Muốn bỏ trần tín dụng, ngân hàng phải chấp nhận kỷ luật thị trường

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) nhấn mạnh, để thuận lợi khi bỏ trần tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cần chủ động trong điều hành lãi suất, cung tiền và ứng dụng dữ liệu, công nghệ để nhận diện sớm rủi ro. Các ngân hàng cũng phải chấp nhận kỷ luật thị trường khi đưa ra các quyết định sai.
aa
Những "ẩn giấu" sau bước nhảy vọt của tín dụng nửa đầu năm 2025 Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR

PV: Việc Ngân hàng Nhà nước vừa công bố chủ động nâng hạn mức tín dụng cho các tổ chức tín dụng mà không cần đề xuất từ phía ngân hàng đã tác động thế nào đến dòng chảy vốn và khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng trên 8% năm 2025, thưa ông?

TS. Nguyễn Đức Độ: Trước tiên, việc nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2025 và giao hạn mức cho các ngân hàng thương mại trong một lần ngay từ đầu năm, đã tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại chủ động tăng cường hoạt động cho vay.

Các số liệu thống kê cho thấy, quy mô tín dụng của nền kinh tế tính đến ngày 30/6/2025 đạt 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và tăng 19,32% so với cùng kỳ, tức cả hệ thống hoàn thành gần 2/3 hạn mức chỉ trong khoảng nửa thời gian.

Đây là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần đưa GDP trong 6 tháng đầu năm 2025 tăng 7,52% so với cùng kỳ, cao nhất kể từ năm 2011.

Việc nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cùng sự chủ động của các ngân hàng thương mại cũng là nguyên nhân khiến tín dụng bất động sản tính đến ngày 31/5/2025 tăng 36% cùng kỳ. Trong bối cảnh thị trường bất động sản gặp nhiều khó khăn về vốn như vừa qua, việc bổ sung nguồn lực này giúp các doanh nghiệp cơ cấu lại nợ, hoàn thiện các dự án còn dở dang, tạo thêm việc làm cho người lao động, kích cầu các ngành sản xuất như vật liệu xây dựng, sản xuất đồ nội thất…

Nói chung, các tác động của sự điều chỉnh chính sách tín dụng vừa qua tới nền kinh tế nửa đầu năm 2025 là tích cực.

PV: Tăng trưởng tín dụng đang được đẩy mạnh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng có ý kiến lo ngại về rủi ro lạm phát và nợ xấu phát sinh. Ông nhìn nhận thế nào về quan điểm này, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn có xu hướng chảy vào nhiều thị trường tài sản?

TS. Nguyễn Đức Độ: Khi tăng trưởng tín dụng đạt mức cao, việc quan tâm đến các rủi ro về nợ xấu, lạm phát là hoàn toàn cần thiết. Hiện phần vốn tăng thêm chảy khá nhiều vào các thị trường tài sản, nên sức ép đến lạm phát giá cả hàng tiêu dùng chưa lớn.

Còn về nợ xấu, các ngân hàng thương mại cần giám sát chặt chẽ việc doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực được tăng thêm này như thế nào. Nếu tiền được đầu tư vào các dự án có triển vọng, nợ xấu sẽ giảm và ngược lại, nếu tiền được bơm vào các dự án không có triển vọng, nợ xấu sẽ gia tăng. Nói cách khác, rủi ro của việc bơm tiền vào nền kinh tế nói chung và thị trường bất động sản nói riêng phụ thuộc vào việc các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực này hiệu quả hay không.

Tín dụng mới tăng tốc trong thời gian ngắn nên mức độ rủi ro chưa cao. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng cao có thể sẽ gây nên lạm phát và nợ xấu nếu chính sách này được duy trì trong thời gian dài.

Muốn bỏ trần tín dụng, ngân hàng phải chấp nhận kỷ luật thị trường

Bỏ trần tín dụng và "thế lưỡng nan" của Ngân hàng Nhà nước

"Khi bỏ hạn mức tín dụng, các ngân hàng thương mại sẽ đua nhau huy động vốn để cho vay. Lúc này, Ngân hàng Nhà nước rơi vào thế "lưỡng nan". Nếu tăng cung tiền để đáp ứng nhu cầu vốn của các ngân hàng thương mại, lạm phát sẽ gia tăng. Tuy nhiên, nếu Ngân hàng Nhà nước kiểm soát chặt chẽ cung tiền để kiềm chế lạm phát, lãi suất sẽ gia tăng. Một số lĩnh vực như bất động sản có thể chịu được lãi suất cao, nhất là trong chu kỳ giá lên, nhưng nhiều doanh nghiệp sản xuất lại không thể chịu được lãi suất cao do biên lợi nhuận thấp" - TS. Nguyễn Đức Độ.

PV: Liên quan đến chính sách điều hành tín dụng, vừa qua, Ngân hàng Nhà nước được đề nghị nghiên cứu bỏ hạn mức tín dụng. Theo ông, Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng các công cụ nào để kiểm soát các rủi ro về lạm phát, nợ xấu?

TS. Nguyễn Đức Độ: Để kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng và lạm phát, Ngân hàng Nhà nước cần được chủ động trong việc điều hành lãi suất và cung tiền. Chúng ta phải chấp nhận thực tế rằng, lãi suất thấp và tăng trưởng tín dụng cao không thể luôn được duy trì trong thời gian dài.

Đối với việc kiểm soát nợ xấu, về lý thuyết, Ngân hàng Nhà nước có thể dựa vào các tiêu chí đánh giá rủi ro. Tuy nhiên, để sớm phát hiện các rủi ro khi chúng chưa tích tụ, cần có hệ thống thông tin đầy đủ theo thời gian thực, cũng như ứng dụng công nghệ AI trong việc phân tích rủi ro của các khoản vay, của các ngân hàng thương mại cũng như của cả hệ thống.

Đối với các trường hợp vi phạm quy định, cần có các chế tài xử lý nghiêm. Khi bãi bỏ cơ chế hạn mức tín dụng, các ngân hàng thương mại được tự do hơn trong việc ra quyết định, nhưng cũng phải chấp nhận kỷ luật của thị trường khi đưa ra các quyết định sai. Đó mới là cơ chế thị trường đúng nghĩa.

PV: Vậy điều gì khiến Ngân hàng Nhà nước cho đến nay vẫn duy trì biện pháp hành chính này, thưa ông?

TS. Nguyễn Đức Độ: Nhu cầu vốn của nền kinh tế Việt Nam rất lớn, đặc biệt là lĩnh vực bất động sản.

Chính sách hạn mức tín dụng giúp Ngân hàng Nhà nước vừa kiểm soát được cung tiền và lạm phát, vừa duy trì được mặt bằng lãi suất ở mức hợp lý. Thông qua phân bổ hạn mức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cũng có thể tác động đến việc hướng các dòng tiền vào một số lĩnh vực ưu tiên với lãi suất thấp.

Hạn mức tín dụng là một công cụ đơn giản, hiệu quả trong việc kiểm soát rủi ro, đảm bảo ổn định vĩ mô. Tất nhiên, đây là biện pháp hành chính và hạn chế sự linh hoạt của các ngân hàng thương mại trong việc phân bổ nguồn lực.

PV: Xin cảm ơn ông!

Cần lộ trình thận trọng và hệ thống ngân hàng đủ sức chống chịu

Thời điểm thích hợp để Việt Nam có thể bỏ cơ chế hạn mức tín dụng vẫn là một dấu hỏi và điều này phụ thuộc vào nhiều điều kiện. Theo TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Kinh tế - Tài chính, hiện năng lực giữa các ngân hàng thương mại chưa đồng đều, đặc biệt là chất lượng nợ xấu.

"Nếu áp dụng ngay bỏ hạn mức tín dụng, có thể xảy ra tình huống một số ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao và phát triển nhanh, trong khi một số ngân hàng khác gặp khó trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng do bị cạnh tranh. Kết quả có thể là một số ngân hàng ngày càng yếu hơn và đến một lúc nào đó sẽ rơi vào tình trạng phá sản" - ông Độ lưu ý.

Vì thế, TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng, nên đợi đến khi vấn đề nợ xấu được giải quyết cơ bản và hệ thống ngân hàng trở nên vững mạnh hơn.

Còn theo ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, hiện vẫn có một số tổ chức tín dụng không muốn bỏ trần tín dụng, bởi ít nhất họ còn có một “chỗ dựa”, để Ngân hàng Nhà nước kiểm soát, đánh giá các chỉ tiêu, chỉ số, dựa trên đánh giá tỷ lệ nợ xấu để phân bổ chỉ tiêu tín dụng.

Việc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, với bộ đệm vốn và cơ chế giám sát rõ ràng là bước tiến lớn. Trong tương lai, nếu bỏ trần tín dụng, điều quan trọng không nằm ở việc Ngân hàng Nhà nước tự tính toán hay phân bổ như trước, mà là xây dựng một cơ chế minh bạch và kỷ luật nghiêm khắc. Chỉ cần ngân hàng vi phạm có thể bị đưa vào diện cảnh báo sớm.

"Ngân hàng Nhà nước cần lộ trình và có những bước đi hết sức thận trọng, vừa đảm bảo an toàn hệ thống vừa có thể cung ứng vốn cho nền kinh tế và hỗ trợ cho tăng trưởng" - ông Hùng nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

(TBTCO) - Thị trường vốn Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, được hỗ trợ bởi triển vọng nâng hạng, sự gia tăng của nhà đầu tư tổ chức và nhu cầu đa dạng hóa sản phẩm đầu tư. Việc nâng hạng không chỉ giúp cải thiện vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận dòng vốn quy mô lớn từ các quỹ đầu tư toàn cầu.
SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) tiếp tục đẩy mạnh hệ sinh thái giải pháp tài chính dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hỗ trợ khách hàng chủ động nguồn vốn, tối ưu dòng tiền, tiết giảm chi phí giao dịch và quản trị rủi ro tỷ giá trong toàn bộ chuỗi thương mại quốc tế.
PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
NL 99.99 13,300 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼100K
Trang sức 99.9 13,560 ▼40K 14,160 ▼40K
Trang sức 99.99 13,570 ▼40K 14,170 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,395 ▲1K 14,252 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,395 ▲1K 14,253 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 139 ▼1250K 142 ▼1277K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 139 ▼1250K 1,421 ▲1279K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,365 ▲1K 141 ▼1268K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,604 ▲99K 139,604 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,111 ▲75K 105,911 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,624 ▼77548K 9,604 ▼86368K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,369 ▲61K 86,169 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,561 ▲58K 82,361 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,153 ▲42K 58,953 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cập nhật: 29/09/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17624 17897 18473
CAD 17771 18045 18662
CHF 30494 30870 31511
CNY 0 3832 3928
EUR 28845 29063 30139
GBP 33579 33967 34899
HKD 0 3180 3382
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14364 14952
SGD 19772 20054 20625
THB 689 752 805
USD (1,2) 25712 0 0
USD (5,10,20) 25751 0 0
USD (50,100) 25779 25793 26159
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,893 28,916 30,289
JPY 160.48 160.77 170.51
GBP 33,755 33,846 35,018
AUD 17,824 17,888 18,564
CAD 17,962 18,020 18,683
CHF 30,754 30,850 31,763
SGD 19,889 19,951 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.63 18.39 20.02
THB 737.62 746.73 799.31
NZD 14,353 14,486 14,919
SEK - 2,554 2,644
DKK - 3,875 4,012
NOK - 2,663 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.98 - 6,716.23
TWD 735.55 - 891.16
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 17780 17880 18810
CAD 17940 18040 19054
CHF 30714 30744 32325
CNY 3814.4 3839.4 3974.6
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28986 29016 30742
GBP 33851 33901 35653
HKD 0 3315 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14452 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19925 20055 20776
THB 0 717.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12000000 12000000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,678 25,798 26,170
USD20 25,648 25,798 26,170
USD1 25,628 25,798 26,170
AUD 17,867 17,967 19,075
EUR 28,865 28,965 30,621
CAD 17,909 18,009 19,313
SGD 20,010 20,160 20,715
JPY 162.14 163.64 170.27
GBP 33,789 33,939 35,286
XAU 13,898,000 0 14,202,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/09/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30