Ước tính 50.000 tỷ đồng được giải phóng nhờ giảm dự trữ bắt buộc cho 4 ngân hàng lớn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tư 23/2025/TT-NHNN giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ ngày 1/10/2025, giúp 4 ngân hàng lớn "nhẹ gánh" chi phí vốn, giải phóng hơn 50.000 tỷ đồng để mở rộng cho vay. Đây là một trong những ưu đãi đặc thù cho các ngân hàng nhận chuyển giao, nhằm tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém.
aa
Nhiều ngân hàng hưởng lợi khi ban hành quy định mới giảm 50% dự trữ bắt buộc Kỳ vọng "thay áo" đổi vận sau khi chuyển giao ngân hàng yếu kém Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn

Thông tư 23/2025/TT-NHNN sửa đổi và bổ sung Thông tư 30/2019/TT-NHNN ngày 27/12/2019 quy định thực hiện dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 23) được kỳ vọng sẽ mang lại những lợi ích đáng kể, đặc biệt đối với các ngân hàng lớn đang tích cực tham gia quá trình tái cơ cấu tổ chức tín dụng yếu kém.

Ngân hàng "nhẹ gánh" dự trữ, chi phí vốn giảm

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, nhằm đảm bảo ngân hàng có khả năng thanh toán và giảm thiểu rủi ro ở mức tối đa trong thời gian hoạt động.

Theo quy định hiện hành, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được áp dụng đối với tiền gửi bằng VND ở mức 3% đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng và 1% đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên. Với tiền gửi bằng ngoại tệ, tỷ lệ cao hơn đáng kể, lần lượt 8% và 6% cho hai nhóm kỳ hạn nói trên.

Theo quy định mới ban hành tại Thông tư 23, trong một số trường hợp đặc biệt như các ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được ưu đãi giảm 50%, tức chỉ còn 1,5% và 0,5% với tiền gửi bằng VND, nhằm khuyến khích các ngân hàng mạnh tham gia xử lý các đơn vị yếu kém và qua đó, góp phần ổn định hệ thống.

giảm dự trữ bắt buộc
Tính đến đầu năm 2025, 4 thương vụ chuyển giao bắt buộc đáng chú ý đã được công bố. Ảnh minh hoạ.

"Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc giúp chi phí vốn của ngân hàng được cải thiện. Đồng nghĩa kỳ vọng một lượng tiền mới sẽ được bơm ra ngoài thị trường, tạo ra tâm lý lạc quan cho thị trường và cho những ngân hàng được giảm tỷ lệ bắt buộc này" - ông Phạm Bình Phương - Chuyên gia phân tích Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) nhìn nhận.

Theo chia sẻ của ông Phạm Bình Phương - Chuyên gia phân tích Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), dự trữ bắt buộc là phần vốn các ngân hàng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước khi huy động từ khách hàng, với tỷ lệ khác nhau tùy theo kỳ hạn.

Nguồn vốn huy động càng ngắn hạn thì tỷ lệ dự trữ càng cao, nhằm hạn chế việc ngân hàng dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và phát sinh rủi ro kỳ hạn. Có thể xem dự trữ bắt buộc như một “vùng đệm” bảo vệ hệ thống.

Tuy nhiên, ông Phương cũng lưu ý, khi “vùng đệm” dự trữ được thu hẹp, nếu hệ thống xuất hiện rủi ro thanh khoản, áp lực an toàn tài khoản của ngân hàng sẽ trở nên đáng kể hơn.

Còn theo đánh giá của chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần WiGroup, tác động từ việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc lần này không lớn như kỳ vọng của thị trường. Mỗi ngân hàng được giải phóng khoảng vài chục nghìn tỷ đồng với chi phí gần như bằng không, giúp hạ thấp chi phí vốn và hỗ trợ thanh khoản. Thực tế, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Việt Nam vốn đã ở mức rất thấp, trung bình khoảng 2%, nay giảm một nửa còn 1%.

Loạt ưu đãi đặc thù cho các ngân hàng nhận chuyển giao

Dữ liệu của phóng viên cho thấy, nửa đầu năm 2025, dư nợ tín dụng tăng thêm lần lượt đạt 106,3 nghìn tỷ đồng tại Vietcombank; 132,2 nghìn tỷ đồng tại VPBank; 99,8 nghìn tỷ đồng tại MB và 68,7 nghìn tỷ đồng tại HDBank. Như vậy, các ngân hàng "bơm" tiền ra nền kinh tế tăng hơn 407 nghìn tỷ đồng trong 6 tháng 2025.

Ước tính 50.000 tỷ đồng được giải phóng nhờ giảm dự trữ bắt buộc cho 4 ngân hàng lớn
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Ước tính giải phóng trên 50 nghìn tỷ đồng

Theo ước tính của ACBS, Vietcombank là ngân hàng được giảm dự trữ bắt buộc nhiều nhất, khoảng 23.850 tỷ đồng. Tiếp đến là MB giảm khoảng 11.700 tỷ đồng; VPBank khoảng 9.200 tỷ đồng; và HDBank gần 7.200 tỷ đồng. Như vậy, việc giảm dự trữ bắt buộc giúp giải phóng trên 50 nghìn tỷ đồng tại cả 4 ngân hàng.

Các chuyên gia kỳ vọng dòng vốn trên 50 nghìn tỷ đồng được giải phóng khi giảm đáng kể tỷ trọng vốn nhàn rỗi nằm tại Ngân hàng Nhà nước, từ đó, tạo cú hích quan trọng cho thanh khoản, giúp các ngân hàng đẩy mạnh cho vay thời gian tới.

Ông Trần Ngọc Báu cũng lưu ý thêm, những ngân hàng đã tham gia tái cơ cấu và nhận chuyển giao 4 ngân hàng "0 đồng" mới là đối tượng được hưởng lợi chính, trong đó có ưu đãi giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là bước đi nhằm thực hiện đúng cam kết của Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng đã hỗ trợ xử lý hệ thống, chứ không phải động thái nới lỏng để "bơm" tiền toàn ngành.

Hơn nữa, hiện hệ thống ngân hàng đứng trước sức ép từ việc dỡ bỏ trần tăng trưởng tín dụng, một công cụ hành chính quan trọng từng giúp Ngân hàng Nhà nước nắm trong tay "cây gậy" và "củ cà rốt". Nếu tiếp tục cắt giảm mạnh công cụ dự trữ bắt buộc, Ngân hàng Nhà nước sẽ mất thêm một công cụ điều hành mang tính hành chính, dù tỷ lệ dự trữ tại Việt Nam đang thuộc nhóm thấp.

Tính đến đầu năm 2025, 4 thương vụ chuyển giao bắt buộc đáng chú ý đã được công bố: Vietcombank nhận CBBank, MBBank nhận OceanBank, VPBank nhận GPBank và HDBank tiếp nhận DongABank. Để những ngân hàng khỏe mạnh đủ động lực “gánh vác” trọng trách, Nhà nước dành cho các nhà băng này nhiều ưu đãi mang tính đặc thù, từ chính sách đến chế độ vốn như: tăng vốn, hỗ trợ thanh khoản và tái cơ cấu nợ, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái cơ cấu và phục hồi, góp phần củng cố sức khỏe tài chính của các tổ chức này.

Chỉ rõ cơ hội với các ngân hàng nhận chuyển giao, theo báo cáo từ FiinRatings, thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc, qua đó giải phóng thêm nguồn vốn để mở rộng nguồn lực cho vay và gia tăng lợi nhuận. Thứ hai, hạn mức tín dụng nới rộng nhờ Ngân hàng Nhà nước cấp thêm hạn mức, khai thác quy mô, kênh phân phối và tệp khách hàng sẵn có của ngân hàng bị chuyển giao.

Thứ ba, tỷ lệ sở hữu nước ngoài được nâng lên 49% (ngoại trừ Vietcombank), giúp tăng cường khả năng huy động vốn quốc tế và củng cố năng lực tài chính.

Thứ tư, không hợp nhất báo cáo tài chính với ngân hàng bị chuyển giao, loại bỏ các khoản cho vay ngân hàng bị chuyển giao khi tính toán các tỷ lệ an toàn. Thứ năm, bán các khoản dư nợ sinh lời và trái phiếu doanh nghiệp cho ngân hàng bị chuyển giao, kèm cam kết mua lại nếu các khoản vay trở thành nợ xấu.

Thứ sáu, vay tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước với lãi suất thấp, cho phép phát hành trái phiếu dài hạn cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi.

Tuy nhiên, theo Ngân hàng Nhà nước, mọi rủi ro tín dụng phát sinh tại ngân hàng được chuyển giao, ngân hàng mẹ phải chịu trách nhiệm. Không thể có chuyện "đẩy nợ" nhóm 5 sang ngân hàng yếu để nhận ưu đãi mà không xử lý gốc rễ. Nếu không tái cấu trúc thực chất, ngân hàng mẹ cuối cùng vẫn phải gánh hậu quả./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

(TBTCO) - Chương trình “SME Global Boost” của VietinBank mang đến loạt ưu đãi phí giao dịch ngoại tệ và tài trợ thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thương mại quốc tế nhiều biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Kim TT/AVPL 17,090 ▲110K 17,390 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼50K 16,100 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,940 ▲140K 17,340 ▲140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,890 ▲140K 17,290 ▲140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,820 ▲140K 17,270 ▲140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
NL 99.90 15,770 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▼50K
Trang sức 99.9 16,570 ▲100K 17,270 ▲100K
Trang sức 99.99 16,580 ▲100K 17,280 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,708 ▲10K 17,382 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,708 ▲10K 17,383 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,706 ▲10K 1,736 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,706 ▲10K 1,737 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,686 ▲10K 1,721 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,896 ▲990K 170,396 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,338 ▲750K 129,238 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,829 ▲68K 11,719 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,241 ▲610K 105,141 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,594 ▲583K 100,494 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,023 ▲417K 71,923 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Cập nhật: 30/03/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17524 17797 18373
CAD 18395 18672 19291
CHF 32283 32666 33306
CNY 0 3470 3830
EUR 29639 29910 30937
GBP 34056 34446 35373
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14752 15340
SGD 19874 20156 20686
THB 717 780 833
USD (1,2) 26075 0 0
USD (5,10,20) 26116 0 0
USD (50,100) 26144 26164 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,851 29,875 31,107
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,348 34,441 35,413
AUD 17,776 17,840 18,399
CAD 18,635 18,695 19,266
CHF 32,619 32,720 33,478
SGD 20,057 20,119 20,788
CNY - 3,789 3,907
HKD 3,305 3,315 3,432
KRW 16.06 16.75 18.11
THB 766.55 776.02 825.47
NZD 14,782 14,919 15,263
SEK - 2,732 2,812
DKK - 3,995 4,110
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,124.95 - 6,873.65
TWD 744.81 - 896.72
SAR - 6,921.38 7,245.6
KWD - 83,780 88,593
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26355
AUD 17709 17809 18735
CAD 18583 18683 19694
CHF 32534 32564 34139
CNY 3751.5 3776.5 3911.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29821 29851 31574
GBP 34360 34410 36168
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20038 20168 20900
THB 0 746.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17080000 17080000 17380000
SBJ 15000000 15000000 17380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/03/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80