì tỷ lệ dự trữ càng cao, nhằm hạn chế việc ngân hàng dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và phát sinh rủi ro kỳ hạn. Có thể xem dự trữ bắt buộc như một “vùng đệm” bảo vệ hệ thống.

Đồ họa: Ánh Tuyết. Nguồn: MBS.
Nhóm phân tích MBS đánh giá, tới tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm 50%, tức từ mức 3% xuống 1,5% (với tiền gửi không kỳ hạn và có ký hạn dưới 12 tháng) và từ mức 1% xuống 0,5% (với tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng) có thể cung cấp thêm khả năng cho vay khoảng 54,5 nghìn tỷ đồng.

Theo tính toán của nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), tính đến cuối năm 2025, tổng tiền gửi khách hàng của 4 ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc đạt khoảng 3,78 triệu tỷ đồng.

Theo MBS, tình hình gia tăng khả năng cho vay khi giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc thực tế sẽ còn phụ thuộc vào CAR (hệ số an toàn vốn) và LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) của từng ngân hàng.

"Chúng tôi đánh giá điều này có tác động rất tích cực và kịp thời tới thanh khoản toàn hệ thống trong bối cảnh thanh khoản khá căng thẳng, biểu hiện bởi sự biến động lớn của lãi suất liên ngân hàng qua đêm (có lúc lên đến hơn 18% vào ngày 03/02/2026)" - MBS nhận định.

Điều này không chỉ cung cấp dư địa cho vay của các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc nêu trên mà còn nói thanh khoản cho thị trường liên ngân hàng, đáp ứng nhu cầu thanh toán trong dịp lễ Tết và nộp thuế của người dân.

Theo thông tin của MBS, hiện tại các ngân hàng quốc doanh đã sử dụng hết room tín dụng được cho phép trong quý I/2026./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

VPBank và MB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao năm 2026, lần lượt 34% và 30% sau khi nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, hai ngân hàng đẩy mạnh tăng vốn lên trên 100.000 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng quy mô và hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng được chuyển giao.
LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

(TBTCO) - Ngày 28/3/2026, nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập, LPBank chính thức giới thiệu LPBank Plus – ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới phát triển theo định hướng AI-first, tích hợp trí tuệ nhân tạo vào trải nghiệm giao dịch, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển ngân hàng số của ngân hàng.
Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

(TBTCO) - Bài toán tăng trưởng không chỉ nằm ở việc “bơm thêm vốn”, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc dòng vốn, khơi thông nguồn lực và đầu tư đúng vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Trong đó, nông nghiệp nếu được tiếp sức đúng cách hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 cho thấy KienlongBank duy trì đà tăng trưởng rõ nét, với hiệu quả cải thiện qua từng quý, rủi ro được kiểm soát và nền tảng vận hành tiếp tục được chuẩn hóa.
Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Kim TT/AVPL 17,200 ▲110K 17,500 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▼40K 17,200 ▼140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▼40K 17,150 ▼140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▼40K 17,130 ▼140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Hà Nội - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Đà Nẵng - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Miền Tây - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Tây Nguyên - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Miếng SJC Nghệ An 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Miếng SJC Thái Bình 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,660 ▲90K 17,360 ▲90K
Trang sức 99.99 16,670 ▲90K 17,370 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,719 ▲11K 17,492 ▲110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,719 ▲11K 17,493 ▲110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,717 ▲11K 1,747 ▲11K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,717 ▲11K 1,748 ▲11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,697 ▲11K 1,732 ▲11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,985 ▲1089K 171,485 ▲1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,163 ▲825K 130,063 ▲825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,038 ▲98209K 117,938 ▲106219K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,913 ▲672K 105,813 ▲672K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,236 ▲642K 101,136 ▲642K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,482 ▲459K 72,382 ▲459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Cập nhật: 31/03/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17521 17794 18367
CAD 18356 18632 19249
CHF 32248 32631 33272
CNY 0 3470 3830
EUR 29572 29843 30870
GBP 34002 34392 35325
HKD 0 3229 3431
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14720 15308
SGD 19862 20144 20672
THB 713 776 830
USD (1,2) 26074 0 0
USD (5,10,20) 26115 0 0
USD (50,100) 26143 26163 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,784 29,808 31,038
JPY 160.97 161.26 169.96
GBP 34,280 34,373 35,335
AUD 17,778 17,842 18,403
CAD 18,594 18,654 19,222
CHF 32,595 32,696 33,449
SGD 20,051 20,113 20,770
CNY - 3,790 3,908
HKD 3,302 3,312 3,429
KRW 15.95 16.63 17.98
THB 764.52 773.96 823.78
NZD 14,750 14,887 15,238
SEK - 2,718 2,797
DKK - 3,986 4,102
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,096.35 - 6,841.52
TWD 744.27 - 896.07
SAR - 6,920.72 7,244.92
KWD - 83,761 88,573
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,652 29,771 30,943
GBP 34,131 34,268 35,265
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,387 32,517 33,430
JPY 160.84 161.49 168.73
AUD 17,711 17,782 18,365
SGD 20,037 20,117 20,689
THB 782 785 819
CAD 18,569 18,644 19,205
NZD 14,824 15,350
KRW 16.55 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26357
AUD 17704 17804 18729
CAD 18538 18638 19652
CHF 32502 32532 34106
CNY 3753.3 3778.3 3913.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29755 29785 31508
GBP 34304 34354 36107
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14830 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20027 20157 20878
THB 0 742.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17190000 17190000 17490000
SBJ 16000000 16000000 17490000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,357
USD20 26,169 26,219 26,357
USD1 26,169 26,219 26,357
AUD 17,784 17,884 18,990
EUR 29,913 29,913 31,324
CAD 18,500 18,600 19,908
SGD 20,112 20,262 20,826
JPY 161.97 163.47 168.01
GBP 34,186 34,536 35,403
XAU 17,188,000 0 17,492,000
CNY 0 3,663 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/03/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80