Ước tính 50.000 tỷ đồng được giải phóng nhờ giảm dự trữ bắt buộc cho 4 ngân hàng lớn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tư 23/2025/TT-NHNN giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ ngày 1/10/2025, giúp 4 ngân hàng lớn "nhẹ gánh" chi phí vốn, giải phóng hơn 50.000 tỷ đồng để mở rộng cho vay. Đây là một trong những ưu đãi đặc thù cho các ngân hàng nhận chuyển giao, nhằm tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém.
aa
Nhiều ngân hàng hưởng lợi khi ban hành quy định mới giảm 50% dự trữ bắt buộc Kỳ vọng "thay áo" đổi vận sau khi chuyển giao ngân hàng yếu kém Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn

Thông tư 23/2025/TT-NHNN sửa đổi và bổ sung Thông tư 30/2019/TT-NHNN ngày 27/12/2019 quy định thực hiện dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 23) được kỳ vọng sẽ mang lại những lợi ích đáng kể, đặc biệt đối với các ngân hàng lớn đang tích cực tham gia quá trình tái cơ cấu tổ chức tín dụng yếu kém.

Ngân hàng "nhẹ gánh" dự trữ, chi phí vốn giảm

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, nhằm đảm bảo ngân hàng có khả năng thanh toán và giảm thiểu rủi ro ở mức tối đa trong thời gian hoạt động.

Theo quy định hiện hành, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được áp dụng đối với tiền gửi bằng VND ở mức 3% đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng và 1% đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên. Với tiền gửi bằng ngoại tệ, tỷ lệ cao hơn đáng kể, lần lượt 8% và 6% cho hai nhóm kỳ hạn nói trên.

Theo quy định mới ban hành tại Thông tư 23, trong một số trường hợp đặc biệt như các ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được ưu đãi giảm 50%, tức chỉ còn 1,5% và 0,5% với tiền gửi bằng VND, nhằm khuyến khích các ngân hàng mạnh tham gia xử lý các đơn vị yếu kém và qua đó, góp phần ổn định hệ thống.

giảm dự trữ bắt buộc
Tính đến đầu năm 2025, 4 thương vụ chuyển giao bắt buộc đáng chú ý đã được công bố. Ảnh minh hoạ.

"Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc giúp chi phí vốn của ngân hàng được cải thiện. Đồng nghĩa kỳ vọng một lượng tiền mới sẽ được bơm ra ngoài thị trường, tạo ra tâm lý lạc quan cho thị trường và cho những ngân hàng được giảm tỷ lệ bắt buộc này" - ông Phạm Bình Phương - Chuyên gia phân tích Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) nhìn nhận.

Theo chia sẻ của ông Phạm Bình Phương - Chuyên gia phân tích Công ty Chứng khoán ACB (ACBS), dự trữ bắt buộc là phần vốn các ngân hàng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước khi huy động từ khách hàng, với tỷ lệ khác nhau tùy theo kỳ hạn.

Nguồn vốn huy động càng ngắn hạn thì tỷ lệ dự trữ càng cao, nhằm hạn chế việc ngân hàng dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và phát sinh rủi ro kỳ hạn. Có thể xem dự trữ bắt buộc như một “vùng đệm” bảo vệ hệ thống.

Tuy nhiên, ông Phương cũng lưu ý, khi “vùng đệm” dự trữ được thu hẹp, nếu hệ thống xuất hiện rủi ro thanh khoản, áp lực an toàn tài khoản của ngân hàng sẽ trở nên đáng kể hơn.

Còn theo đánh giá của chuyên gia về kinh tế vĩ mô và tài chính tiền tệ Trần Ngọc Báu - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần WiGroup, tác động từ việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc lần này không lớn như kỳ vọng của thị trường. Mỗi ngân hàng được giải phóng khoảng vài chục nghìn tỷ đồng với chi phí gần như bằng không, giúp hạ thấp chi phí vốn và hỗ trợ thanh khoản. Thực tế, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Việt Nam vốn đã ở mức rất thấp, trung bình khoảng 2%, nay giảm một nửa còn 1%.

Loạt ưu đãi đặc thù cho các ngân hàng nhận chuyển giao

Dữ liệu của phóng viên cho thấy, nửa đầu năm 2025, dư nợ tín dụng tăng thêm lần lượt đạt 106,3 nghìn tỷ đồng tại Vietcombank; 132,2 nghìn tỷ đồng tại VPBank; 99,8 nghìn tỷ đồng tại MB và 68,7 nghìn tỷ đồng tại HDBank. Như vậy, các ngân hàng "bơm" tiền ra nền kinh tế tăng hơn 407 nghìn tỷ đồng trong 6 tháng 2025.

Ước tính 50.000 tỷ đồng được giải phóng nhờ giảm dự trữ bắt buộc cho 4 ngân hàng lớn
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Ước tính giải phóng trên 50 nghìn tỷ đồng

Theo ước tính của ACBS, Vietcombank là ngân hàng được giảm dự trữ bắt buộc nhiều nhất, khoảng 23.850 tỷ đồng. Tiếp đến là MB giảm khoảng 11.700 tỷ đồng; VPBank khoảng 9.200 tỷ đồng; và HDBank gần 7.200 tỷ đồng. Như vậy, việc giảm dự trữ bắt buộc giúp giải phóng trên 50 nghìn tỷ đồng tại cả 4 ngân hàng.

Các chuyên gia kỳ vọng dòng vốn trên 50 nghìn tỷ đồng được giải phóng khi giảm đáng kể tỷ trọng vốn nhàn rỗi nằm tại Ngân hàng Nhà nước, từ đó, tạo cú hích quan trọng cho thanh khoản, giúp các ngân hàng đẩy mạnh cho vay thời gian tới.

Ông Trần Ngọc Báu cũng lưu ý thêm, những ngân hàng đã tham gia tái cơ cấu và nhận chuyển giao 4 ngân hàng "0 đồng" mới là đối tượng được hưởng lợi chính, trong đó có ưu đãi giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là bước đi nhằm thực hiện đúng cam kết của Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng đã hỗ trợ xử lý hệ thống, chứ không phải động thái nới lỏng để "bơm" tiền toàn ngành.

Hơn nữa, hiện hệ thống ngân hàng đứng trước sức ép từ việc dỡ bỏ trần tăng trưởng tín dụng, một công cụ hành chính quan trọng từng giúp Ngân hàng Nhà nước nắm trong tay "cây gậy" và "củ cà rốt". Nếu tiếp tục cắt giảm mạnh công cụ dự trữ bắt buộc, Ngân hàng Nhà nước sẽ mất thêm một công cụ điều hành mang tính hành chính, dù tỷ lệ dự trữ tại Việt Nam đang thuộc nhóm thấp.

Tính đến đầu năm 2025, 4 thương vụ chuyển giao bắt buộc đáng chú ý đã được công bố: Vietcombank nhận CBBank, MBBank nhận OceanBank, VPBank nhận GPBank và HDBank tiếp nhận DongABank. Để những ngân hàng khỏe mạnh đủ động lực “gánh vác” trọng trách, Nhà nước dành cho các nhà băng này nhiều ưu đãi mang tính đặc thù, từ chính sách đến chế độ vốn như: tăng vốn, hỗ trợ thanh khoản và tái cơ cấu nợ, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái cơ cấu và phục hồi, góp phần củng cố sức khỏe tài chính của các tổ chức này.

Chỉ rõ cơ hội với các ngân hàng nhận chuyển giao, theo báo cáo từ FiinRatings, thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc, qua đó giải phóng thêm nguồn vốn để mở rộng nguồn lực cho vay và gia tăng lợi nhuận. Thứ hai, hạn mức tín dụng nới rộng nhờ Ngân hàng Nhà nước cấp thêm hạn mức, khai thác quy mô, kênh phân phối và tệp khách hàng sẵn có của ngân hàng bị chuyển giao.

Thứ ba, tỷ lệ sở hữu nước ngoài được nâng lên 49% (ngoại trừ Vietcombank), giúp tăng cường khả năng huy động vốn quốc tế và củng cố năng lực tài chính.

Thứ tư, không hợp nhất báo cáo tài chính với ngân hàng bị chuyển giao, loại bỏ các khoản cho vay ngân hàng bị chuyển giao khi tính toán các tỷ lệ an toàn. Thứ năm, bán các khoản dư nợ sinh lời và trái phiếu doanh nghiệp cho ngân hàng bị chuyển giao, kèm cam kết mua lại nếu các khoản vay trở thành nợ xấu.

Thứ sáu, vay tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước với lãi suất thấp, cho phép phát hành trái phiếu dài hạn cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi.

Tuy nhiên, theo Ngân hàng Nhà nước, mọi rủi ro tín dụng phát sinh tại ngân hàng được chuyển giao, ngân hàng mẹ phải chịu trách nhiệm. Không thể có chuyện "đẩy nợ" nhóm 5 sang ngân hàng yếu để nhận ưu đãi mà không xử lý gốc rễ. Nếu không tái cấu trúc thực chất, ngân hàng mẹ cuối cùng vẫn phải gánh hậu quả./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

(TBTCO) - Việc bãi bỏ thuế khoán không đồng nghĩa tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ngay. Việc xác định đối tượng tham gia được thực hiện theo lộ trình và quy định cụ thể của pháp luật.
Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá

Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh trong khi huy động vốn không theo kịp, ngân hàng sẽ đối mặt với ba rủi ro lớn, khó đáp ứng chuẩn an toàn Basel III. Trong bối cảnh này, lãi suất cần được điều hành ổn định có chọn lọc, hài hòa nhiều mục tiêu, thay vì duy trì "rẻ đại trà”.
Giá vàng hôm nay ngày 6/7: Vàng thế giới neo quanh 4.175 USD/ounce, vàng miếng giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 6/7: Vàng thế giới neo quanh 4.175 USD/ounce, vàng miếng giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới gần như không đổi so với sáng qua, giao dịch quanh 4.175 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

(TBTCO) - Trước nhiều rủi ro gia tăng, chi bồi thường bảo hiểm tăng mạnh, với tổng chi bồi thường gốc của nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt 11.591 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 20,4% cùng kỳ. Điều này vừa phản ánh cam kết chi trả với khách hàng, vừa đặt doanh nghiệp trước bài toán cân bằng rủi ro và lợi nhuận do đặc thù “chu trình ngược” của ngành bảo hiểm.
Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

(TBTCO) - Dư nợ tín dụng xanh đạt 828 nghìn tỷ đồng, với đông đảo 82 tổ chức tín dụng tham gia, song tỷ trọng còn thấp do còn nhiều vướng mắc. Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo tập trung dòng vốn vào các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh sau khi được công khai, chuẩn hóa và sớm trình cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm để thúc đẩy tín dụng xanh.
Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.175 USD/ounce, gần như không đổi so với sáng ngày hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng không ghi nhận biến động với mức bán ra phổ biến 151,4 triệu đồng/lượng.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 15,100
Kim TT/AVPL 14,800 15,100
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,800 15,100
Nguyên Liệu 99.99 13,560 13,760
Nguyên Liệu 99.9 13,510 13,710
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,060 14,560
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,010 14,510
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,940 14,490
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,000 151,000
Hà Nội - PNJ 148,000 151,000
Đà Nẵng - PNJ 148,000 151,000
Miền Tây - PNJ 148,000 151,000
Tây Nguyên - PNJ 148,000 151,000
Đông Nam Bộ - PNJ 148,000 151,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 15,100
Miếng SJC Nghệ An 14,800 15,100
Miếng SJC Thái Bình 14,800 15,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,650 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,650 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,650 15,000
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,190 14,890
Trang sức 99.99 14,200 14,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 15,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 15,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 1,509
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 151
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 1,494
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,921 147,921
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,711 112,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,252 101,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,793 91,293
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,759 87,259
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,956 62,456
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Cập nhật: 07/07/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17699 17972 18548
CAD 17961 18236 18856
CHF 31988 32370 33015
CNY 0 3828 3922
EUR 29397 29618 30699
GBP 34276 34667 35605
HKD 0 3222 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14635 15223
SGD 19789 20070 20645
THB 705 768 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,102 26,102 26,462
USD(1-2-5) 25,058 - -
USD(10-20) 25,058 - -
EUR 29,539 29,563 30,950
JPY 157.78 158.06 167.46
GBP 34,440 34,533 35,708
AUD 17,889 17,954 18,623
CAD 18,165 18,223 18,878
CHF 32,262 32,362 33,289
SGD 19,913 19,975 20,748
CNY - 3,800 3,942
HKD 3,287 3,297 3,432
KRW 15.84 16.52 17.96
THB 753.11 762.41 815.58
NZD 14,624 14,760 15,186
SEK - 2,678 2,771
DKK - 3,952 4,088
NOK - 2,630 2,720
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,024.92 - 6,797.46
TWD 739.49 - 895.08
SAR - 6,887.37 7,248.58
KWD - 83,223 88,475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,082 26,102 26,462
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,465 34,603 35,632
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,140 32,269 33,202
JPY 158.50 159.14 167
AUD 17,886 17,958 18,552
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 772 775 811
CAD 18,172 18,245 18,813
NZD 14,720 15,257
KRW 16.48 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26462
AUD 17871 17971 18902
CAD 18130 18230 19244
CHF 32227 32257 33843
CNY 3811.3 3836.3 3971.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29565 29595 31321
GBP 34559 34609 36378
HKD 0 3355 0
JPY 158.53 159.03 169.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.7 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14737 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19945 20075 20800
THB 0 733.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/07/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80