Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

(TBTCO) - Làn sóng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế nóng lên tại mùa đại hội cổ đông ngân hàng năm nay, khi nhiều nhà băng lớn lên kế hoạch thành lập ngân hàng con để mở rộng sang các mảng mới, về thanh toán xuyên biên giới, tài sản số, thị trường vốn quốc tế... Tuy nhiên, để tham gia “sân chơi” này, các ngân hàng phải đáp ứng loạt điều kiện chặt chẽ.
aa
Ngân hàng dự kiến phải vượt nhiều “cửa ải” để hoạt động tại Trung tâm tài chính quốc tế Hai “ông lớn” quốc doanh lên kế hoạch lập ngân hàng con tại Trung tâm tài chính quốc tế Xây trục sản phẩm chiến lược, VIFC-HCMC sẵn sàng đón dòng vốn toàn cầu

Mở rộng “sân chơi” mới về thanh toán xuyên biên giới, tài sản mã hóa, phái sinh

Một xu hướng nổi bật được Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm S&I ghi nhận tại Đại hội đồng cổ đông các ngân hàng là làn sóng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế (VIFC). Theo đó, đã có 7 ngân hàng gồm Vietcombank, MB, HDBank, SHB, LPBank, TPBank và NamABank đưa kế hoạch thành lập công ty con tại VIFC vào nghị quyết Đại hội đồng cổ đông năm 2026, trong khi VietinBank đang trong giai đoạn nghiên cứu.

Loạt ngân hàng lớn đổ bộ Trung tâm Tài chính quốc tế
7 ngân hàng lên kế hoạch thành lập công ty con tại VIFC. Ảnh tư liệu.

Theo đó, Đại hội đồng cổ đông Vietcombank đã thông qua chủ trương thành lập ngân hàng con 100% vốn tại VIFC với vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng. Theo kế hoạch, ngân hàng con này sẽ cung cấp các dịch vụ ngân hàng thương mại và các hoạt động được phép khác theo quy định tại Trung tâm Tài chính quốc tế. Trong đó, tập trung vào các dịch vụ như: mở tài khoản thanh toán và cung ứng dịch vụ thanh toán cho các thành viên VIFC; giao dịch ngoại tệ; cung cấp bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán, thư tín dụng và các hoạt động liên quan nhằm phục vụ đầu tư, thương mại và chuỗi cung ứng xuyên biên giới.

Đồng thời, ngân hàng con của Vietcombank cũng hướng tới cung cấp dịch vụ cho các tổ chức tài chính, fintech, doanh nghiệp công nghệ và nhà đầu tư nước ngoài tham gia VIFC, cùng các sản phẩm, dịch vụ khác phù hợp với điều kiện hoạt động tại Trung tâm Tài chính quốc tế.

“Trong giai đoạn đầu, trọng tâm là thanh toán quốc tế, kết nối ngân hàng - fintech - thị trường vốn và thu xếp nguồn vốn quốc tế, sau đó, từng bước mở rộng sang hệ sinh thái tài chính số theo khung pháp lý phù hợp. Sự hiện diện tại VIFC giúp mở rộng hoạt động quốc tế, khả năng kết nối với các định chế tài chính, nhà đầu tư và đối tác toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo dư địa phát triễn bền vững cho TPBank” - lãnh đạo TPBank kỳ vọng.

Theo kế hoạch định hướng của MB, ngân hàng dự kiến sử dụng vốn chủ sở hữu, với mức không vượt quá 5% vốn điều lệ theo báo cáo tài chính kiểm toán gần nhất, để triển khai các phương án thành lập hoặc mua lại công ty con là ngân hàng thương mại hoặc doanh nghiệp thành viên trong Trung tâm Tài chính quốc tế.

Việc đầu tư sẽ dựa trên năng lực, thế mạnh hợp tác và liên kết của Tập đoàn MB trong các lĩnh vực như chuyển đổi số, thương hiệu và tài chính.

Bên cạnh đó, NamABank cũng sẽ thành lập một ngân hàng thành viên 100% vốn trong nước, hoạt động trong khuôn khổ VIFC nhằm triển khai chiến lược phát triển dài hạn và mở rộng hoạt động tài chính quốc tế. NamABank đang là nhà đầu tư chiến lược tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh.

TPBank cũng nghiên cứu phương án thành lập một ngân hàng thành viên với vốn điều lệ khoảng 3.000 tỷ đồng mang tên TPBank VIFC. TPBank định hướng TPBank VIFC hoạt động theo mô hình ngân hàng thông minh, tập trung vào các mảng chính như: hạ tầng tài chính số và thanh toán xuyên biên giới, từ giải pháp tài chính thương mại và chuỗi cung ứng quốc tế, tài sản số và token hóa; sản phẩm phái sinh, hàng hóa và quản trị rủi ro, đến thị trường vốn và phát hành trái phiếu quốc tế.

“Việc thành lập ngân hàng con 100% vốn tại Trung tâm Tài chính quốc tế, đặt trụ sở chính tại TP. Hồ Chí Minh mang lại những lợi thế cạnh tranh và được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù so với mô hình ngân hàng truyền thống hiện nay” - lãnh đạo TPBank nhấn mạnh.

Muốn lập ngân hàng con tại VIFC, nhà băng phải đáp ứng điều kiện gì?

Ông Phạm Như Ánh - Tổng giám đốc MB cho biết, MB là một thành viên sáng lập của Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh và hiện có đầy đủ điều kiện để thành lập một ngân hàng con trong MB.

“MB đang nghiên cứu và xây dựng một ngân hàng con nằm trong Trung tâm Tài chính quốc tế theo tiêu chuẩn quốc tế, để làm sao kết nối các định chế tài chính quốc tế với Việt Nam nói riêng và kết nối tăng trưởng hệ sinh thái nói chung” - lãnh đạo MB nêu rõ.

Về các cơ chế nhằm tạo điều kiện cho ngân hàng con vận hành thuận lợi tại Trung tâm Tài chính quốc tế, phía MB cho biết hiện vẫn đang nghiên cứu và chưa có phương án đề xuất chi tiết.

Loạt ngân hàng lớn đổ bộ Trung tâm Tài chính quốc tế
Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế. Ảnh minh họa.

Liên quan đến điều kiện cấp phép, Điều 12 Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam (Nghị định 329) nêu rõ điều kiện cấp Giấy phép thành lập ngân hàng thương mại 100% vốn trong nước.

Theo đó, ngân hàng dự kiến thành lập phải có vốn điều lệ tối thiểu tương đương mức vốn pháp định, theo quy định hiện hành là 3.000 tỷ đồng. Cùng với đó, chủ sở hữu là ngân hàng thương mại trong nước đáp ứng hàng loạt điều kiện chặt chẽ về vốn, quản trị, an toàn hoạt động và năng lực tài chính.

Theo đó, ngân hàng mẹ phải đảm bảo giá trị thực của vốn điều lệ tại thời điểm 31/12 của năm trước liền kề năm đề nghị tối thiểu tương đương 2 lần mức vốn pháp định.

Ngoài yêu cầu về vốn, ngân hàng mẹ phải tuân thủ đầy đủ các quy định an toàn hoạt động theo chương VII Luật Các tổ chức tín dụng liên tục trong 12 tháng trước thời điểm đề nghị, liên quan đến giới hạn cấp tín dụng, các tỷ lệ đảm bảo an toàn...

Cùng với đó, có tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm cuối năm liền kề và thời điểm gần nhất trước khi đề nghị không vượt quá 3% hoặc một tỷ lệ khác thấp hơn theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ.

Một điều kiện quan trọng khác là chủ sở hữu phải thuộc nhóm ngân hàng thương mại có quy mô lớn theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước và hoạt động kinh doanh phải có lãi trên cả báo cáo tài chính hợp nhất và riêng lẻ trong 5 năm liên tiếp trước năm đề nghị.

Người quản lý, điều hành và thành viên Ban kiểm soát phải đáp ứng tiêu chuẩn theo Điều 30 của Nghị định 329.

Đáng chú ý, ngân hàng mẹ không được bị xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng trong thời hạn 12 tháng trở về trước tính từ thời điểm đề nghị, liên quan đến tổ chức quản trị, cấp tín dụng, tỷ lệ an toàn, phân loại tài sản, dự phòng rủi ro hay hoạt động ngoại hối... Đồng thời, phải được Ngân hàng Nhà nước xếp hạng A hoặc B theo kết quả xếp hạng gần nhất./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 24/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 10 đồng so với cuối tuần trước; giá USD tại các ngân hàng đồng loạt hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,81 điểm, gần như đi ngang. Dữ liệu PMI cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh, củng cố kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 24/10: Vàng thế giới “thủng” mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/10: Vàng thế giới “thủng” mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Vàng thế giới rơi dưới ngưỡng 4.000 USD/ounce sau một tuần bán tháo mạnh, trong khi đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt giảm.
Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Lãi suất huy động khó tăng trở lại cuối năm 2026 do việc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và room tín dụng sát trần, thậm chí vượt nếu tính thêm số dư mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C). Tuy nhiên, kỳ vọng lãi suất giảm sâu hơn mức chỉ đạo trong năm 2027 là chưa thực tế.
VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

(TBTCO) - Chuẩn bị tài chính là một trong những bước quan trọng để hành trình du học diễn ra suôn sẻ. Bên cạnh việc lựa chọn phương thức chuyển tiền phù hợp, phụ huynh và du học sinh cũng cần quan tâm đến phí giao dịch và tỷ giá ngoại tệ để tối ưu chi phí.
Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đang chuyển từ số hóa sang ứng dụng AI, khai thác dữ liệu để tạo giá trị thực chất, thay vì chỉ khoác “một chiếc áo khoác đẹp”. Tuy nhiên, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lưu ý rủi ro an ninh mạng đi kèm, đòi hỏi các ngân hàng phải trang bị “phao”, đưa khả năng chống chịu số trở thành năng lực cốt lõi.
Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng"

Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng"

(TBTCO) - Hai ngày sau cuộc họp của Ngân hàng Nhà nước, làn sóng giảm lãi suất huy động lan rộng. Khảo sát ngày 21/10 ghi nhận ít nhất 24 ngân hàng hạ lãi suất kỳ hạn 12 tháng, mức giảm sâu nhất tới 0,9 điểm phần trăm. Tuy nhiên, ưu đãi lãi vay được "khoanh vùng", ước chiếm 3 - 5% dư nợ cho vay các ngân hàng, thay vì giảm đại trà.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 141,000
Hà Nội - PNJ 138,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 138,000 141,000
Miền Tây - PNJ 138,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 138,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,170
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,170
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,170
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,720 14,120
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,720 14,120
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,720 14,120
Trang sức 99.9 13,400 14,000
Trang sức 99.99 13,410 14,010
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 14,172
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 14,173
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cập nhật: 25/10/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17640 17913 18499
CAD 17919 18194 18811
CHF 30673 31049 31695
CNY 0 3831 3927
EUR 28318 28534 29617
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3164 3367
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14416 15001
SGD 19669 19950 20531
THB 680 743 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Cập nhật: 25/10/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30