Muốn bỏ trần tín dụng, ngân hàng phải chấp nhận kỷ luật thị trường

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) nhấn mạnh, để thuận lợi khi bỏ trần tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cần chủ động trong điều hành lãi suất, cung tiền và ứng dụng dữ liệu, công nghệ để nhận diện sớm rủi ro. Các ngân hàng cũng phải chấp nhận kỷ luật thị trường khi đưa ra các quyết định sai.
aa
Những "ẩn giấu" sau bước nhảy vọt của tín dụng nửa đầu năm 2025 Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR

PV: Việc Ngân hàng Nhà nước vừa công bố chủ động nâng hạn mức tín dụng cho các tổ chức tín dụng mà không cần đề xuất từ phía ngân hàng đã tác động thế nào đến dòng chảy vốn và khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng trên 8% năm 2025, thưa ông?

TS. Nguyễn Đức Độ: Trước tiên, việc nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2025 và giao hạn mức cho các ngân hàng thương mại trong một lần ngay từ đầu năm, đã tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại chủ động tăng cường hoạt động cho vay.

Các số liệu thống kê cho thấy, quy mô tín dụng của nền kinh tế tính đến ngày 30/6/2025 đạt 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và tăng 19,32% so với cùng kỳ, tức cả hệ thống hoàn thành gần 2/3 hạn mức chỉ trong khoảng nửa thời gian.

Đây là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần đưa GDP trong 6 tháng đầu năm 2025 tăng 7,52% so với cùng kỳ, cao nhất kể từ năm 2011.

Việc nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cùng sự chủ động của các ngân hàng thương mại cũng là nguyên nhân khiến tín dụng bất động sản tính đến ngày 31/5/2025 tăng 36% cùng kỳ. Trong bối cảnh thị trường bất động sản gặp nhiều khó khăn về vốn như vừa qua, việc bổ sung nguồn lực này giúp các doanh nghiệp cơ cấu lại nợ, hoàn thiện các dự án còn dở dang, tạo thêm việc làm cho người lao động, kích cầu các ngành sản xuất như vật liệu xây dựng, sản xuất đồ nội thất…

Nói chung, các tác động của sự điều chỉnh chính sách tín dụng vừa qua tới nền kinh tế nửa đầu năm 2025 là tích cực.

PV: Tăng trưởng tín dụng đang được đẩy mạnh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng có ý kiến lo ngại về rủi ro lạm phát và nợ xấu phát sinh. Ông nhìn nhận thế nào về quan điểm này, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn có xu hướng chảy vào nhiều thị trường tài sản?

TS. Nguyễn Đức Độ: Khi tăng trưởng tín dụng đạt mức cao, việc quan tâm đến các rủi ro về nợ xấu, lạm phát là hoàn toàn cần thiết. Hiện phần vốn tăng thêm chảy khá nhiều vào các thị trường tài sản, nên sức ép đến lạm phát giá cả hàng tiêu dùng chưa lớn.

Còn về nợ xấu, các ngân hàng thương mại cần giám sát chặt chẽ việc doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực được tăng thêm này như thế nào. Nếu tiền được đầu tư vào các dự án có triển vọng, nợ xấu sẽ giảm và ngược lại, nếu tiền được bơm vào các dự án không có triển vọng, nợ xấu sẽ gia tăng. Nói cách khác, rủi ro của việc bơm tiền vào nền kinh tế nói chung và thị trường bất động sản nói riêng phụ thuộc vào việc các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực này hiệu quả hay không.

Tín dụng mới tăng tốc trong thời gian ngắn nên mức độ rủi ro chưa cao. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng cao có thể sẽ gây nên lạm phát và nợ xấu nếu chính sách này được duy trì trong thời gian dài.

Muốn bỏ trần tín dụng, ngân hàng phải chấp nhận kỷ luật thị trường

Bỏ trần tín dụng và "thế lưỡng nan" của Ngân hàng Nhà nước

"Khi bỏ hạn mức tín dụng, các ngân hàng thương mại sẽ đua nhau huy động vốn để cho vay. Lúc này, Ngân hàng Nhà nước rơi vào thế "lưỡng nan". Nếu tăng cung tiền để đáp ứng nhu cầu vốn của các ngân hàng thương mại, lạm phát sẽ gia tăng. Tuy nhiên, nếu Ngân hàng Nhà nước kiểm soát chặt chẽ cung tiền để kiềm chế lạm phát, lãi suất sẽ gia tăng. Một số lĩnh vực như bất động sản có thể chịu được lãi suất cao, nhất là trong chu kỳ giá lên, nhưng nhiều doanh nghiệp sản xuất lại không thể chịu được lãi suất cao do biên lợi nhuận thấp" - TS. Nguyễn Đức Độ.

PV: Liên quan đến chính sách điều hành tín dụng, vừa qua, Ngân hàng Nhà nước được đề nghị nghiên cứu bỏ hạn mức tín dụng. Theo ông, Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng các công cụ nào để kiểm soát các rủi ro về lạm phát, nợ xấu?

TS. Nguyễn Đức Độ: Để kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng và lạm phát, Ngân hàng Nhà nước cần được chủ động trong việc điều hành lãi suất và cung tiền. Chúng ta phải chấp nhận thực tế rằng, lãi suất thấp và tăng trưởng tín dụng cao không thể luôn được duy trì trong thời gian dài.

Đối với việc kiểm soát nợ xấu, về lý thuyết, Ngân hàng Nhà nước có thể dựa vào các tiêu chí đánh giá rủi ro. Tuy nhiên, để sớm phát hiện các rủi ro khi chúng chưa tích tụ, cần có hệ thống thông tin đầy đủ theo thời gian thực, cũng như ứng dụng công nghệ AI trong việc phân tích rủi ro của các khoản vay, của các ngân hàng thương mại cũng như của cả hệ thống.

Đối với các trường hợp vi phạm quy định, cần có các chế tài xử lý nghiêm. Khi bãi bỏ cơ chế hạn mức tín dụng, các ngân hàng thương mại được tự do hơn trong việc ra quyết định, nhưng cũng phải chấp nhận kỷ luật của thị trường khi đưa ra các quyết định sai. Đó mới là cơ chế thị trường đúng nghĩa.

PV: Vậy điều gì khiến Ngân hàng Nhà nước cho đến nay vẫn duy trì biện pháp hành chính này, thưa ông?

TS. Nguyễn Đức Độ: Nhu cầu vốn của nền kinh tế Việt Nam rất lớn, đặc biệt là lĩnh vực bất động sản.

Chính sách hạn mức tín dụng giúp Ngân hàng Nhà nước vừa kiểm soát được cung tiền và lạm phát, vừa duy trì được mặt bằng lãi suất ở mức hợp lý. Thông qua phân bổ hạn mức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cũng có thể tác động đến việc hướng các dòng tiền vào một số lĩnh vực ưu tiên với lãi suất thấp.

Hạn mức tín dụng là một công cụ đơn giản, hiệu quả trong việc kiểm soát rủi ro, đảm bảo ổn định vĩ mô. Tất nhiên, đây là biện pháp hành chính và hạn chế sự linh hoạt của các ngân hàng thương mại trong việc phân bổ nguồn lực.

PV: Xin cảm ơn ông!

Cần lộ trình thận trọng và hệ thống ngân hàng đủ sức chống chịu

Thời điểm thích hợp để Việt Nam có thể bỏ cơ chế hạn mức tín dụng vẫn là một dấu hỏi và điều này phụ thuộc vào nhiều điều kiện. Theo TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Kinh tế - Tài chính, hiện năng lực giữa các ngân hàng thương mại chưa đồng đều, đặc biệt là chất lượng nợ xấu.

"Nếu áp dụng ngay bỏ hạn mức tín dụng, có thể xảy ra tình huống một số ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao và phát triển nhanh, trong khi một số ngân hàng khác gặp khó trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng do bị cạnh tranh. Kết quả có thể là một số ngân hàng ngày càng yếu hơn và đến một lúc nào đó sẽ rơi vào tình trạng phá sản" - ông Độ lưu ý.

Vì thế, TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng, nên đợi đến khi vấn đề nợ xấu được giải quyết cơ bản và hệ thống ngân hàng trở nên vững mạnh hơn.

Còn theo ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, hiện vẫn có một số tổ chức tín dụng không muốn bỏ trần tín dụng, bởi ít nhất họ còn có một “chỗ dựa”, để Ngân hàng Nhà nước kiểm soát, đánh giá các chỉ tiêu, chỉ số, dựa trên đánh giá tỷ lệ nợ xấu để phân bổ chỉ tiêu tín dụng.

Việc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, với bộ đệm vốn và cơ chế giám sát rõ ràng là bước tiến lớn. Trong tương lai, nếu bỏ trần tín dụng, điều quan trọng không nằm ở việc Ngân hàng Nhà nước tự tính toán hay phân bổ như trước, mà là xây dựng một cơ chế minh bạch và kỷ luật nghiêm khắc. Chỉ cần ngân hàng vi phạm có thể bị đưa vào diện cảnh báo sớm.

"Ngân hàng Nhà nước cần lộ trình và có những bước đi hết sức thận trọng, vừa đảm bảo an toàn hệ thống vừa có thể cung ứng vốn cho nền kinh tế và hỗ trợ cho tăng trưởng" - ông Hùng nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80