Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, đến cuối quý II/2025, đà mở rộng tín dụng rất tích cực với dư nợ cho vay khách hàng đạt 13,09 triệu tỷ đồng, tăng 10,4% so với cuối năm 2024. Tuy nhiên, áp lực nợ xấu cũng gia tăng khi tổng nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) lên tới 267,53 nghìn tỷ đồng, tăng 16,3% và cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng dư nợ, khiến tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay khách hàng nhích nhẹ.
aa
Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu "ẩn" tại nhiều ngân hàng Nợ xấu ngân hàng gia tăng, tỷ lệ bao phủ xuống mức đáy 5 năm Áp lực xử lý nợ xấu 1 triệu tỷ đồng, "liều thuốc” luật hoá Nghị quyết 42 liệu có đủ liều?

Nợ xấu leo thang diện rộng, 4 ngân hàng đi ngược xu hướng

Xét theo cơ cấu, nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) ghi nhận mức tăng mạnh nhất 26,9%; tiếp đến là nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng 22%; trong khi nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) tăng 10,5% và vẫn chiếm tới gần 55% tổng nợ xấu.

Trong số 27 ngân hàng được khảo sát, có tới 8/23 ngân hàng ghi nhận mức tăng nợ xấu đột biến trên 20%, trong đó 2 nhà băng có mức tăng vượt 50%. Ở chiều ngược lại, chỉ có 4 ngân hàng giảm quy mô nợ xấu trong quý II/2025 là ACB, VietABank, ABBank và NCB.

Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Theo đó, ACB có tổng nợ xấu thu hẹp xuống 7.965 tỷ đồng, tương ứng giảm 7,9%, chủ yếu nhờ giảm mạnh nợ nhóm 5 (giảm 854 tỷ, tức giảm 12,6%), trong khi nhóm 3 và 4 vẫn tăng nhẹ. Cùng với đó, ngân hàng giảm trích lập dự phòng khoảng 660 tỷ đồng, khiến tỷ lệ bao nợ xấu lùi còn 76,3%. Đại diện ACB cho biết, tỷ lệ nợ xấu giảm từ 1,49% cuối năm 2024 xuống còn 1,18% trước đối soát và 1,26% sau đối soát với CIC (Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia), tiếp tục thuộc nhóm thấp nhất ngành và cho thấy khả năng kiểm soát rủi ro hiệu quả.

Với VietABank, tín hiệu khả quan là nợ xấu một cách đồng thời ở cả ba nhóm, với nhóm 3 giảm 9 tỷ đồng, nhóm 4 hạ 68 tỷ đồng, nhóm 5 bớt 43 tỷ đồng, kéo tổng nợ xấu xuống 971,5 tỷ đồng, giảm 11% so với cuối năm 2024. Cùng lúc, tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay khách hàng giảm từ 1,4% xuống 1,1% vì nợ xấu co lại nhanh hơn mức tăng của dư nợ. Song song, ngân hàng bổ sung trích lập dự phòng thêm 99 tỷ đồng, đưa tỷ lệ bao nợ xấu tăng mạnh lên 88,3%, cải thiện rõ rệt và thuộc nhóm tăng mạnh nhất toàn ngành.

ABBank cũng ghi nhận cải thiện do nợ nhóm 3 và 4 lần lượt giảm 319 tỷ đồng; 217 tỷ đồng nhóm 5 gần như đi ngang, đưa tổng nợ xấu giảm 14,8% còn 3.146 tỷ đồng. Mức đệm rủi ro tốt hơn rõ rệt khi tỷ lệ bao nợ xấu tăng lên 56,9% nhờ tăng trích lập.

Trường hợp NCB nổi bật về quy mô nợ xấu giảm mạnh còn 9.857 tỷ đồng, tức giảm 29,1% chủ yếu do nợ nhóm 5 giảm 30%, nợ nhóm 4 giảm sâu 50%. Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay khách hàng giảm từ 19,5% xuống 11,4%, cùng việc tăng dự phòng 7% lên 1.277,8 tỷ đồng, đưa tỷ lệ bao nợ xấu nhích lên 13%, giúp “tấm đệm” cải thiện song vẫn còn mỏng so với mặt bằng ngành.

Đại diện NCB cho biết, nhờ triển khai đúng lộ trình phương án cơ cấu lại được phê duyệt, xử lý dứt điểm các tồn đọng và khắc phục toàn diện các điểm yếu, hiệu quả hoạt động được cải thiện rõ rệt, qua đó, kéo tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay khách hàng giảm mạnh so với cuối năm 2024.

Kỳ vọng nợ xấu sớm hạ nhiệt

Thực tế cho thấy, nợ xấu bắt đầu gia tăng từ quý I/2025, sau khi Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ hết hiệu lực vào cuối năm 2024. Việc chấm dứt cơ chế cơ cấu và giãn nợ buộc nhiều khoản vay phải ghi nhận đầy đủ rủi ro, qua đó, đẩy tỷ lệ nợ xấu tăng lên.

Xử lý nợ xấu nhanh hơn, nhưng khó giảm ngay vì "nút thắt" bất động sản

"Khi nghị quyết về xử lý nợ xấu có hiệu lực, nợ xấu được kỳ vọng sẽ giảm nhờ quy trình xử lý nhanh và hiệu quả hơn so với trước đây. Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề đặt ra, đó là đa phần các tài sản bảo đảm là bất động sản. Để bán được bất động sản trong thời điểm hiện tại với giá trị cao, trong khi tính thanh khoản không cao, việc thu hồi nợ không hề đơn giản. Do đó, nợ xấu có thể giảm, nhưng khó giảm ngay tức khắc mà cần thêm thời gian xử lý" -PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP.HCM đánh giá.

Khảo sát mới nhất của Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định Tiền tệ, Tài chính Ngân hàng nhà nước cũng cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2025 và cả năm 2025, rủi ro tín dụng ở nhiều lĩnh vực được đánh giá “cải thiện”, nhưng đầu tư kinh doanh bất động sản và đầu tư kinh doanh chứng khoán là hai lĩnh vực có rủi ro tăng mạnh nhất. Dù vậy, bước sang năm 2026, các tổ chức tín dụng kỳ vọng mặt bằng rủi ro sẽ “cải thiện” so với năm 2025.

Theo đánh giá của ông Bùi Văn Huy - Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư Công ty FIDT, việc luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 (Nghị quyết 42) thông qua Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8/2025 được kỳ vọng sẽ kiềm chế đà tăng và giúp giảm nợ xấu trong hệ thống.

Luật hóa Nghị quyết 42 đồng nghĩa khôi phục các cơ chế xử lý nợ xấu hiệu quả như: quyền thu giữ tài sản bảo đảm, kê biên và bán đấu giá tài sản nhanh theo giá thị trường...

"Việc luật hóa các quy định từ Nghị quyết 42 sẽ giúp tỷ lệ nợ xấu toàn ngành giảm rõ rệt ngay trong năm đầu thực thi, có thể kéo xuống dưới mức 3% so với mức 4,3% vào tháng 1/2025. Sở dĩ có kỳ vọng này vì trong giai đoạn thí điểm 2017 - 2021 áp dụng Nghị quyết 42, các ngân hàng đã xử lý lượng lớn nợ xấu thành công, cải thiện hẳn chất lượng tài sản" - ông Huy lý giải.

Quan trọng hơn, khung pháp lý mới sẽ rút ngắn thời gian và giảm chi phí xử lý nợ xấu. Các quy định minh bạch về thu giữ, xử lý tài sản đảm bảo giúp ngân hàng thu hồi nợ nhanh hơn và giảm chi phí tòa án, từ đó, giảm chi phí trích lập dự phòng cho nợ xấu. Thực tế, khi chi phí rủi ro tín dụng giảm, ngân hàng có dư địa hạ lãi suất cho vay và thúc đẩy tín dụng lành mạnh hơn.

"Do đó, nhiều khả năng nợ xấu sẽ bớt tăng trong 6 tháng cuối năm 2025 và bắt đầu xu hướng giảm dần nhờ các khoản nợ tồn đọng được xử lý từng bước" - đại diện Công ty FIDT kỳ vọng./.

“Bộ đệm” an toàn thu hẹp, áp lực xử lý nợ gia tăng

Trong bối cảnh áp lực nợ xấu leo thang, các ngân hàng chỉ nâng trích lập dự phòng rủi ro cho vay khách hàng lên 213,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với cùng kỳ, dù có tới 21/27 nhà băng tăng trích lập về con số tuyệt đối so với cuối năm 2024. Tỷ lệ bao nợ xấu theo đó giảm mạnh từ 89,9% xuống còn 79,8% (mất 10,1 điểm phần trăm), với 19/27 ngân hàng suy giảm tỷ lệ này, cho thấy “bộ đệm” dự phòng đang bị bào mòn. Việc dự phòng gia tăng chậm hơn nhiều so với đà phình to của nợ xấu khiến rủi ro xử lý nợ trong nửa cuối năm trở nên khó khăn hơn, đặc biệt nếu chất lượng tín dụng tiếp tục xấu đi.

Hiện chỉ còn một số ngân hàng duy trì tỷ lệ bao nợ xấu trên 100% gồm: Vietcombank, VietinBank, Techcombank và BacABank, còn BIDV đã rời nhóm này khi tỷ lệ bao nợ xấu giảm từ 131% đầu năm xuống 89,1% vào cuối quý II/2025.

Có thể thấy, tăng trưởng tín dụng mạnh đang song hành với áp lực chất lượng tài sản, đặc biệt là nợ nhóm 3 - 4 tiếp tục phình to, báo hiệu nguy cơ dịch chuyển sang nhóm 5 nếu kinh tế và khả năng trả nợ của khách hàng không cải thiện. Trong khi đó, tỷ lệ bao nợ xấu suy giảm cho thấy mức sẵn sàng ứng phó của các ngân hàng với rủi ro tín dụng đang yếu đi, buộc phải cân nhắc tăng trích lập trở lại hoặc đẩy mạnh xử lý, bán nợ để duy trì an toàn hệ thống./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17627 17899 18480
CAD 17975 18250 18865
CHF 31828 32209 32852
CNY 0 3829 3922
EUR 29312 29533 30608
GBP 33912 34301 35232
HKD 0 3228 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14545 15132
SGD 19765 20046 20621
THB 704 767 820
USD (1,2) 26067 0 0
USD (5,10,20) 26108 0 0
USD (50,100) 26136 26151 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80