Nợ xấu ngân hàng gia tăng, tỷ lệ bao phủ xuống mức đáy 5 năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tiếp tục dềnh lên trong quý I/2025, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu chạm đáy trong vòng 5 năm trở lại đây. Nhiều ngân hàng gặp khó trong xử lý tài sản đảm bảo và kỳ vọng vào việc luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14.
aa
Nợ xấu ngân hàng gia tăng, tỷ lệ bao phủ xuống mức đáy 5 năm
Nguồn: Tổng hợp Báo Tài chính Đầu tư

Thống kê từ báo cáo tài chính quý I/2025 cho thấy, nợ xấu tại nhóm các ngân hàng niêm yết tiếp tục xu hướng gia tăng, với tổng giá trị vượt 265 nghìn tỷ đồng, tăng 18,5% so với cùng kỳ và hơn 16% so với cuối năm 2024, tương đương mức tăng khoảng 37 nghìn tỷ đồng. Trong đó, có tới 22/27 ngân hàng ghi nhận quy mô nợ xấu tăng so với cùng kỳ năm trước; trong khi đó, có tới 14 nhà băng giảm tỷ lệ bao phủ nợ xấu.

Bức tranh sáng - tối của nợ xấu ngân hàng

Xét về quy mô nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5), các ngân hàng lớn tiếp tục dẫn đầu về quy mô nợ xấu, lần lượt ở mức 39.909 tỷ đồng, 34.611 tỷ đồng và 27.971 tỷ đồng. Tuy nhiên, các “ông lớn” quốc doanh vẫn duy trì được tỷ lệ nợ xấu thấp và tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao so với toàn ngành, phản ánh năng lực kiểm soát rủi ro tốt.

So sánh với cùng kỳ năm 2024, quy mô nợ xấu tăng mạnh tại nhiều ngân hàng, đáng chú ý, một số ngân hàng tư nhân có quy mô vừa và nhỏ cũng chứng kiến mức tăng hai chữ số như: Saigonbank tăng 46%; VIB (tăng 31,6%)... Ở chiều ngược lại, VietABank và NCB ghi nhận mức giảm quy mô nợ xấu lần lượt là 48,7% và 21,2% so với cùng kỳ.

Chờ đợi hành lang pháp lý mới cho xử lý nợ xấu

"Chính phủ dự kiến trong kỳ họp tháng 6 sẽ xem xét lại Nghị quyết 42/2027/QH14 về xử lý nợ xấu. Đây là một khung pháp lý mà chúng tôi cũng kỳ vọng giúp thúc đẩy việc xử lý nợ nhanh chóng. Hiện vẫn còn tồn tại nhiều thủ tục dẫn đến việc xử lý cũng nhiêu khê". Ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB

Bên cạnh đó, thống kê tỷ lệ quy mô nợ xấu (nhóm 3 - 5)/cho vay khách hàng của các ngân hàng cho thấy, những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất trong quý này là VietABank (0,7%), Vietcombank (1%) và Techcombank (1,2%). Đây là những con số rất tích cực, đặc biệt trong bối cảnh nhiều ngân hàng đang chứng kiến nợ xấu gia tăng. Cùng với đó, nhiều ngân hàng còn ghi nhận tỷ lệ nợ xấu giảm, cho thấy nỗ lực xử lý hoặc thu hồi nợ xấu hiệu quả, đặc biệt là VietABank và NCB với mức giảm rất mạnh 14,9% cùng kỳ.

Đáng chú ý, quý I/2025 chứng kiến sự thay đổi trong tỷ lệ bao phủ nợ xấu, chỉ số đo lường dự phòng rủi ro cho vay khách hàng/quy mô nợ xấu (nhóm 3 - 5). Theo đó, Vietcombank là ngân hàng có tỷ lệ này cao nhất toàn hệ thống, đạt 216,1%, tức dự phòng gấp hơn 2 lần quy mô nợ xấu hiện tại, giúp ngân hàng chủ động ứng phó với các rủi ro phát sinh. Tiếp sau là Techcombank (111,6%), VietinBank (136,8%). Riêng VietABank mới gia nhập nhóm có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao, nâng số lượng các ngân hàng giữ được tỷ lệ bao phủ nợ xấu 3 chữ số lên 4 nhà băng, thể hiện sự chủ động trong trích lập dự phòng, ngăn ngừa rủi ro.

Ngược lại, một số ngân hàng đang có tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức thấp, dưới 40% như OCB (30%), Saigonbank (31,6%)... Đáng lưu tâm, so với cùng kỳ năm trước, nhiều ngân hàng tiếp tục ghi nhận tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm dù quy mô nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu vẫn tăng như OCB (giảm 11%), VIB (giảm 11,2%).

Ngân hàng loay hoay xử lý nợ xấu, chờ gỡ vướng pháp lý

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông được tổ chức mới đây, Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải giãi bày, kết quả kinh doanh năm 2024 không đạt kỳ vọng chủ yếu do sự gia tăng nợ xấu từ nhóm khách hàng cá nhân. Mặc dù dư nợ cho vay nhóm này chỉ chiếm dưới 5% tổng dư nợ và đều có tài sản bảo đảm, nhưng quá trình xử lý tài sản đảm bảo thường kéo dài. Trong thời gian chờ xử lý, ngân hàng buộc phải trích lập dự phòng rủi ro, chính khoản trích lập này ảnh hưởng đáng kể đến kết quả kinh doanh.

Cũng theo ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB, thời gian qua, nợ xấu gia tăng do một số yếu tố liên quan đến thị trường động sản, dù vậy, mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 2% khả thi vì có nhiều tín hiệu tốt bắt đầu trở lại trên thị trường và những chính sách của Chính phủ kỳ vọng sẽ kéo theo nhiều thay đổi thời gian tới. Bên cạnh đó, ACB là ngân hàng bán lẻ, không tập trung cho vay vào nhóm doanh nghiệp cụ thể nào, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản. Nhờ đó, rủi ro tín dụng được phân tán.

Ngoài ra, phần lớn khoản vay tại ACB đều có tài sản bảo đảm. Riêng mảng cho vay bất động sản, hiện nay 98% là các khoản vay có tài sản đảm bảo, chỉ 2% là tín chấp, do đó, kỳ vọng nợ xấu năm 2025 sẽ tiếp tục được kiểm soát tốt.

Cùng chung quan điểm, theo Chủ tịch VIB Đặng Khắc Vỹ, việc Nghị quyết 42/2027/QH14 chưa được luật hóa cũng khiến quá trình thu hồi nợ từ khách hàng cá nhân trở nên đặc biệt khó khăn và đang tác động mạnh đến các ngân hàng bán lẻ như VIB. Ngân hàng nhiều lần kiến nghị tháo gỡ điểm nghẽn này và kỳ vọng luật hóa Nghị quyết 42/2027/QH14 tới đây.

Nếu được triển khai, đây sẽ là cột mốc quan trọng với toàn ngành ngân hàng nói chung và với VIB nói riêng, khi các khoản nợ cá nhân có thể được xử lý nhanh chóng, qua đó đóng góp tích cực vào lợi nhuận.

Cũng theo lãnh đạo VIB, ngân hàng tập trung vào cho vay cá nhân với tỷ lệ tài sản bảo đảm lên tới 80% và thực hiện trích lập dự phòng đầy đủ, theo đúng chuẩn mực kế toán và quy định của Ngân hàng Nhà nước. Với tài sản đảm bảo là động sản, VIB trích lập dự phòng 100%; đối với bất động sản, sau hai năm ngân hàng sẽ phải trích lập dự phòng toàn bộ.

Nợ xấu ngân hàng vượt 1 triệu tỷ đồng, chất lượng tài sản tiếp tục suy giảm

Theo số liệu từ Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), đến cuối năm 2024, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng, bao gồm cả nợ tiềm ẩn rủi ro, khoảng 5,46%, tương đương 1,03 triệu tỷ đồng. Trong 2 tháng đầu năm 2025, nợ xấu tiếp tục gia tăng, với tổng quy mô tăng thêm khoảng 34 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, theo ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng thư ký VNBA, có tới 677 nghìn tỷ đồng nợ xấu được các ngân hàng xử lý thông qua trích lập dự phòng rủi ro và đưa ra ngoài bảng cân đối kế toán. Tuy nhiên, phần lớn trong số này vẫn chưa được thu hồi thực tế.

Ông Hùng cho biết, nguyên nhân chính nằm ở các vướng mắc pháp lý, đặc biệt là tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm. Thậm chí, nhiều vụ việc dù có hiệu lực thi hành án nhưng vẫn không thể xử lý do bất cập trong quy trình cưỡng chế và thi hành án dân sự.

Báo cáo cập nhật ngành Ngân hàng do SSI Research mới công bố cũng cho thấy, chất lượng tài sản ngành giảm quý đầu năm khi tỷ lệ nợ xấu (NPL) tăng lên 2,02%, tăng 29 điểm cơ bản so với quý trước, một phần do ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ dù đã xóa 26,6 nghìn tỷ đồng nợ xấu (tăng 34% cùng kỳ). Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống còn 88,7% so với 105% trong quý IV/2024, đánh dấu mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua. Điểm đáng chú ý là các ngân hàng không quá tích cực trong việc trích lập dự phòng nợ xấu dù chất lượng tài sản suy giảm. Dù vậy, nhóm phân tích dự báo các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tài sản dần cải thiện trong môi trường lãi suất được duy trì ở mức thấp cũng như các phương án hỗ trợ và cơ cấu nợ cho khách hàng từ phía các ngân hàng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,070 ▲270K 14,670 ▲270K
Trang sức 99.99 14,080 ▲270K 14,680 ▲270K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 26/09/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17722 17995 18579
CAD 17840 18114 18733
CHF 30682 31058 31704
CNY 0 3827 3923
EUR 28978 29197 30280
GBP 33603 33992 34929
HKD 0 3181 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14407 14995
SGD 19795 20077 20648
THB 695 758 811
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 26/09/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30