Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, đến cuối quý II/2025, đà mở rộng tín dụng rất tích cực với dư nợ cho vay khách hàng đạt 13,09 triệu tỷ đồng, tăng 10,4% so với cuối năm 2024. Tuy nhiên, áp lực nợ xấu cũng gia tăng khi tổng nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) lên tới 267,53 nghìn tỷ đồng, tăng 16,3% và cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng dư nợ, khiến tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay khách hàng nhích nhẹ.
aa
Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu "ẩn" tại nhiều ngân hàng Nợ xấu ngân hàng gia tăng, tỷ lệ bao phủ xuống mức đáy 5 năm Áp lực xử lý nợ xấu 1 triệu tỷ đồng, "liều thuốc” luật hoá Nghị quyết 42 liệu có đủ liều?

Nợ xấu leo thang diện rộng, 4 ngân hàng đi ngược xu hướng

Xét theo cơ cấu, nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) ghi nhận mức tăng mạnh nhất 26,9%; tiếp đến là nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng 22%; trong khi nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) tăng 10,5% và vẫn chiếm tới gần 55% tổng nợ xấu.

Trong số 27 ngân hàng được khảo sát, có tới 8/23 ngân hàng ghi nhận mức tăng nợ xấu đột biến trên 20%, trong đó 2 nhà băng có mức tăng vượt 50%. Ở chiều ngược lại, chỉ có 4 ngân hàng giảm quy mô nợ xấu trong quý II/2025 là ACB, VietABank, ABBank và NCB.

Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Theo đó, ACB có tổng nợ xấu thu hẹp xuống 7.965 tỷ đồng, tương ứng giảm 7,9%, chủ yếu nhờ giảm mạnh nợ nhóm 5 (giảm 854 tỷ, tức giảm 12,6%), trong khi nhóm 3 và 4 vẫn tăng nhẹ. Cùng với đó, ngân hàng giảm trích lập dự phòng khoảng 660 tỷ đồng, khiến tỷ lệ bao nợ xấu lùi còn 76,3%. Đại diện ACB cho biết, tỷ lệ nợ xấu giảm từ 1,49% cuối năm 2024 xuống còn 1,18% trước đối soát và 1,26% sau đối soát với CIC (Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia), tiếp tục thuộc nhóm thấp nhất ngành và cho thấy khả năng kiểm soát rủi ro hiệu quả.

Với VietABank, tín hiệu khả quan là nợ xấu một cách đồng thời ở cả ba nhóm, với nhóm 3 giảm 9 tỷ đồng, nhóm 4 hạ 68 tỷ đồng, nhóm 5 bớt 43 tỷ đồng, kéo tổng nợ xấu xuống 971,5 tỷ đồng, giảm 11% so với cuối năm 2024. Cùng lúc, tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay khách hàng giảm từ 1,4% xuống 1,1% vì nợ xấu co lại nhanh hơn mức tăng của dư nợ. Song song, ngân hàng bổ sung trích lập dự phòng thêm 99 tỷ đồng, đưa tỷ lệ bao nợ xấu tăng mạnh lên 88,3%, cải thiện rõ rệt và thuộc nhóm tăng mạnh nhất toàn ngành.

ABBank cũng ghi nhận cải thiện do nợ nhóm 3 và 4 lần lượt giảm 319 tỷ đồng; 217 tỷ đồng nhóm 5 gần như đi ngang, đưa tổng nợ xấu giảm 14,8% còn 3.146 tỷ đồng. Mức đệm rủi ro tốt hơn rõ rệt khi tỷ lệ bao nợ xấu tăng lên 56,9% nhờ tăng trích lập.

Trường hợp NCB nổi bật về quy mô nợ xấu giảm mạnh còn 9.857 tỷ đồng, tức giảm 29,1% chủ yếu do nợ nhóm 5 giảm 30%, nợ nhóm 4 giảm sâu 50%. Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay khách hàng giảm từ 19,5% xuống 11,4%, cùng việc tăng dự phòng 7% lên 1.277,8 tỷ đồng, đưa tỷ lệ bao nợ xấu nhích lên 13%, giúp “tấm đệm” cải thiện song vẫn còn mỏng so với mặt bằng ngành.

Đại diện NCB cho biết, nhờ triển khai đúng lộ trình phương án cơ cấu lại được phê duyệt, xử lý dứt điểm các tồn đọng và khắc phục toàn diện các điểm yếu, hiệu quả hoạt động được cải thiện rõ rệt, qua đó, kéo tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay khách hàng giảm mạnh so với cuối năm 2024.

Kỳ vọng nợ xấu sớm hạ nhiệt

Thực tế cho thấy, nợ xấu bắt đầu gia tăng từ quý I/2025, sau khi Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ hết hiệu lực vào cuối năm 2024. Việc chấm dứt cơ chế cơ cấu và giãn nợ buộc nhiều khoản vay phải ghi nhận đầy đủ rủi ro, qua đó, đẩy tỷ lệ nợ xấu tăng lên.

Xử lý nợ xấu nhanh hơn, nhưng khó giảm ngay vì "nút thắt" bất động sản

"Khi nghị quyết về xử lý nợ xấu có hiệu lực, nợ xấu được kỳ vọng sẽ giảm nhờ quy trình xử lý nhanh và hiệu quả hơn so với trước đây. Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề đặt ra, đó là đa phần các tài sản bảo đảm là bất động sản. Để bán được bất động sản trong thời điểm hiện tại với giá trị cao, trong khi tính thanh khoản không cao, việc thu hồi nợ không hề đơn giản. Do đó, nợ xấu có thể giảm, nhưng khó giảm ngay tức khắc mà cần thêm thời gian xử lý" -PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP.HCM đánh giá.

Khảo sát mới nhất của Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định Tiền tệ, Tài chính Ngân hàng nhà nước cũng cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2025 và cả năm 2025, rủi ro tín dụng ở nhiều lĩnh vực được đánh giá “cải thiện”, nhưng đầu tư kinh doanh bất động sản và đầu tư kinh doanh chứng khoán là hai lĩnh vực có rủi ro tăng mạnh nhất. Dù vậy, bước sang năm 2026, các tổ chức tín dụng kỳ vọng mặt bằng rủi ro sẽ “cải thiện” so với năm 2025.

Theo đánh giá của ông Bùi Văn Huy - Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư Công ty FIDT, việc luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 (Nghị quyết 42) thông qua Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8/2025 được kỳ vọng sẽ kiềm chế đà tăng và giúp giảm nợ xấu trong hệ thống.

Luật hóa Nghị quyết 42 đồng nghĩa khôi phục các cơ chế xử lý nợ xấu hiệu quả như: quyền thu giữ tài sản bảo đảm, kê biên và bán đấu giá tài sản nhanh theo giá thị trường...

"Việc luật hóa các quy định từ Nghị quyết 42 sẽ giúp tỷ lệ nợ xấu toàn ngành giảm rõ rệt ngay trong năm đầu thực thi, có thể kéo xuống dưới mức 3% so với mức 4,3% vào tháng 1/2025. Sở dĩ có kỳ vọng này vì trong giai đoạn thí điểm 2017 - 2021 áp dụng Nghị quyết 42, các ngân hàng đã xử lý lượng lớn nợ xấu thành công, cải thiện hẳn chất lượng tài sản" - ông Huy lý giải.

Quan trọng hơn, khung pháp lý mới sẽ rút ngắn thời gian và giảm chi phí xử lý nợ xấu. Các quy định minh bạch về thu giữ, xử lý tài sản đảm bảo giúp ngân hàng thu hồi nợ nhanh hơn và giảm chi phí tòa án, từ đó, giảm chi phí trích lập dự phòng cho nợ xấu. Thực tế, khi chi phí rủi ro tín dụng giảm, ngân hàng có dư địa hạ lãi suất cho vay và thúc đẩy tín dụng lành mạnh hơn.

"Do đó, nhiều khả năng nợ xấu sẽ bớt tăng trong 6 tháng cuối năm 2025 và bắt đầu xu hướng giảm dần nhờ các khoản nợ tồn đọng được xử lý từng bước" - đại diện Công ty FIDT kỳ vọng./.

“Bộ đệm” an toàn thu hẹp, áp lực xử lý nợ gia tăng

Trong bối cảnh áp lực nợ xấu leo thang, các ngân hàng chỉ nâng trích lập dự phòng rủi ro cho vay khách hàng lên 213,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với cùng kỳ, dù có tới 21/27 nhà băng tăng trích lập về con số tuyệt đối so với cuối năm 2024. Tỷ lệ bao nợ xấu theo đó giảm mạnh từ 89,9% xuống còn 79,8% (mất 10,1 điểm phần trăm), với 19/27 ngân hàng suy giảm tỷ lệ này, cho thấy “bộ đệm” dự phòng đang bị bào mòn. Việc dự phòng gia tăng chậm hơn nhiều so với đà phình to của nợ xấu khiến rủi ro xử lý nợ trong nửa cuối năm trở nên khó khăn hơn, đặc biệt nếu chất lượng tín dụng tiếp tục xấu đi.

Hiện chỉ còn một số ngân hàng duy trì tỷ lệ bao nợ xấu trên 100% gồm: Vietcombank, VietinBank, Techcombank và BacABank, còn BIDV đã rời nhóm này khi tỷ lệ bao nợ xấu giảm từ 131% đầu năm xuống 89,1% vào cuối quý II/2025.

Có thể thấy, tăng trưởng tín dụng mạnh đang song hành với áp lực chất lượng tài sản, đặc biệt là nợ nhóm 3 - 4 tiếp tục phình to, báo hiệu nguy cơ dịch chuyển sang nhóm 5 nếu kinh tế và khả năng trả nợ của khách hàng không cải thiện. Trong khi đó, tỷ lệ bao nợ xấu suy giảm cho thấy mức sẵn sàng ứng phó của các ngân hàng với rủi ro tín dụng đang yếu đi, buộc phải cân nhắc tăng trích lập trở lại hoặc đẩy mạnh xử lý, bán nợ để duy trì an toàn hệ thống./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,150 14,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,150 14,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,150 14,500
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,810 14,410
Trang sức 99.99 13,820 14,420
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17825 18099 18683
CAD 18138 18414 19034
CHF 31361 31740 32392
CNY 0 3830 3940
EUR 29384 29605 30685
GBP 34320 34711 35655
HKD 0 3190 3392
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14875 15469
SGD 19803 20084 20652
THB 702 765 818
USD (1,2) 25791 0 0
USD (5,10,20) 25831 0 0
USD (50,100) 25859 25893 26260
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25840 25840 26210
AUD 18005 18105 19031
CAD 18307 18407 19419
CHF 31576 31606 33187
CNY 3798.9 3823.9 3959.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29536 29566 31291
GBP 34597 34647 36416
HKD 0 3355 0
JPY 159.73 160.23 170.75
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15025 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19944 20074 20796
THB 0 731.3 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14160000 14160000 14460000
SBJ 12500000 12500000 14460000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,863 25,913 26,250
USD20 25,813 25,913 26,794
USD1 25,763 25,913 26,844
AUD 18,051 18,151 19,255
EUR 29,343 29,443 31,101
CAD 18,260 18,360 19,664
SGD 20,032 20,182 20,736
JPY 160.33 161.83 167.38
GBP 34,519 34,669 35,850
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80