Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, đến cuối quý II/2025, đà mở rộng tín dụng rất tích cực với dư nợ cho vay khách hàng đạt 13,09 triệu tỷ đồng, tăng 10,4% so với cuối năm 2024. Tuy nhiên, áp lực nợ xấu cũng gia tăng khi tổng nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) lên tới 267,53 nghìn tỷ đồng, tăng 16,3% và cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng dư nợ, khiến tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay khách hàng nhích nhẹ.
aa
Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu "ẩn" tại nhiều ngân hàng Nợ xấu ngân hàng gia tăng, tỷ lệ bao phủ xuống mức đáy 5 năm Áp lực xử lý nợ xấu 1 triệu tỷ đồng, "liều thuốc” luật hoá Nghị quyết 42 liệu có đủ liều?

Nợ xấu leo thang diện rộng, 4 ngân hàng đi ngược xu hướng

Xét theo cơ cấu, nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) ghi nhận mức tăng mạnh nhất 26,9%; tiếp đến là nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng 22%; trong khi nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) tăng 10,5% và vẫn chiếm tới gần 55% tổng nợ xấu.

Trong số 27 ngân hàng được khảo sát, có tới 8/23 ngân hàng ghi nhận mức tăng nợ xấu đột biến trên 20%, trong đó 2 nhà băng có mức tăng vượt 50%. Ở chiều ngược lại, chỉ có 4 ngân hàng giảm quy mô nợ xấu trong quý II/2025 là ACB, VietABank, ABBank và NCB.

Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Theo đó, ACB có tổng nợ xấu thu hẹp xuống 7.965 tỷ đồng, tương ứng giảm 7,9%, chủ yếu nhờ giảm mạnh nợ nhóm 5 (giảm 854 tỷ, tức giảm 12,6%), trong khi nhóm 3 và 4 vẫn tăng nhẹ. Cùng với đó, ngân hàng giảm trích lập dự phòng khoảng 660 tỷ đồng, khiến tỷ lệ bao nợ xấu lùi còn 76,3%. Đại diện ACB cho biết, tỷ lệ nợ xấu giảm từ 1,49% cuối năm 2024 xuống còn 1,18% trước đối soát và 1,26% sau đối soát với CIC (Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia), tiếp tục thuộc nhóm thấp nhất ngành và cho thấy khả năng kiểm soát rủi ro hiệu quả.

Với VietABank, tín hiệu khả quan là nợ xấu một cách đồng thời ở cả ba nhóm, với nhóm 3 giảm 9 tỷ đồng, nhóm 4 hạ 68 tỷ đồng, nhóm 5 bớt 43 tỷ đồng, kéo tổng nợ xấu xuống 971,5 tỷ đồng, giảm 11% so với cuối năm 2024. Cùng lúc, tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay khách hàng giảm từ 1,4% xuống 1,1% vì nợ xấu co lại nhanh hơn mức tăng của dư nợ. Song song, ngân hàng bổ sung trích lập dự phòng thêm 99 tỷ đồng, đưa tỷ lệ bao nợ xấu tăng mạnh lên 88,3%, cải thiện rõ rệt và thuộc nhóm tăng mạnh nhất toàn ngành.

ABBank cũng ghi nhận cải thiện do nợ nhóm 3 và 4 lần lượt giảm 319 tỷ đồng; 217 tỷ đồng nhóm 5 gần như đi ngang, đưa tổng nợ xấu giảm 14,8% còn 3.146 tỷ đồng. Mức đệm rủi ro tốt hơn rõ rệt khi tỷ lệ bao nợ xấu tăng lên 56,9% nhờ tăng trích lập.

Trường hợp NCB nổi bật về quy mô nợ xấu giảm mạnh còn 9.857 tỷ đồng, tức giảm 29,1% chủ yếu do nợ nhóm 5 giảm 30%, nợ nhóm 4 giảm sâu 50%. Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay khách hàng giảm từ 19,5% xuống 11,4%, cùng việc tăng dự phòng 7% lên 1.277,8 tỷ đồng, đưa tỷ lệ bao nợ xấu nhích lên 13%, giúp “tấm đệm” cải thiện song vẫn còn mỏng so với mặt bằng ngành.

Đại diện NCB cho biết, nhờ triển khai đúng lộ trình phương án cơ cấu lại được phê duyệt, xử lý dứt điểm các tồn đọng và khắc phục toàn diện các điểm yếu, hiệu quả hoạt động được cải thiện rõ rệt, qua đó, kéo tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay khách hàng giảm mạnh so với cuối năm 2024.

Kỳ vọng nợ xấu sớm hạ nhiệt

Thực tế cho thấy, nợ xấu bắt đầu gia tăng từ quý I/2025, sau khi Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ hết hiệu lực vào cuối năm 2024. Việc chấm dứt cơ chế cơ cấu và giãn nợ buộc nhiều khoản vay phải ghi nhận đầy đủ rủi ro, qua đó, đẩy tỷ lệ nợ xấu tăng lên.

Xử lý nợ xấu nhanh hơn, nhưng khó giảm ngay vì "nút thắt" bất động sản

"Khi nghị quyết về xử lý nợ xấu có hiệu lực, nợ xấu được kỳ vọng sẽ giảm nhờ quy trình xử lý nhanh và hiệu quả hơn so với trước đây. Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề đặt ra, đó là đa phần các tài sản bảo đảm là bất động sản. Để bán được bất động sản trong thời điểm hiện tại với giá trị cao, trong khi tính thanh khoản không cao, việc thu hồi nợ không hề đơn giản. Do đó, nợ xấu có thể giảm, nhưng khó giảm ngay tức khắc mà cần thêm thời gian xử lý" -PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP.HCM đánh giá.

Khảo sát mới nhất của Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định Tiền tệ, Tài chính Ngân hàng nhà nước cũng cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2025 và cả năm 2025, rủi ro tín dụng ở nhiều lĩnh vực được đánh giá “cải thiện”, nhưng đầu tư kinh doanh bất động sản và đầu tư kinh doanh chứng khoán là hai lĩnh vực có rủi ro tăng mạnh nhất. Dù vậy, bước sang năm 2026, các tổ chức tín dụng kỳ vọng mặt bằng rủi ro sẽ “cải thiện” so với năm 2025.

Theo đánh giá của ông Bùi Văn Huy - Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư Công ty FIDT, việc luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 (Nghị quyết 42) thông qua Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8/2025 được kỳ vọng sẽ kiềm chế đà tăng và giúp giảm nợ xấu trong hệ thống.

Luật hóa Nghị quyết 42 đồng nghĩa khôi phục các cơ chế xử lý nợ xấu hiệu quả như: quyền thu giữ tài sản bảo đảm, kê biên và bán đấu giá tài sản nhanh theo giá thị trường...

"Việc luật hóa các quy định từ Nghị quyết 42 sẽ giúp tỷ lệ nợ xấu toàn ngành giảm rõ rệt ngay trong năm đầu thực thi, có thể kéo xuống dưới mức 3% so với mức 4,3% vào tháng 1/2025. Sở dĩ có kỳ vọng này vì trong giai đoạn thí điểm 2017 - 2021 áp dụng Nghị quyết 42, các ngân hàng đã xử lý lượng lớn nợ xấu thành công, cải thiện hẳn chất lượng tài sản" - ông Huy lý giải.

Quan trọng hơn, khung pháp lý mới sẽ rút ngắn thời gian và giảm chi phí xử lý nợ xấu. Các quy định minh bạch về thu giữ, xử lý tài sản đảm bảo giúp ngân hàng thu hồi nợ nhanh hơn và giảm chi phí tòa án, từ đó, giảm chi phí trích lập dự phòng cho nợ xấu. Thực tế, khi chi phí rủi ro tín dụng giảm, ngân hàng có dư địa hạ lãi suất cho vay và thúc đẩy tín dụng lành mạnh hơn.

"Do đó, nhiều khả năng nợ xấu sẽ bớt tăng trong 6 tháng cuối năm 2025 và bắt đầu xu hướng giảm dần nhờ các khoản nợ tồn đọng được xử lý từng bước" - đại diện Công ty FIDT kỳ vọng./.

“Bộ đệm” an toàn thu hẹp, áp lực xử lý nợ gia tăng

Trong bối cảnh áp lực nợ xấu leo thang, các ngân hàng chỉ nâng trích lập dự phòng rủi ro cho vay khách hàng lên 213,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với cùng kỳ, dù có tới 21/27 nhà băng tăng trích lập về con số tuyệt đối so với cuối năm 2024. Tỷ lệ bao nợ xấu theo đó giảm mạnh từ 89,9% xuống còn 79,8% (mất 10,1 điểm phần trăm), với 19/27 ngân hàng suy giảm tỷ lệ này, cho thấy “bộ đệm” dự phòng đang bị bào mòn. Việc dự phòng gia tăng chậm hơn nhiều so với đà phình to của nợ xấu khiến rủi ro xử lý nợ trong nửa cuối năm trở nên khó khăn hơn, đặc biệt nếu chất lượng tín dụng tiếp tục xấu đi.

Hiện chỉ còn một số ngân hàng duy trì tỷ lệ bao nợ xấu trên 100% gồm: Vietcombank, VietinBank, Techcombank và BacABank, còn BIDV đã rời nhóm này khi tỷ lệ bao nợ xấu giảm từ 131% đầu năm xuống 89,1% vào cuối quý II/2025.

Có thể thấy, tăng trưởng tín dụng mạnh đang song hành với áp lực chất lượng tài sản, đặc biệt là nợ nhóm 3 - 4 tiếp tục phình to, báo hiệu nguy cơ dịch chuyển sang nhóm 5 nếu kinh tế và khả năng trả nợ của khách hàng không cải thiện. Trong khi đó, tỷ lệ bao nợ xấu suy giảm cho thấy mức sẵn sàng ứng phó của các ngân hàng với rủi ro tín dụng đang yếu đi, buộc phải cân nhắc tăng trích lập trở lại hoặc đẩy mạnh xử lý, bán nợ để duy trì an toàn hệ thống./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với loạt chỉ tiêu tăng trưởng hai chữ số. Theo đó, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 6.960 tỷ đồng, tăng 39% và hướng tới mức cao nhất lịch sử. Dư nợ tín dụng thị trường 1 dự kiến đạt 235.875 tỷ đồng, tăng 15%; đồng thời kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, đảm bảo tăng trưởng đi kèm an toàn.
ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa bổ sung tờ trình sửa đổi đề án thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Đại hội đồng cổ đông tới đây. Theo đó, ACB Insurance có vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng. Doanh nghiệp đặt mục tiêu sau 5 năm sẽ chiếm trên 1,5% thị phần nhờ tăng trưởng phí trên 50%/năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Hà Nội - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Miền Tây - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
Miếng SJC Nghệ An 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
Miếng SJC Thái Bình 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
NL 99.90 15,720 ▲250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,750 ▲250K
Trang sức 99.9 16,490 ▲280K 17,190 ▲280K
Trang sức 99.99 16,500 ▲280K 17,200 ▲280K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,717 ▲45K 17,472 ▲450K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,717 ▲45K 17,473 ▲450K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Cập nhật: 25/03/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17898 18172 18754
CAD 18620 18897 19521
CHF 32806 33191 33850
CNY 0 3470 3830
EUR 29988 30261 31297
GBP 34577 34969 35915
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15081 15672
SGD 20090 20373 20906
THB 727 790 844
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26359
AUD 18091 18191 19119
CAD 18809 18909 19927
CHF 33067 33097 34689
CNY 3764.6 3789.6 3925.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30184 30214 31937
GBP 34903 34953 36705
HKD 0 3355 0
JPY 162.64 163.14 173.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20256 20386 21121
THB 0 756.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17600000
SBJ 15000000 15000000 17600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80