Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dù lãi suất huy động duy trì ở mức thấp, dòng tiền vẫn tiếp tục chảy mạnh vào hệ thống ngân hàng. Tính đến cuối quý II/2025, tổng tiền gửi tại 27 ngân hàng niêm yết và Agribank đạt hơn 14,1 triệu tỷ đồng; trong đó, có tới 10 nhà băng tăng trưởng trên 10%, chỉ riêng 1 ngân hàng sụt giảm.
aa
Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng Thu nhập ngoài lãi tăng vọt đưa ngân hàng vượt khó thời NIM co hẹp Top các ngân hàng được "chọn mặt gửi tiền" nhiều nhất quý I

Thống kê đến cuối quý II/2025, tổng tiền gửi tại 27 ngân hàng niêm yết và Agribank đạt hơn 14,1 triệu tỷ đồng, tăng 8% so với cuối năm 2024 và 16,6% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng trưởng tích cực, cho thấy dòng tiền tiếp tục chảy mạnh vào hệ thống ngân hàng trong bối cảnh lãi suất tiết kiệm duy trì ở mức thấp.

5 "ông lớn" ngân hàng nắm 58% tiền huy động

Top 5 ngân hàng có quy mô tiền gửi lớn nhất hệ thống vẫn là: BIDV, Agribank, VietinBank, Vietcombank và MB, nhưng thứ hạng có sự thay đổi đáng chú ý so với cùng kỳ.

Top 5 ngân hàng BIDV, Agribank, VietinBank, Vietcombank và MB chiếm ưu thế tuyệt đối khi nắm giữ 58% tổng huy động toàn hệ thống, tương đương hơn 8,2 triệu tỷ đồng từ khách hàng tổ chức và dân cư, tăng 15,5% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy vai trò trụ cột của khối ngân hàng quốc doanh và nhóm ngân hàng tư nhân hàng đầu với nền tảng công nghệ mạnh.

Theo đó, BIDV tiếp tục soán ngôi Agribank, tiếp tục dẫn đầu toàn hệ thống về quy mô tiền gửi với hơn 2,075 triệu tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ và 6,2% so với cuối năm 2024.

Đại diện BIDV cho biết, động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ phân khúc khách hàng bán lẻ. Song song với tăng trưởng quy mô, BIDV không ngừng đổi mới, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, hướng tới mô hình ngân hàng số hiện đại, phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.

Gần đây, ngân hàng ra mắt Smart Banking phiên bản X với giao diện mới, tích hợp loạt tiện ích như quản lý tài chính cá nhân, đầu tư tự động tích hợp giữa tài khoản thanh toán và tài khoản tiết kiệm có kỳ hạn, cá nhân hóa trải nghiệm người dùng... Với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng triển khai BIDV Direct, nền tảng ngân hàng số thế hệ mới, hỗ trợ xác thực đa phương thức và cung cấp hệ sinh thái tài chính thông minh, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành và năng lực cạnh tranh.

gửi tiền nhiều nhất nửa đầu năm 2025
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Agribank giữ vững vị trí thứ 2 với hơn 2,043 triệu tỷ đồng, tăng 11,2% cùng kỳ, thấp hơn mức tăng của BIDV. VietinBank đứng thứ 3 với quy mô tiền gửi gần 1,72 triệu tỷ đồng, tăng 17,3% và là ngân hàng tăng trưởng mạnh nhất trong nhóm “Big 4”. Vietcombank xếp thứ 4 với 1,59 triệu tỷ đồng, tăng 15,4%.

Dù giữ vững thứ hạng, Vietcombank đang bị VietinBank kéo xa khoảng cách, phản ánh sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong nhóm quốc doanh.

MB duy trì vị trí thứ 5 với 783.292 tỷ đồng, tăng mạnh 26,6%, đây cũng là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tiền gửi cao nhất trong top 5. Hiện MB đang phát triển các giải pháp đầu tư số hóa dựa trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn (CASA), với kỳ vọng tạo ra dòng lợi nhuận mới trong vòng 1 - 3 năm tới. Dù vậy, xét về giá trị tuyệt đối, quy mô tiền gửi của MB vẫn ở khoảng cách xa, chỉ bằng khoảng 50% so với ngân hàng liền kề xếp trước.

27/28 nhà băng duy trì đà tăng

Lý giải xu hướng doanh nghiệp, người dân "chọn mặt gửi tiền" tại các nhà băng lớn bất chấp lãi suất thấp hơn mặt bằng chung, theo ông Lê Hoài Ân - Chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngân hàng, hiện nhiều tổng công ty và tập đoàn nhà nước với nguồn tài chính dồi dào thường có xu hướng gửi tiền vào các ngân hàng quốc doanh. Điều này giúp các ngân hàng này tiếp cận được nguồn vốn giá rẻ, ổn định từ cả khu vực doanh nghiệp nhà nước lẫn người dân và duy trì được chi phí vốn rất thấp.

Với tâm lý đề cao sự an toàn, nhiều người dân, đặc biệt là các khách hàng phổ thông, thường tin tưởng lựa chọn ngân hàng nhà nước do đánh giá đây là nơi có độ tin cậy cao, ít rủi ro đổ vỡ.

"Ngay cả khi có nhiều tiền, có hàng triệu USD hay trăm tỷ, họ không quan tâm đến câu chuyện chênh lệch lãi suất 6% hay 7%, mà có tâm lý bảo toàn số đó cho an toàn và uy tín hơn" - ông Ân nhận định.

Ngoài ra, với mạng lưới rộng khắp và hệ sinh thái khách hàng lớn, các ngân hàng này còn thuận lợi trong việc mở tài khoản thanh toán cho các tập đoàn, doanh nghiệp, từ đó cải thiện tỷ lệ CASA. Điều này giúp ngân hàng linh hoạt hơn trong hoạt động tín dụng, có thể lựa chọn khách hàng chất lượng cao để cho vay.

Về sự hoán đổi thứ bậc, một số ngân hàng có sự cải thiện đáng kể về thứ hạng như ABBank (tăng 2 bậc), nhờ tăng trưởng tiền gửi 43,9% cùng kỳ và 35,6% so với cuối năm 2024, đây là mức tăng cao nhất bảng; NCB cũng tăng 2 bậc với mức tăng 20% so với cuối năm 2024. VPBank, một trong những ngân hàng quy mô lớn, cũng tăng 2 bậc trên bảng xếp hạng nhờ mức tăng trưởng tiền gửi ấn tượng 23,7% so với cuối năm 2024.

Bên cạnh đó, NamABank, SHB đều tăng 1 bậc, cho thấy sự cải thiện tốt về huy động vốn. Ngược lại, có 6 ngân hàng bị sụt giảm thứ hạng trong cuộc đua huy động tiền gửi.

gửi tiền nhiều nhất nửa đầu năm 2025
Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp. Ảnh minh hoạ.

10 nhà băng bật tăng trên 10%

Về tốc độ tăng trưởng tiền gửi, có 10 nhà băng tăng trên 10%; dẫn đầu là ABBank với mức tăng vượt trội 35,6%, NamABank (24,4%), VPBank (23,7%), NCB (19,9%), MSB (12,8%)..., cho thấy nỗ lực mở rộng tệp khách hàng và cải thiện sức hút vốn rõ rệt. Ở chiều ngược lại, có 1 ngân hàng sụt giảm tiền gửi 1% so với cuối năm 2024, trái ngược với xu hướng chung.

Tại MSB, tiền gửi không kỳ hạn ghi nhận trên 46.700 tỷ đồng, đưa tỷ lệ CASA trên tổng tiền gửi đạt 26,78%, cho thấy giá trị và tính hiệu quả trong sản phẩm, dịch vụ mà MSB mang đến, gồm sinh lời với lợi suất cao, các sản phẩm thanh toán và gói tài khoản dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), mặt bằng lãi suất vẫn duy trì ở mức thấp, tiếp tục là nguyên nhân khiến tốc độ tăng trưởng huy động chậm hơn so với tín dụng.

"Những ngân hàng có tỷ lệ LDR cao và mục tiêu tăng trưởng tín dụng vượt bình quân ngành như VPBank, HDBank, VIB, MSB được kỳ vọng sẽ đẩy mạnh huy động vốn mạnh hơn so với phần còn lại" - MBS đánh giá.

Lãi suất huy động có xu hướng giảm sau chỉ đạo của Thủ tướng từ giữa tháng 4 và nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm đến cuối năm nhằm thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế, hỗ trợ đạt mục tiêu tăng trưởng GDP. Đồng thời, các ngân hàng cũng nỗ lực bảo vệ biên lãi thuần. "Theo đó, chúng tôi dự báo lãi suất tiền gửi 12 tháng bình quân của khối ngân hàng thương mại lớn sẽ duy trì quanh mức 4,7% vào cuối năm 2025" - MBS dự báo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18452
CAD 17956 18231 18847
CHF 31769 32150 32792
CNY 0 3828 3920
EUR 29262 29482 30557
GBP 33876 34266 35197
HKD 0 3227 3429
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14530 15120
SGD 19751 20033 20610
THB 704 767 820
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26148 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80