Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp

(TBTCO) - Dù lãi suất huy động duy trì ở mức thấp, dòng tiền vẫn tiếp tục chảy mạnh vào hệ thống ngân hàng. Tính đến cuối quý II/2025, tổng tiền gửi tại 27 ngân hàng niêm yết và Agribank đạt hơn 14,1 triệu tỷ đồng; trong đó, có tới 10 nhà băng tăng trưởng trên 10%, chỉ riêng 1 ngân hàng sụt giảm.
aa
Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng Thu nhập ngoài lãi tăng vọt đưa ngân hàng vượt khó thời NIM co hẹp Top các ngân hàng được "chọn mặt gửi tiền" nhiều nhất quý I

Thống kê đến cuối quý II/2025, tổng tiền gửi tại 27 ngân hàng niêm yết và Agribank đạt hơn 14,1 triệu tỷ đồng, tăng 8% so với cuối năm 2024 và 16,6% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng trưởng tích cực, cho thấy dòng tiền tiếp tục chảy mạnh vào hệ thống ngân hàng trong bối cảnh lãi suất tiết kiệm duy trì ở mức thấp.

5 "ông lớn" ngân hàng nắm 58% tiền huy động

Top 5 ngân hàng có quy mô tiền gửi lớn nhất hệ thống vẫn là: BIDV, Agribank, VietinBank, Vietcombank và MB, nhưng thứ hạng có sự thay đổi đáng chú ý so với cùng kỳ.

Top 5 ngân hàng BIDV, Agribank, VietinBank, Vietcombank và MB chiếm ưu thế tuyệt đối khi nắm giữ 58% tổng huy động toàn hệ thống, tương đương hơn 8,2 triệu tỷ đồng từ khách hàng tổ chức và dân cư, tăng 15,5% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy vai trò trụ cột của khối ngân hàng quốc doanh và nhóm ngân hàng tư nhân hàng đầu với nền tảng công nghệ mạnh.

Theo đó, BIDV tiếp tục soán ngôi Agribank, tiếp tục dẫn đầu toàn hệ thống về quy mô tiền gửi với hơn 2,075 triệu tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ và 6,2% so với cuối năm 2024.

Đại diện BIDV cho biết, động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ phân khúc khách hàng bán lẻ. Song song với tăng trưởng quy mô, BIDV không ngừng đổi mới, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, hướng tới mô hình ngân hàng số hiện đại, phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.

Gần đây, ngân hàng ra mắt Smart Banking phiên bản X với giao diện mới, tích hợp loạt tiện ích như quản lý tài chính cá nhân, đầu tư tự động tích hợp giữa tài khoản thanh toán và tài khoản tiết kiệm có kỳ hạn, cá nhân hóa trải nghiệm người dùng... Với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng triển khai BIDV Direct, nền tảng ngân hàng số thế hệ mới, hỗ trợ xác thực đa phương thức và cung cấp hệ sinh thái tài chính thông minh, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành và năng lực cạnh tranh.

gửi tiền nhiều nhất nửa đầu năm 2025
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Agribank giữ vững vị trí thứ 2 với hơn 2,043 triệu tỷ đồng, tăng 11,2% cùng kỳ, thấp hơn mức tăng của BIDV. VietinBank đứng thứ 3 với quy mô tiền gửi gần 1,72 triệu tỷ đồng, tăng 17,3% và là ngân hàng tăng trưởng mạnh nhất trong nhóm “Big 4”. Vietcombank xếp thứ 4 với 1,59 triệu tỷ đồng, tăng 15,4%.

Dù giữ vững thứ hạng, Vietcombank đang bị VietinBank kéo xa khoảng cách, phản ánh sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong nhóm quốc doanh.

MB duy trì vị trí thứ 5 với 783.292 tỷ đồng, tăng mạnh 26,6%, đây cũng là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tiền gửi cao nhất trong top 5. Hiện MB đang phát triển các giải pháp đầu tư số hóa dựa trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn (CASA), với kỳ vọng tạo ra dòng lợi nhuận mới trong vòng 1 - 3 năm tới. Dù vậy, xét về giá trị tuyệt đối, quy mô tiền gửi của MB vẫn ở khoảng cách xa, chỉ bằng khoảng 50% so với ngân hàng liền kề xếp trước.

27/28 nhà băng duy trì đà tăng

Lý giải xu hướng doanh nghiệp, người dân "chọn mặt gửi tiền" tại các nhà băng lớn bất chấp lãi suất thấp hơn mặt bằng chung, theo ông Lê Hoài Ân - Chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngân hàng, hiện nhiều tổng công ty và tập đoàn nhà nước với nguồn tài chính dồi dào thường có xu hướng gửi tiền vào các ngân hàng quốc doanh. Điều này giúp các ngân hàng này tiếp cận được nguồn vốn giá rẻ, ổn định từ cả khu vực doanh nghiệp nhà nước lẫn người dân và duy trì được chi phí vốn rất thấp.

Với tâm lý đề cao sự an toàn, nhiều người dân, đặc biệt là các khách hàng phổ thông, thường tin tưởng lựa chọn ngân hàng nhà nước do đánh giá đây là nơi có độ tin cậy cao, ít rủi ro đổ vỡ.

"Ngay cả khi có nhiều tiền, có hàng triệu USD hay trăm tỷ, họ không quan tâm đến câu chuyện chênh lệch lãi suất 6% hay 7%, mà có tâm lý bảo toàn số đó cho an toàn và uy tín hơn" - ông Ân nhận định.

Ngoài ra, với mạng lưới rộng khắp và hệ sinh thái khách hàng lớn, các ngân hàng này còn thuận lợi trong việc mở tài khoản thanh toán cho các tập đoàn, doanh nghiệp, từ đó cải thiện tỷ lệ CASA. Điều này giúp ngân hàng linh hoạt hơn trong hoạt động tín dụng, có thể lựa chọn khách hàng chất lượng cao để cho vay.

Về sự hoán đổi thứ bậc, một số ngân hàng có sự cải thiện đáng kể về thứ hạng như ABBank (tăng 2 bậc), nhờ tăng trưởng tiền gửi 43,9% cùng kỳ và 35,6% so với cuối năm 2024, đây là mức tăng cao nhất bảng; NCB cũng tăng 2 bậc với mức tăng 20% so với cuối năm 2024. VPBank, một trong những ngân hàng quy mô lớn, cũng tăng 2 bậc trên bảng xếp hạng nhờ mức tăng trưởng tiền gửi ấn tượng 23,7% so với cuối năm 2024.

Bên cạnh đó, NamABank, SHB đều tăng 1 bậc, cho thấy sự cải thiện tốt về huy động vốn. Ngược lại, có 6 ngân hàng bị sụt giảm thứ hạng trong cuộc đua huy động tiền gửi.

gửi tiền nhiều nhất nửa đầu năm 2025
Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp. Ảnh minh hoạ.

10 nhà băng bật tăng trên 10%

Về tốc độ tăng trưởng tiền gửi, có 10 nhà băng tăng trên 10%; dẫn đầu là ABBank với mức tăng vượt trội 35,6%, NamABank (24,4%), VPBank (23,7%), NCB (19,9%), MSB (12,8%)..., cho thấy nỗ lực mở rộng tệp khách hàng và cải thiện sức hút vốn rõ rệt. Ở chiều ngược lại, có 1 ngân hàng sụt giảm tiền gửi 1% so với cuối năm 2024, trái ngược với xu hướng chung.

Tại MSB, tiền gửi không kỳ hạn ghi nhận trên 46.700 tỷ đồng, đưa tỷ lệ CASA trên tổng tiền gửi đạt 26,78%, cho thấy giá trị và tính hiệu quả trong sản phẩm, dịch vụ mà MSB mang đến, gồm sinh lời với lợi suất cao, các sản phẩm thanh toán và gói tài khoản dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), mặt bằng lãi suất vẫn duy trì ở mức thấp, tiếp tục là nguyên nhân khiến tốc độ tăng trưởng huy động chậm hơn so với tín dụng.

"Những ngân hàng có tỷ lệ LDR cao và mục tiêu tăng trưởng tín dụng vượt bình quân ngành như VPBank, HDBank, VIB, MSB được kỳ vọng sẽ đẩy mạnh huy động vốn mạnh hơn so với phần còn lại" - MBS đánh giá.

Lãi suất huy động có xu hướng giảm sau chỉ đạo của Thủ tướng từ giữa tháng 4 và nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm đến cuối năm nhằm thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế, hỗ trợ đạt mục tiêu tăng trưởng GDP. Đồng thời, các ngân hàng cũng nỗ lực bảo vệ biên lãi thuần. "Theo đó, chúng tôi dự báo lãi suất tiền gửi 12 tháng bình quân của khối ngân hàng thương mại lớn sẽ duy trì quanh mức 4,7% vào cuối năm 2025" - MBS dự báo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

(TBTCO) - Thị trường vốn Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, được hỗ trợ bởi triển vọng nâng hạng, sự gia tăng của nhà đầu tư tổ chức và nhu cầu đa dạng hóa sản phẩm đầu tư. Việc nâng hạng không chỉ giúp cải thiện vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận dòng vốn quy mô lớn từ các quỹ đầu tư toàn cầu.
SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) tiếp tục đẩy mạnh hệ sinh thái giải pháp tài chính dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hỗ trợ khách hàng chủ động nguồn vốn, tối ưu dòng tiền, tiết giảm chi phí giao dịch và quản trị rủi ro tỷ giá trong toàn bộ chuỗi thương mại quốc tế.
PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
NL 99.99 13,300 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼100K
Trang sức 99.9 13,560 ▼40K 14,160 ▼40K
Trang sức 99.99 13,570 ▼40K 14,170 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,395 ▲1K 14,252 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,395 ▲1K 14,253 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 139 ▼1250K 142 ▼1277K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 139 ▼1250K 1,421 ▲1279K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,365 ▲1K 141 ▼1268K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,604 ▲99K 139,604 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,111 ▲75K 105,911 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,624 ▼77548K 9,604 ▼86368K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,369 ▲61K 86,169 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,561 ▲58K 82,361 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,153 ▲42K 58,953 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cập nhật: 29/09/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17624 17897 18473
CAD 17771 18045 18662
CHF 30494 30870 31511
CNY 0 3832 3928
EUR 28845 29063 30139
GBP 33579 33967 34899
HKD 0 3180 3382
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14364 14952
SGD 19772 20054 20625
THB 689 752 805
USD (1,2) 25712 0 0
USD (5,10,20) 25751 0 0
USD (50,100) 25779 25793 26159
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,893 28,916 30,289
JPY 160.48 160.77 170.51
GBP 33,755 33,846 35,018
AUD 17,824 17,888 18,564
CAD 17,962 18,020 18,683
CHF 30,754 30,850 31,763
SGD 19,889 19,951 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.63 18.39 20.02
THB 737.62 746.73 799.31
NZD 14,353 14,486 14,919
SEK - 2,554 2,644
DKK - 3,875 4,012
NOK - 2,663 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.98 - 6,716.23
TWD 735.55 - 891.16
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 17780 17880 18810
CAD 17940 18040 19054
CHF 30714 30744 32325
CNY 3814.4 3839.4 3974.6
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28986 29016 30742
GBP 33851 33901 35653
HKD 0 3315 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14452 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19925 20055 20776
THB 0 717.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12000000 12000000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,678 25,798 26,170
USD20 25,648 25,798 26,170
USD1 25,628 25,798 26,170
AUD 17,867 17,967 19,075
EUR 28,865 28,965 30,621
CAD 17,909 18,009 19,313
SGD 20,010 20,160 20,715
JPY 162.14 163.64 170.27
GBP 33,789 33,939 35,286
XAU 13,898,000 0 14,202,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/09/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30