Áp lực xử lý nợ xấu 1 triệu tỷ đồng, "liều thuốc” luật hoá Nghị quyết 42 liệu có đủ liều?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hiện nợ xấu toàn hệ thống vượt 1 triệu tỷ đồng; riêng nhóm ngân hàng niêm yết tăng hơn 15% lên trên 265 nghìn tỷ đồng, cho thấy áp lực xử lý còn rất lớn. Dù Nghị quyết 42 từng giúp xử lý tài sản nhanh hơn, nhưng đây cũng chỉ là “liều thuốc giảm đau” tình thế, đề xuất luật hóa quyền thu giữ tài sản bảo đảm trong xử lý nợ xấu vẫn còn nhiều lấn cấn.
aa
Nỗi lo mới khi dừng cơ cấu nợ, phơi bày nợ xấu "ẩn" tại nhiều ngân hàng NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng Nợ xấu ngân hàng gia tăng, tỷ lệ bao phủ xuống mức đáy 5 năm

Trước đề xuất bổ sung quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng và tổ chức mua bán, xử lý nợ trong trường hợp xử lý nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng, tại một hội thảo gần đây, đại diện doanh nghiệp đặt vấn đề, khi xử lý tài sản đảm bảo, ngân hàng toàn quyền quyết định giá và thời điểm bán, điều này dễ dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp do giá bán có thể không phản ánh đúng giá trị thị trường.

Còn lấn cấn quanh đề xuất luật hóa quyền thu giữ tài sản bảo đảm

Theo đại diện doanh nghiệp này, việc luật hóa các quyền thu giữ tài sản bả

o đảm cho ngân hàng theo Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/06/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) chỉ là giải pháp tình thế, chưa xử lý tận gốc nợ xấu. Nguyên nhân gây ra nợ xấu không phải vì doanh nghiệp chây ỳ không chịu trả nợ, mà vì những điều kiện khách quan ảnh hưởng xấu đến sản xuất, kinh doanh.

Bởi dù Nghị quyết 42 cho phép ngân hàng được thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu, song trong giai đoạn triển khai, nợ xấu vẫn gia tăng. Cùng với đó, nguy cơ rủi ro đạo đức cũng xuất hiện nếu ngân hàng nới lỏng thẩm định vì tin rằng luôn có thể thu hồi nợ bằng tài sản.

Ở góc nhìn khác, trao đổi với phóng viên, ông Trần Đức Hoàn - Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư & Sản xuất Thái Hưng cho rằng, thực chất, quy định này chủ yếu nhằm rút ngắn thủ tục xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán, giúp ngân hàng giảm thiểu thời gian, chi phí và tránh những tranh chấp pháp lý kéo dài. Tuy nhiên, những tình huống này chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng thể hoạt động cho vay.

"Cơ bản doanh nghiệp hoạt động ổn định, có năng lực tài chính và đảm bảo an toàn vốn, quy định này hầu như không gây ảnh hưởng gì. Cần hiểu rằng, ngân hàng là tổ chức tín dụng chứ không phải tiệm cầm đồ, họ cũng mong muốn khách hàng sau khi vay làm ăn thuận lợi, trả được nợ đầy đủ, chứ không phải tìm cách siết nợ hay phát mại tài sản" - ông Hoàn bày tỏ.

Về vấn đề này, theo ông Đỗ Thiên Anh Tuấn - Giảng viên chính sách công, Trường Chính sách công và quản lý Fulbright, tài sản bảo đảm giúp ngân hàng yên tâm cấp vốn, đồng thời kiểm soát rủi ro. Giá trị thực sự của tài sản bảo đảm chỉ phát huy khi có thể được thu giữ và xử lý nhanh chóng, minh bạch, hợp pháp nếu người vay mất khả năng trả nợ.

Theo chuyên gia Fulbright, phần nợ xấu hay còn gọi là “cục máu đông” kéo dài từ năm này qua tháng khác, gây thiệt hại cho ngân hàng, cho người thế chấp. Tài sản bị phong tỏa, bị kê biên, niêm phong, rõ ràng không làm gì được, không sinh lời được… gây lãng phí.

Nợ xấu tăng vọt, nợ có khả năng mất vốn chiếm quá nửa

Trước đó, giai đoạn 2017 - 2023, Nghị quyết 42 từng mở ra một cơ chế đặc thù, giúp tổ chức tín dụng xử lý tài sản nhanh chóng và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, khi nghị quyết hết hiệu lực vào cuối năm 2023, hệ thống pháp lý lập tức rơi vào trạng thái "hụt" cơ chế xử lý hữu hiệu, nợ xấu dềnh lên.

Chất lượng tài sản suy giảm

"Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tăng 20 điểm cơ bản so với quý trước, lên 2,5% quý I/2025, với tỷ lệ hình thành nợ xấu gia tăng ở hầu hết các ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu đối với một số ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân như: VPBank, MB, OCB, TPBank, VIB, tăng đáng kể từ các khoản cho vay mua nhà cá nhân trong phân khúc đầu cơ hoặc liên quan đến các chủ đầu tư bất động sản gặp khó khăn" - VIS Rating đánh giá.

Báo cáo về ngành ngân hàng do VIS Rating công bố mới đây cho thấy, trong 3 tháng đầu năm 2025, năng lực tín nhiệm suy giảm đối với một số ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng quy mô vừa.

Bởi tỷ lệ nợ xấu gia tăng từ các khoản cho vay mua nhà cá nhân trong phân khúc mang tính đầu cơ và từ các khách hàng doanh nghiệp gặp khó khăn về dòng tiền.

Điều này làm giảm tỷ suất sinh lời trên bình quân tổng tài sản (ROAA) và bộ đệm hấp thụ rủi ro.

nợ xấu mất vốn quý i/2025
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, nợ xấu tại nhóm các ngân hàng niêm yết tiếp tục xu hướng leo thang, với tổng giá trị vượt 265 nghìn tỷ đồng tính đến cuối quý I/2025, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước, tương đương tăng hơn 41,5 nghìn tỷ đồng. Tính riêng trong quý I/2025, chỉ sau một quý, nợ xấu các ngân hàng niêm yết tăng thêm 15,43% so với cuối năm 2024, tương đương khoảng 35,5 nghìn tỷ đồng, với 23/27 ngân hàng ghi nhận mức tăng.

Đặc biệt, nợ xấu nhóm 5 - nhóm có khả năng mất vốn cao nhất tăng mạnh 12,9%, lên gần 150 nghìn tỷ đồng, chiếm 56,3% tổng nợ xấu toàn hệ thống; cũng có tới 23 ngân hàng ghi nhận nợ nhóm 5 tăng so với cuối năm ngoái.

Để sửa đổi hoàn thiện khung pháp lý hậu Nghị quyết 42, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn cho rằng, điều kiện tiên quyết là hợp đồng thế chấp phải có thỏa thuận rõ ràng về quyền xử lý tài sản mà không cần qua tòa án (cơ chế “power of sale”). Thỏa thuận này cần quy định chi tiết trình tự thông báo, định giá, thời gian chờ và quyền còn lại của người vay.

Việc xử lý tài sản phải minh bạch, bằng văn bản, đúng thời hạn, tạo điều kiện cho người vay chủ động trả nợ, chuyển nhượng tài sản hoặc tái đàm phán. Đồng thời, khung pháp lý cũng cần bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba liên quan như người đồng sở hữu, người thuê nhà hợp pháp hay người bảo lãnh, đảm bảo họ được thông báo và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trước khi tài sản bị xử lý. Điều này giúp quá trình xử lý diễn ra toàn diện, nhân văn và công bằng.

nợ xấu mất vốn quý i/2025

Định giá tài sản minh bạch, hoàn trả phần dư

"Một điểm then chốt là việc định giá tài sản phải phản ánh đúng giá trị thị trường, tránh tình trạng tổ chức tín dụng đơn phương bán giá thấp, gây thiệt hại cho người vay. Để đảm bảo khách quan, nên có sự giám sát của bên thứ ba hoặc cơ chế định giá độc lập trong toàn bộ quá trình này. Một nguyên tắc quan trọng không thể bỏ qua là người vay cần được bảo đảm quyền nhận lại phần dư sau khi tài sản bị bán, trừ đi khoản nợ gốc, lãi và các chi phí hợp lý. Đây là quyền tài sản hợp pháp, cần được tổ chức tín dụng thông báo rõ ràng trong mọi trường hợp, kể cả khi không còn giá trị dư, nhằm tránh khiếu nại phát sinh" - ông Đỗ Thiên Anh Tuấn lưu ý.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80