Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn

(TBTCO) - Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, đến cuối quý II/2025, đà mở rộng tín dụng rất tích cực với dư nợ cho vay khách hàng đạt 13,09 triệu tỷ đồng, tăng 10,4% so với cuối năm 2024. Tuy nhiên, áp lực nợ xấu cũng gia tăng khi tổng nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) lên tới 267,53 nghìn tỷ đồng, tăng 16,3% và cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng dư nợ, khiến tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay khách hàng nhích nhẹ.
aa
Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu "ẩn" tại nhiều ngân hàng Nợ xấu ngân hàng gia tăng, tỷ lệ bao phủ xuống mức đáy 5 năm Áp lực xử lý nợ xấu 1 triệu tỷ đồng, "liều thuốc” luật hoá Nghị quyết 42 liệu có đủ liều?

Nợ xấu leo thang diện rộng, 4 ngân hàng đi ngược xu hướng

Xét theo cơ cấu, nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) ghi nhận mức tăng mạnh nhất 26,9%; tiếp đến là nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng 22%; trong khi nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) tăng 10,5% và vẫn chiếm tới gần 55% tổng nợ xấu.

Trong số 27 ngân hàng được khảo sát, có tới 8/23 ngân hàng ghi nhận mức tăng nợ xấu đột biến trên 20%, trong đó 2 nhà băng có mức tăng vượt 50%. Ở chiều ngược lại, chỉ có 4 ngân hàng giảm quy mô nợ xấu trong quý II/2025 là ACB, VietABank, ABBank và NCB.

Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Theo đó, ACB có tổng nợ xấu thu hẹp xuống 7.965 tỷ đồng, tương ứng giảm 7,9%, chủ yếu nhờ giảm mạnh nợ nhóm 5 (giảm 854 tỷ, tức giảm 12,6%), trong khi nhóm 3 và 4 vẫn tăng nhẹ. Cùng với đó, ngân hàng giảm trích lập dự phòng khoảng 660 tỷ đồng, khiến tỷ lệ bao nợ xấu lùi còn 76,3%. Đại diện ACB cho biết, tỷ lệ nợ xấu giảm từ 1,49% cuối năm 2024 xuống còn 1,18% trước đối soát và 1,26% sau đối soát với CIC (Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia), tiếp tục thuộc nhóm thấp nhất ngành và cho thấy khả năng kiểm soát rủi ro hiệu quả.

Với VietABank, tín hiệu khả quan là nợ xấu một cách đồng thời ở cả ba nhóm, với nhóm 3 giảm 9 tỷ đồng, nhóm 4 hạ 68 tỷ đồng, nhóm 5 bớt 43 tỷ đồng, kéo tổng nợ xấu xuống 971,5 tỷ đồng, giảm 11% so với cuối năm 2024. Cùng lúc, tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay khách hàng giảm từ 1,4% xuống 1,1% vì nợ xấu co lại nhanh hơn mức tăng của dư nợ. Song song, ngân hàng bổ sung trích lập dự phòng thêm 99 tỷ đồng, đưa tỷ lệ bao nợ xấu tăng mạnh lên 88,3%, cải thiện rõ rệt và thuộc nhóm tăng mạnh nhất toàn ngành.

ABBank cũng ghi nhận cải thiện do nợ nhóm 3 và 4 lần lượt giảm 319 tỷ đồng; 217 tỷ đồng nhóm 5 gần như đi ngang, đưa tổng nợ xấu giảm 14,8% còn 3.146 tỷ đồng. Mức đệm rủi ro tốt hơn rõ rệt khi tỷ lệ bao nợ xấu tăng lên 56,9% nhờ tăng trích lập.

Trường hợp NCB nổi bật về quy mô nợ xấu giảm mạnh còn 9.857 tỷ đồng, tức giảm 29,1% chủ yếu do nợ nhóm 5 giảm 30%, nợ nhóm 4 giảm sâu 50%. Tỷ lệ nợ xấu/dư nợ cho vay khách hàng giảm từ 19,5% xuống 11,4%, cùng việc tăng dự phòng 7% lên 1.277,8 tỷ đồng, đưa tỷ lệ bao nợ xấu nhích lên 13%, giúp “tấm đệm” cải thiện song vẫn còn mỏng so với mặt bằng ngành.

Đại diện NCB cho biết, nhờ triển khai đúng lộ trình phương án cơ cấu lại được phê duyệt, xử lý dứt điểm các tồn đọng và khắc phục toàn diện các điểm yếu, hiệu quả hoạt động được cải thiện rõ rệt, qua đó, kéo tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay khách hàng giảm mạnh so với cuối năm 2024.

Kỳ vọng nợ xấu sớm hạ nhiệt

Thực tế cho thấy, nợ xấu bắt đầu gia tăng từ quý I/2025, sau khi Thông tư số 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ hết hiệu lực vào cuối năm 2024. Việc chấm dứt cơ chế cơ cấu và giãn nợ buộc nhiều khoản vay phải ghi nhận đầy đủ rủi ro, qua đó, đẩy tỷ lệ nợ xấu tăng lên.

Xử lý nợ xấu nhanh hơn, nhưng khó giảm ngay vì "nút thắt" bất động sản

"Khi nghị quyết về xử lý nợ xấu có hiệu lực, nợ xấu được kỳ vọng sẽ giảm nhờ quy trình xử lý nhanh và hiệu quả hơn so với trước đây. Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề đặt ra, đó là đa phần các tài sản bảo đảm là bất động sản. Để bán được bất động sản trong thời điểm hiện tại với giá trị cao, trong khi tính thanh khoản không cao, việc thu hồi nợ không hề đơn giản. Do đó, nợ xấu có thể giảm, nhưng khó giảm ngay tức khắc mà cần thêm thời gian xử lý" -PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP.HCM đánh giá.

Khảo sát mới nhất của Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định Tiền tệ, Tài chính Ngân hàng nhà nước cũng cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2025 và cả năm 2025, rủi ro tín dụng ở nhiều lĩnh vực được đánh giá “cải thiện”, nhưng đầu tư kinh doanh bất động sản và đầu tư kinh doanh chứng khoán là hai lĩnh vực có rủi ro tăng mạnh nhất. Dù vậy, bước sang năm 2026, các tổ chức tín dụng kỳ vọng mặt bằng rủi ro sẽ “cải thiện” so với năm 2025.

Theo đánh giá của ông Bùi Văn Huy - Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư Công ty FIDT, việc luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 (Nghị quyết 42) thông qua Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8/2025 được kỳ vọng sẽ kiềm chế đà tăng và giúp giảm nợ xấu trong hệ thống.

Luật hóa Nghị quyết 42 đồng nghĩa khôi phục các cơ chế xử lý nợ xấu hiệu quả như: quyền thu giữ tài sản bảo đảm, kê biên và bán đấu giá tài sản nhanh theo giá thị trường...

"Việc luật hóa các quy định từ Nghị quyết 42 sẽ giúp tỷ lệ nợ xấu toàn ngành giảm rõ rệt ngay trong năm đầu thực thi, có thể kéo xuống dưới mức 3% so với mức 4,3% vào tháng 1/2025. Sở dĩ có kỳ vọng này vì trong giai đoạn thí điểm 2017 - 2021 áp dụng Nghị quyết 42, các ngân hàng đã xử lý lượng lớn nợ xấu thành công, cải thiện hẳn chất lượng tài sản" - ông Huy lý giải.

Quan trọng hơn, khung pháp lý mới sẽ rút ngắn thời gian và giảm chi phí xử lý nợ xấu. Các quy định minh bạch về thu giữ, xử lý tài sản đảm bảo giúp ngân hàng thu hồi nợ nhanh hơn và giảm chi phí tòa án, từ đó, giảm chi phí trích lập dự phòng cho nợ xấu. Thực tế, khi chi phí rủi ro tín dụng giảm, ngân hàng có dư địa hạ lãi suất cho vay và thúc đẩy tín dụng lành mạnh hơn.

"Do đó, nhiều khả năng nợ xấu sẽ bớt tăng trong 6 tháng cuối năm 2025 và bắt đầu xu hướng giảm dần nhờ các khoản nợ tồn đọng được xử lý từng bước" - đại diện Công ty FIDT kỳ vọng./.

“Bộ đệm” an toàn thu hẹp, áp lực xử lý nợ gia tăng

Trong bối cảnh áp lực nợ xấu leo thang, các ngân hàng chỉ nâng trích lập dự phòng rủi ro cho vay khách hàng lên 213,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với cùng kỳ, dù có tới 21/27 nhà băng tăng trích lập về con số tuyệt đối so với cuối năm 2024. Tỷ lệ bao nợ xấu theo đó giảm mạnh từ 89,9% xuống còn 79,8% (mất 10,1 điểm phần trăm), với 19/27 ngân hàng suy giảm tỷ lệ này, cho thấy “bộ đệm” dự phòng đang bị bào mòn. Việc dự phòng gia tăng chậm hơn nhiều so với đà phình to của nợ xấu khiến rủi ro xử lý nợ trong nửa cuối năm trở nên khó khăn hơn, đặc biệt nếu chất lượng tín dụng tiếp tục xấu đi.

Hiện chỉ còn một số ngân hàng duy trì tỷ lệ bao nợ xấu trên 100% gồm: Vietcombank, VietinBank, Techcombank và BacABank, còn BIDV đã rời nhóm này khi tỷ lệ bao nợ xấu giảm từ 131% đầu năm xuống 89,1% vào cuối quý II/2025.

Có thể thấy, tăng trưởng tín dụng mạnh đang song hành với áp lực chất lượng tài sản, đặc biệt là nợ nhóm 3 - 4 tiếp tục phình to, báo hiệu nguy cơ dịch chuyển sang nhóm 5 nếu kinh tế và khả năng trả nợ của khách hàng không cải thiện. Trong khi đó, tỷ lệ bao nợ xấu suy giảm cho thấy mức sẵn sàng ứng phó của các ngân hàng với rủi ro tín dụng đang yếu đi, buộc phải cân nhắc tăng trích lập trở lại hoặc đẩy mạnh xử lý, bán nợ để duy trì an toàn hệ thống./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

(TBTCO) - Thị trường vốn Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, được hỗ trợ bởi triển vọng nâng hạng, sự gia tăng của nhà đầu tư tổ chức và nhu cầu đa dạng hóa sản phẩm đầu tư. Việc nâng hạng không chỉ giúp cải thiện vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận dòng vốn quy mô lớn từ các quỹ đầu tư toàn cầu.
SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) tiếp tục đẩy mạnh hệ sinh thái giải pháp tài chính dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hỗ trợ khách hàng chủ động nguồn vốn, tối ưu dòng tiền, tiết giảm chi phí giao dịch và quản trị rủi ro tỷ giá trong toàn bộ chuỗi thương mại quốc tế.
PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
NL 99.99 13,300 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼100K
Trang sức 99.9 13,560 ▼40K 14,160 ▼40K
Trang sức 99.99 13,570 ▼40K 14,170 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,395 ▲1K 14,252 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,395 ▲1K 14,253 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 139 ▼1250K 142 ▼1277K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 139 ▼1250K 1,421 ▲1279K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,365 ▲1K 141 ▼1268K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,604 ▲99K 139,604 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,111 ▲75K 105,911 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,624 ▼77548K 9,604 ▼86368K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,369 ▲61K 86,169 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,561 ▲58K 82,361 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,153 ▲42K 58,953 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cập nhật: 29/09/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17624 17897 18473
CAD 17771 18045 18662
CHF 30494 30870 31511
CNY 0 3832 3928
EUR 28845 29063 30139
GBP 33579 33967 34899
HKD 0 3180 3382
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14364 14952
SGD 19772 20054 20625
THB 689 752 805
USD (1,2) 25712 0 0
USD (5,10,20) 25751 0 0
USD (50,100) 25779 25793 26159
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,893 28,916 30,289
JPY 160.48 160.77 170.51
GBP 33,755 33,846 35,018
AUD 17,824 17,888 18,564
CAD 17,962 18,020 18,683
CHF 30,754 30,850 31,763
SGD 19,889 19,951 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.63 18.39 20.02
THB 737.62 746.73 799.31
NZD 14,353 14,486 14,919
SEK - 2,554 2,644
DKK - 3,875 4,012
NOK - 2,663 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.98 - 6,716.23
TWD 735.55 - 891.16
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 17780 17880 18810
CAD 17940 18040 19054
CHF 30714 30744 32325
CNY 3814.4 3839.4 3974.6
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28986 29016 30742
GBP 33851 33901 35653
HKD 0 3315 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14452 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19925 20055 20776
THB 0 717.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12000000 12000000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,678 25,798 26,170
USD20 25,648 25,798 26,170
USD1 25,628 25,798 26,170
AUD 17,867 17,967 19,075
EUR 28,865 28,965 30,621
CAD 17,909 18,009 19,313
SGD 20,010 20,160 20,715
JPY 162.14 163.64 170.27
GBP 33,789 33,939 35,286
XAU 13,898,000 0 14,202,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/09/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30