Muốn bỏ trần tín dụng, ngân hàng phải chấp nhận kỷ luật thị trường

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) nhấn mạnh, để thuận lợi khi bỏ trần tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cần chủ động trong điều hành lãi suất, cung tiền và ứng dụng dữ liệu, công nghệ để nhận diện sớm rủi ro. Các ngân hàng cũng phải chấp nhận kỷ luật thị trường khi đưa ra các quyết định sai.
aa
Những "ẩn giấu" sau bước nhảy vọt của tín dụng nửa đầu năm 2025 Top các ngân hàng được “chọn mặt gửi tiền” giữa thời lãi suất thấp Nhiều ngân hàng dễ hụt hơi trong lộ trình nâng chuẩn CAR

PV: Việc Ngân hàng Nhà nước vừa công bố chủ động nâng hạn mức tín dụng cho các tổ chức tín dụng mà không cần đề xuất từ phía ngân hàng đã tác động thế nào đến dòng chảy vốn và khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng trên 8% năm 2025, thưa ông?

TS. Nguyễn Đức Độ: Trước tiên, việc nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2025 và giao hạn mức cho các ngân hàng thương mại trong một lần ngay từ đầu năm, đã tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại chủ động tăng cường hoạt động cho vay.

Các số liệu thống kê cho thấy, quy mô tín dụng của nền kinh tế tính đến ngày 30/6/2025 đạt 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và tăng 19,32% so với cùng kỳ, tức cả hệ thống hoàn thành gần 2/3 hạn mức chỉ trong khoảng nửa thời gian.

Đây là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần đưa GDP trong 6 tháng đầu năm 2025 tăng 7,52% so với cùng kỳ, cao nhất kể từ năm 2011.

Việc nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cùng sự chủ động của các ngân hàng thương mại cũng là nguyên nhân khiến tín dụng bất động sản tính đến ngày 31/5/2025 tăng 36% cùng kỳ. Trong bối cảnh thị trường bất động sản gặp nhiều khó khăn về vốn như vừa qua, việc bổ sung nguồn lực này giúp các doanh nghiệp cơ cấu lại nợ, hoàn thiện các dự án còn dở dang, tạo thêm việc làm cho người lao động, kích cầu các ngành sản xuất như vật liệu xây dựng, sản xuất đồ nội thất…

Nói chung, các tác động của sự điều chỉnh chính sách tín dụng vừa qua tới nền kinh tế nửa đầu năm 2025 là tích cực.

PV: Tăng trưởng tín dụng đang được đẩy mạnh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng có ý kiến lo ngại về rủi ro lạm phát và nợ xấu phát sinh. Ông nhìn nhận thế nào về quan điểm này, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn có xu hướng chảy vào nhiều thị trường tài sản?

TS. Nguyễn Đức Độ: Khi tăng trưởng tín dụng đạt mức cao, việc quan tâm đến các rủi ro về nợ xấu, lạm phát là hoàn toàn cần thiết. Hiện phần vốn tăng thêm chảy khá nhiều vào các thị trường tài sản, nên sức ép đến lạm phát giá cả hàng tiêu dùng chưa lớn.

Còn về nợ xấu, các ngân hàng thương mại cần giám sát chặt chẽ việc doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực được tăng thêm này như thế nào. Nếu tiền được đầu tư vào các dự án có triển vọng, nợ xấu sẽ giảm và ngược lại, nếu tiền được bơm vào các dự án không có triển vọng, nợ xấu sẽ gia tăng. Nói cách khác, rủi ro của việc bơm tiền vào nền kinh tế nói chung và thị trường bất động sản nói riêng phụ thuộc vào việc các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực này hiệu quả hay không.

Tín dụng mới tăng tốc trong thời gian ngắn nên mức độ rủi ro chưa cao. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng cao có thể sẽ gây nên lạm phát và nợ xấu nếu chính sách này được duy trì trong thời gian dài.

Muốn bỏ trần tín dụng, ngân hàng phải chấp nhận kỷ luật thị trường

Bỏ trần tín dụng và "thế lưỡng nan" của Ngân hàng Nhà nước

"Khi bỏ hạn mức tín dụng, các ngân hàng thương mại sẽ đua nhau huy động vốn để cho vay. Lúc này, Ngân hàng Nhà nước rơi vào thế "lưỡng nan". Nếu tăng cung tiền để đáp ứng nhu cầu vốn của các ngân hàng thương mại, lạm phát sẽ gia tăng. Tuy nhiên, nếu Ngân hàng Nhà nước kiểm soát chặt chẽ cung tiền để kiềm chế lạm phát, lãi suất sẽ gia tăng. Một số lĩnh vực như bất động sản có thể chịu được lãi suất cao, nhất là trong chu kỳ giá lên, nhưng nhiều doanh nghiệp sản xuất lại không thể chịu được lãi suất cao do biên lợi nhuận thấp" - TS. Nguyễn Đức Độ.

PV: Liên quan đến chính sách điều hành tín dụng, vừa qua, Ngân hàng Nhà nước được đề nghị nghiên cứu bỏ hạn mức tín dụng. Theo ông, Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng các công cụ nào để kiểm soát các rủi ro về lạm phát, nợ xấu?

TS. Nguyễn Đức Độ: Để kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng và lạm phát, Ngân hàng Nhà nước cần được chủ động trong việc điều hành lãi suất và cung tiền. Chúng ta phải chấp nhận thực tế rằng, lãi suất thấp và tăng trưởng tín dụng cao không thể luôn được duy trì trong thời gian dài.

Đối với việc kiểm soát nợ xấu, về lý thuyết, Ngân hàng Nhà nước có thể dựa vào các tiêu chí đánh giá rủi ro. Tuy nhiên, để sớm phát hiện các rủi ro khi chúng chưa tích tụ, cần có hệ thống thông tin đầy đủ theo thời gian thực, cũng như ứng dụng công nghệ AI trong việc phân tích rủi ro của các khoản vay, của các ngân hàng thương mại cũng như của cả hệ thống.

Đối với các trường hợp vi phạm quy định, cần có các chế tài xử lý nghiêm. Khi bãi bỏ cơ chế hạn mức tín dụng, các ngân hàng thương mại được tự do hơn trong việc ra quyết định, nhưng cũng phải chấp nhận kỷ luật của thị trường khi đưa ra các quyết định sai. Đó mới là cơ chế thị trường đúng nghĩa.

PV: Vậy điều gì khiến Ngân hàng Nhà nước cho đến nay vẫn duy trì biện pháp hành chính này, thưa ông?

TS. Nguyễn Đức Độ: Nhu cầu vốn của nền kinh tế Việt Nam rất lớn, đặc biệt là lĩnh vực bất động sản.

Chính sách hạn mức tín dụng giúp Ngân hàng Nhà nước vừa kiểm soát được cung tiền và lạm phát, vừa duy trì được mặt bằng lãi suất ở mức hợp lý. Thông qua phân bổ hạn mức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cũng có thể tác động đến việc hướng các dòng tiền vào một số lĩnh vực ưu tiên với lãi suất thấp.

Hạn mức tín dụng là một công cụ đơn giản, hiệu quả trong việc kiểm soát rủi ro, đảm bảo ổn định vĩ mô. Tất nhiên, đây là biện pháp hành chính và hạn chế sự linh hoạt của các ngân hàng thương mại trong việc phân bổ nguồn lực.

PV: Xin cảm ơn ông!

Cần lộ trình thận trọng và hệ thống ngân hàng đủ sức chống chịu

Thời điểm thích hợp để Việt Nam có thể bỏ cơ chế hạn mức tín dụng vẫn là một dấu hỏi và điều này phụ thuộc vào nhiều điều kiện. Theo TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Kinh tế - Tài chính, hiện năng lực giữa các ngân hàng thương mại chưa đồng đều, đặc biệt là chất lượng nợ xấu.

"Nếu áp dụng ngay bỏ hạn mức tín dụng, có thể xảy ra tình huống một số ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao và phát triển nhanh, trong khi một số ngân hàng khác gặp khó trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng do bị cạnh tranh. Kết quả có thể là một số ngân hàng ngày càng yếu hơn và đến một lúc nào đó sẽ rơi vào tình trạng phá sản" - ông Độ lưu ý.

Vì thế, TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng, nên đợi đến khi vấn đề nợ xấu được giải quyết cơ bản và hệ thống ngân hàng trở nên vững mạnh hơn.

Còn theo ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, hiện vẫn có một số tổ chức tín dụng không muốn bỏ trần tín dụng, bởi ít nhất họ còn có một “chỗ dựa”, để Ngân hàng Nhà nước kiểm soát, đánh giá các chỉ tiêu, chỉ số, dựa trên đánh giá tỷ lệ nợ xấu để phân bổ chỉ tiêu tín dụng.

Việc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, với bộ đệm vốn và cơ chế giám sát rõ ràng là bước tiến lớn. Trong tương lai, nếu bỏ trần tín dụng, điều quan trọng không nằm ở việc Ngân hàng Nhà nước tự tính toán hay phân bổ như trước, mà là xây dựng một cơ chế minh bạch và kỷ luật nghiêm khắc. Chỉ cần ngân hàng vi phạm có thể bị đưa vào diện cảnh báo sớm.

"Ngân hàng Nhà nước cần lộ trình và có những bước đi hết sức thận trọng, vừa đảm bảo an toàn hệ thống vừa có thể cung ứng vốn cho nền kinh tế và hỗ trợ cho tăng trưởng" - ông Hùng nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80